Góp ý Dự thảo Nghị định về phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững

Ngày 5/6/2026, tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tổ chức Hội thảo tham vấn ý kiến Dự thảo Nghị định về phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững, thay thế Nghị định số 98/2018/NĐ-CP. Tham dự Hội thảo có đại diện các Bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức quốc tế và chuyên gia, nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý cho liên kết sản xuất nông nghiệp trong giai đoạn mới.

Phát biểu khai mạc Hội thảo, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng nhấn mạnh, nông nghiệp Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng tăng trưởng, hiệu quả, sức cạnh tranh và tính bền vững. Các thị trường hiện nay không chỉ yêu cầu sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng mà còn đòi hỏi truy xuất nguồn gốc, minh bạch chuỗi cung ứng, giảm phát thải, đáp ứng các tiêu chuẩn xanh. Trong bối cảnh đó, cạnh tranh không còn là câu chuyện của từng hộ sản xuất hay từng doanh nghiệp riêng lẻ mà là cạnh tranh của cả chuỗi giá trị, từ vùng nguyên liệu, chế biến, logistics đến tiêu thụ và xây dựng thương hiệu.

image001-1780738112.png
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng phát biểu khai mạc Hội thảo

Theo Thứ trưởng, phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp không chỉ là một giải pháp, mà đã trở thành yêu cầu tất yếu để thực hiện mục tiêu phát triển nền nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh; đồng thời hiện thực hóa định hướng chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp. Nghị định 98/2018/NĐ-CP về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp sau 6 năm triển khai đã tạo khuôn khổ pháp lý ban đầu cho hợp tác, liên kết trong sản xuất, tiêu thụ nông sản. Tuy nhiên, nhiều mô hình liên kết vẫn thiếu bền vững, quy mô nhỏ lẻ, vi phạm cam kết hợp đồng, năng lực của một số hợp tác xã còn hạn chế và doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp vẫn đối mặt với không ít rủi ro… Từ thực tế đó, Dự thảo Nghị định mới được xây dựng với quan điểm chuyển mạnh từ tư duy hỗ trợ sản xuất sang tư duy phát triển kinh tế nông nghiệp; từ hỗ trợ đơn lẻ sang kiến tạo hệ sinh thái liên kết chuỗi giá trị; từ liên kết ngắn hạn sang hợp tác dài hạn trên cơ sở hài hòa lợi ích và chia sẻ trách nhiệm giữa các chủ thể.
Để đảm bảo Dự thảo Nghị định phát huy hiệu quả cao sau khi được ban hành, Thứ trưởng đặc biệt lưu ý 4 trọng tâm lớn: (i) Phát triển vùng nguyên liệu tập trung, đạt chuẩn, bởi nếu không có vùng nguyên liệu ổn định thì rất khó nói đến chế biến sâu hay xuất khẩu bền vững; (ii) Phát triển hạ tầng phục vụ chuỗi giá trị, nhất là sơ chế, bảo quản, logistics, dữ liệu vùng nguyên liệu và truy xuất nguồn gốc; (iii) Chuyển đổi số và quản trị chuỗi giá trị, bởi trong tương lai, cạnh tranh sẽ không chỉ là sản phẩm tốt hơn mà còn là chuỗi minh bạch hơn, quản trị tốt hơn; (iv) Nâng cao năng lực của hợp tác xã và các chủ thể liên kết, đặc biệt là năng lực quản trị, tổ chức sản xuất, quản trị hợp đồng và tiếp cận thị trường. Thứ trưởng cũng nhấn mạnh, thiết kế chính sách cần bảo đảm tính mở, phù hợp với nhiều mô hình liên kết khác nhau; phát huy vai trò của doanh nghiệp dẫn dắt, hợp tác xã trung tâm, các tổ chức dịch vụ, logistics, thương mại và tác nhân khác trong chuỗi giá trị. Tinh thần là không hành chính hóa mô hình liên kết, nhưng phải định hướng để liên kết vận hành minh bạch, hiệu quả và bảo đảm lợi ích hài hòa của người sản xuất.
Ông Lê Đức Thịnh, Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho rằng, các chính sