
Phát biểu khai mạc Hội thảo, TS. Nguyễn Anh Phong, Phó Viện trưởng ISPAE cho biết, BĐKH hiện nay không còn là thách thức của riêng một quốc gia hay một khu vực, mà đã trở thành vấn đề toàn cầu, tác động sâu rộng đến mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội và môi trường. Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề bởi BĐKH với các hiện tượng thời tiết cực đoan ngày càng gia tăng. Những tác động này không chỉ gây tổn thất về hạ tầng, sản xuất và sinh kế mà còn làm gia tăng mức độ dễ bị tổn thương của nhiều nhóm xã hội, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em và người nghèo.
Trong quá trình ứng phó với BĐKH, một vấn đề ngày càng được cộng đồng quốc tế cũng như Việt Nam quan tâm đó là vai trò của giới và yêu cầu lồng ghép giới trong xây dựng chính sách, chương trình, kế hoạch, dự án về BĐKH. Thực tế cho thấy, BĐKH không tác động giống nhau đối với tất cả các nhóm xã hội. Phụ nữ, trẻ em gái, người cao tuổi và các nhóm dễ bị tổn thương thường chịu ảnh hưởng nặng nề hơn do hạn chế trong tiếp cận nguồn lực, thông tin, cơ hội kinh tế, khả năng tham gia vào quá trình ra quyết định. Tuy nhiên, phụ nữ cũng chính là lực lượng quan trọng trong quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, duy trì sinh kế và tăng cường khả năng chống chịu của cộng đồng trước thiên tai, BĐKH. Chính vì vậy, việc thúc đẩy bình đẳng, lồng ghép giới trong ứng phó với BĐKH không chỉ là yêu cầu về công bằng xã hội mà còn là giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả của các chính sách khí hậu. Nếu không xem xét đầy đủ khía cạnh giới, các chương trình, dự án có thể chưa phản ánh đúng nhu cầu thực tiễn của cộng đồng, thậm chí làm gia tăng bất bình đẳng và mức độ dễ bị tổn thương của các nhóm yếu thế. Ngược lại, khi phụ nữ được tham gia đầy đủ vào quá trình hoạch định, triển khai chính sách, giải pháp ứng phó với BĐKH sẽ trở nên thực chất, hiệu quả, bền vững hơn.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, ISPAE phối hợp cùng UN Women Việt Nam triển khai hoạt động xây dựng, hỗ trợ thực hiện Hướng dẫn kỹ thuật về lồng ghép giới trong các chương trình, dự án, kế hoạch BĐKH cấp Trung ương và cấp tỉnh. Đây không chỉ là một tài liệu kỹ thuật mà còn là công cụ quan trọng nhằm nâng cao nhận thức, tăng cường năng lực cho các cơ quan quản lý, tổ chức và địa phương trong quá trình xây dựng chính sách khí hậu theo hướng bao trùm, nhạy cảm giới hơn. Phó Viện trưởng tin tưởng, với sự tham gia tích cực của các cơ quan quản lý, tổ chức quốc tế, chuyên gia, nhà khoa học và địa phương, việc lồng ghép giới trong ứng phó với BĐKH sẽ ngày càng được triển khai hiệu quả, góp phần bảo đảm công bằng xã hội, nâng cao khả năng chống chịu của cộng đồng, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.
Bình đẳng và lồng ghép giới trong chính sách khí hậu đang trở thành yêu cầu cấp thiết
Với tham luận “Tổng quan và xu hướng tác động của BĐKH tại Việt Nam”, ông Đặng Quang Thịnh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu BĐKH cho rằng, Việt Nam đang phải đối mặt với hàng loạt tác động nghiêm trọng từ BĐKH trên nhiều lĩnh vực. Nhiệt độ trung bình toàn quốc tăng khoảng 0,89°C, số ngày nắng nóng gia tăng nhanh, trong khi hiện trượng mưa lớn, bão mạnh, hạn hán, xâm nhập mặn cũng diễn biến ngày càng bất thường. Mực nước biển ven biển tăng khoảng 3,6 mm/năm, đe dọa trực tiếp đến các vùng đồng bằng ven biển, nhất là khu vực đồng bằng sông Cửu Long - vựa lúa lớn nhất cả nước. Trước những thách thức đó, Việt Nam đã và đang triển khai nhiều giải pháp quyết liệt nhằm ứng phó với BĐKH. Nhà nước đã từng bước hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật như Luật Bảo vệ môi trường năm 2020; Chiến lược quốc gia về BĐKH đến năm 2050; Kế hoạch thích ứng quốc gia giai đoạn 2021 - 2030. Đồng thời, Việt Nam đã cam kết mạnh mẽ tại các diễn đàn quốc tế về mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, thúc đẩy chuyển đổi năng lượng xanh, phát triển điện gió, điện mặt trời và thí điểm thị trường các-bon. Nhiều chương trình tăng cường khả năng chống chịu cho cộng đồng, phục hồi rừng ngập mặn, phát triển nông nghiệp thích ứng và nâng cao nhận thức xã hội về bảo vệ môi trường cũng đang được triển khai rộng khắp.
Tuy nhiên, cuộc chiến chống BĐKH không chỉ là trách nhiệm của riêng Chính phủ mà cần sự chung tay của toàn xã hội. Từ thay đổi thói quen tiêu dùng, tiết kiệm năng lượng đến bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, giảm phát thải khí nhà kính, mỗi cá nhân đều có thể góp phần vào nỗ lực xây dựng một Việt Nam phát triển xanh, bền vững và thích ứng hiệu quả với BĐKH trong tương lai - ông Đặng Quang Thịnh nhấn mạnh.

Giới thiệu một số chính sách về bình đẳng giới và vấn đề giới trong BĐKH, bà Vũ Đoàn Thảo Ly, Phó Giám đốc Trung tâm nghiên cứu môi trường và cộng đồng thông tin, thực tế cho thấy, BĐKH không tác động đồng đều đến tất cả mọi người mà ảnh hưởng khác nhau giữa nam và nữ do vai trò giới, điều kiện tiếp cận nguồn lực, khả năng tham gia vào quá trình ra quyết định còn nhiều khác biệt. Phụ nữ, đặc biệt ở khu vực nông thôn, miền núi, ven biển hay vùng thường xuyên xảy ra thiên tai, thường là nhóm dễ bị tổn thương hơn bởi họ gắn với trách nhiệm chăm sóc gia đình, bảo đảm nước sinh hoạt, lương thực và sinh kế hằng ngày. Theo UN Women, phụ nữ có mức độ dễ bị tổn thương do BĐKH cao gấp 14 lần nam giới.
Nhận thức rõ điều đó, Việt Nam đã từng bước xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách về bình đẳng giới gắn với ứng phó BĐKH. Hiến pháp năm 2013 khẳng định nam và nữ bình đẳng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm quyền, cơ hội bình đẳng giới, đồng thời nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử về giới. Trên cơ sở đó, Luật Bình đẳng giới năm 2006 yêu cầu lồng ghép vấn đề giới trong xây dựng, thực thi chính sách, tạo cơ hội để phụ nữ tiếp cận thông tin, nguồn tài chính, khoa học công nghệ và các cơ hội phát triển kinh tế.
Bên cạnh đó, nhiều chính sách quan trọng liên quan đến BĐKH cũng đã được lồng ghép yếu tố giới. Chiến lược quốc gia về Bình đẳng giới giai đoạn 2021 - 2030 nhấn mạnh việc tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong quản lý, lãnh đạo; nâng cao khả năng tiếp cận thông tin, chuyển đổi số và hỗ trợ phụ nữ ứng phó với thiên tai, BĐKH. Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 cũng xác định nguyên tắc bảo vệ môi trường phải gắn hài hòa với an sinh xã hội, quyền trẻ em và bình đẳng giới. Đồng thời, Kế hoạch thích ứng quốc gia với BĐKH giai đoạn 2021 - 2030 đã đưa ra nhiều giải pháp nhằm tăng cường khả năng chống chịu của cộng đồng, lồng ghép yếu tố giới trong đánh giá mức độ dễ bị tổn thương và hỗ trợ sinh kế thích ứng cho phụ nữ.
Trong lĩnh vực phòng chống thiên tai, Luật Phòng, chống thiên tai năm 2013 quy định mọi hoạt động ứng phó thiên tai phải bảo đảm nguyên tắc nhân đạo, công bằng, bình đẳng giới; phụ nữ được xác định là nhóm cần ưu tiên hỗ trợ và khuyến khích tham gia lực lượng cộng đồng. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc lồng ghép giới trong chính sách khí hậu tại Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế như thiếu dữ liệu tách biệt giới, thiếu công cụ kỹ thuật, ngân sách giới còn hạn chế và đóng góp của phụ nữ chưa được ghi nhận đầy đủ. Vì vậy, việc tăng cường sự tham gia thực chất của phụ nữ, thúc đẩy tiếp cận bao trùm, bảo đảm tiếng nói của cả nam và nữ trong quá trình hoạch định chính sách sẽ là yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả ứng phó với BĐKH trong tương lai.
Kết quả bước đầu áp dụng Hướng dẫn kỹ thuật về lồng ghép giới và một số kiến nghị, đề xuất
Ông Nguyễn Sỹ Linh, Trưởng ban BĐKH, ISPAE chia sẻ, Tài liệu “Hướng dẫn lồng ghép giới trong Kế hoạch ứng phó với BĐKH cấp tỉnh ở Việt Nam” được biên soạn bởi Trung tâm Thông tin và Dịch vụ nông nghiệp và môi trường (AGREINFOS) thuộc ISPAE, với sự hỗ trợ kỹ thuật của UN Women Việt Nam. Tài liệu cung cấp khung hướng dẫn kỹ thuật thực tiễn theo quy trình 5 bước, 15 hoạt động cụ thể, giúp các cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh tích hợp hiệu quả bình đẳng giới vào quy hoạch ứng phó với BĐKH. Thông qua việc tăng cường sự tham gia, nâng cao năng lực thích ứng, đảm bảo quyền tiếp cận nguồn lực của phụ nữ và các nhóm dễ bị tổn thương, tài liệu góp phần thực hiện đồng thời hai mục tiêu quốc gia: (i) Ứng phó hiệu quả với BĐKH; (ii) Thúc đẩy bình đẳng giới, hướng tới phát triển bền vững và bao trùm.
Tài liệu được chia thành 2 phần chính: Phần 1 - Giới thiệu tổng quan về hướng dẫn, gồm 2 chương (Chương I. Mục đích, phạm vi, đối tượng áp dụng; Chương II. Cở sở khoa học của việc lồng ghép giới trong kế hoạch, chương trình, dự án về BĐKH được trình bày tại 4 tiểu mục: (i) Tổng quan về BĐKH; (ii) Tổng quan về giới và các vấn đề liên quan đến giới; (iii) Mối liên hệ giữa BĐKH và giới; (iv) Lồng ghép giới trong kế hoạch, chương trình; dự án về BĐKH). Phần II - Hướng dẫn lồng ghép giới trong kế hoạch ứng phó với BĐKH cấp tỉnh gồm 3 chương (Chương III. Giới thiệu về quy trình lồng ghép; Chương IV. Hướng dẫn thực hiện lồng ghép; Chương V. Tài liệu, thông tin hỗ trợ lồng ghép).
Việc áp dụng hướng dẫn kỹ thuật về lồng ghép giới trong phòng chống thiên tai và thích ứng với BĐKH tại một số địa phương như Lào Cai, TP. Đà Nẵng đã bước đầu mang lại những kết quả tích cực, tạo cơ sở để điều chỉnh chính sách và hành động thực tiễn phù hợp hơn với đặc thù địa phương.
Tại Lào Cai, ngay sau khi sáp nhập, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh đã chủ động phối hợp với ISPAE triển khai chuỗi hoạt động tập huấn, trao đổi chuyên môn. Đáng chú ý là buổi tập huấn ngày 30/5/2025 về “Hướng dẫn kỹ thuật về lồng ghép giới trong kế hoạch ứng phó với BĐKH cấp tỉnh” và buổi trao đổi ngày 10/4/2026 sau sáp nhập. Qua các hoạt động này, nhận thức của cán bộ quản lý và chuyên môn cấp tỉnh, cấp huyện về sự cần thiết của lồng ghép giới đã được nâng cao. Thay vì tiếp cận BĐKH một cách trung tính về giới, nhiều đơn vị đã bắt đầu phân tích sự khác biệt về mức độ tổn thương cũng như năng lực, vai trò của phụ nữ, nam giới, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số trong các kịch bản thiên tai.
Kết quả thể hiện ở việc lồng ghép nội dung giới vào Dự thảo Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH tỉnh Lào Cai giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn 2050 theo Quyết định số 105/KH-UBND ngày 29/9/2025. Kế hoạch đã xác định rõ ưu tiên bảo đảm an toàn, sinh kế cho nhóm dân cư ở vùng có nguy cơ cao, đồng thời đưa ra một số giải pháp cụ thể như: Cải thiện dịch vụ y tế, giáo dục về BĐKH cho phụ nữ, trẻ em, người nghèo; phát triển mô hình sinh kế bền vững có hỗ trợ kỹ thuật và vốn cho phụ nữ dân tộc thiểu số; tăng cường đào tạo, chuyển đổi nghề và bảo hiểm rủi ro cho nhóm yếu thế. Đặc biệt, việc tăng cường vai trò của phụ nữ, thanh thiếu niên trong các hoạt động đánh giá rủi ro dựa vào cộng đồng đã được đưa vào làm nhiệm vụ ưu tiên.

Ở cấp cơ sở, hướng dẫn kỹ thuật đã giúp điều chỉnh cách tổ chức các buổi tập huấn cộng đồng. Trước đây, các lớp tập huấn về vệ sinh môi trường, phòng chống thiên tai thường chỉ có phụ nữ tham gia. Sau khi áp dụng Hướng dẫn, nhiều địa phương đã xây dựng cơ chế lôi kéo nam giới tham gia, từng bước thay đổi quan niệm “việc dọn dẹp, vệ sinh là của phụ nữ”, qua đó tăng tính bền vững, sự đồng thuận trong gia đình và cộng đồng.
Tại Đà Nẵng, thay vì tiếp cận một cách trung tính, địa phương đã chuyển sang phân tích rủi ro, nhu cầu theo giới, độ tuổi, giúp kế hoạch sát thực tế và công bằng hơn với các nhóm dễ bị tổn thương. Kết quả bước đầu ghi nhận ở việc chuẩn hóa quy trình lập kế hoạch theo hướng “thực chất”. Đà Nẵng đã triển khai quy trình 3 bước: Định hướng thông qua họp các bên liên quan, Hội Phụ nữ và đại diện nhóm dễ bị tổn thương; kiện toàn năng lực cán bộ trong phân tích dữ liệu tách biệt giới; lập kế hoạch dựa trên thu thập dữ liệu thực địa, đánh giá rủi ro, lấy ý kiến cộng đồng trước khi ban hành. Lưu ý cốt lõi rút ra là “kế hoạch chỉ hiệu quả khi có sự tham gia thực chất của cộng đồng và dữ liệu chuẩn”. Quy trình này buộc cán bộ không dừng lại ở việc sao chép mẫu, mà phải đánh giá, lồng ghép, lấy ý kiến, hoàn thiện rồi mới ban hành, đảm bảo chính sách đi vào đời sống. Về nội dung, việc sử dụng tài liệu Hướng dẫn đã giúp địa phương phân tích sâu sự khác biệt tác động của thiên tai lên phụ nữ và nam giới. Ở giai đoạn trước thiên tai, Thành phố nhận diện rào cản tiếp cận cảnh báo sớm do hạn chế về công nghệ, ngôn ngữ, khả năng di chuyển… với phụ nữ cao tuổi, người khuyết tật, đồng bào di cư. Trong thiên tai, rủi ro tại các điểm tránh trú như thiếu riêng tư, an ninh, dịch vụ y tế đặc thù, gánh nặng chăm sóc người yếu thế được đưa vào đánh giá để bố trí khu vực phù hợp. Sau thiên tai, vấn đề mất sinh kế, gánh nặng gia tăng, nguy cơ bạo lực gia đình và khó tiếp cận nguồn lực phục hồi được ưu tiên lồng ghép vào các chương trình hỗ trợ.
Phân tích theo lĩnh vực cho thấy sự thay đổi rõ rệt. Ở lĩnh vực sinh kế, phụ nữ Đà Nẵng chiếm đa số trong lực lượng chăm sóc và kinh tế phi chính thức. Khi thiên tai xảy ra, công việc chăm sóc không công tăng mạnh, khiến họ rơi vào tình trạng “nghèo nàn về thời gian” và mất cơ hội tham gia thị trường lao động có lương. Vì vậy, các phương án hỗ trợ đã điều chỉnh theo hướng ưu tiên đào tạo nghề, hỗ trợ vốn nhỏ, kết nối việc làm linh hoạt cho nhóm này. Với nam giới làm trong công nghiệp, xây dựng, khai thác xa bờ, kế hoạch chú trọng giải pháp giảm gián đoạn sản xuất và bảo hiểm rủi ro thu nhập. Trong lĩnh vực an toàn, số liệu cho thấy phụ nữ có tỷ lệ tử vong và bị thương cao hơn do đảm nhiệm vai trò ứng phó khẩn cấp, bảo vệ tài sản. Nam giới đối mặt nguy cơ tại các điểm sơ tán thiếu không gian riêng và chiếu sáng kém, đồng thời bạo lực gia đình có xu hướng gia tăng khi kinh tế gia đình căng thẳng sau thiên tai. Từ đó, Đà Nẵng đã lồng ghép yêu cầu thiết kế điểm tránh trú an toàn, có khu riêng cho phụ nữ, trẻ em và cơ chế can thiệp sớm về phòng chống bạo lực giới. Dù còn thách thức về nguồn lực và định mức kỹ thuật, việc áp dụng hướng dẫn đã giúp Đà Nẵng chuyển từ “lập kế hoạch cho mọi người” sang “lập kế hoạch cho từng nhóm người cụ thể”. Đây là bước đệm quan trọng để Thành phố nâng cao hiệu quả phòng chống thiên tai, đảm bảo mục tiêu không để ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình thích ứng với BĐKH.
Trong phần thảo luận, các đại biểu tham dự Hội thảo đã tập trung chia sẻ, trao đổi về cách thức áp dụng tài liệu Hướng dẫn ở địa phương. Các đại biểu cho rằng, việc phân tích giới trong đánh giá tác động khí hậu hiện nay còn hạn chế, chưa phản ánh đầy đủ sự khác biệt về mức độ dễ bị tổn thương, khả năng thích ứng giữa nam và nữ; dữ liệu phân tách theo giới phục vụ cho công tác lập kế hoạch còn thiếu, chưa đồng bộ, gây khó khăn cho việc xây dựng chính sách phù hợp; năng lực của đội ngũ cán bộ địa phương trong việc tích hợp giới vào quy hoạch và kế hoạch ứng phó biến đổi khí hậu còn chưa đồng đều; nguồn lực tài chính dành riêng cho các hoạt động lồng ghép giới còn thiếu, trong khi sự phối hợp liên ngành chưa thực sự hiệu quả… Do đó, cần hoàn thiện khung chính sách và hướng dẫn cụ thể về lồng ghép giới trong lập, thực hiện kế hoạch ứng phó với BĐKH, trong đó quy định rõ trách nhiệm của từng sở, ngành và chính quyền địa phương. Mặt khác, việc lồng ghép giới cần được cụ thể hóa bằng các mục tiêu, chỉ tiêu, chỉ số đánh giá có phân tách theo giới, thay vì chỉ dừng ở định hướng chung. Bên cạnh đó, tập trung xây dựng, hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu có phân tách theo giới liên quan đến BĐKH, sinh kế, việc làm và mức độ dễ bị tổn thương, tạo cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách; tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ thông qua đào tạo, tập huấn về phân tích giới, lập kế hoạch có lồng ghép giới và đánh giá tác động khí hậu theo góc độ giới; bố trí nguồn lực tài chính riêng hoặc ưu tiên ngân sách cho các hoạt động lồng ghép giới trong ứng phó với BĐKH; huy động sự tham gia của các tổ chức quốc tế, tổ chức xã hội và khu vực tư nhân. Ngoài ra, đẩy mạnh phối hợp liên ngành giữa các lĩnh vực như nông nghiệp, môi trường, công thương, xây dựng, lao động - xã hội và các bên liên quan như tổ chức chính trị xã hội, hiệp hội, doanh nghiệp để đảm bảo triển khai đồng bộ, hiệu quả; thúc đẩy sự tham gia thực chất của phụ nữ, nhất là phụ nữ dân tộc thiểu số và nhóm dễ bị tổn thương trong quá trình xây dựng, thực hiện, giám sát các kế hoạch ứng phó với BĐKH; chú trọng công tác truyền thông, nâng cao nhận thức cộng đồng về bình đẳng giới gắn với BĐKH…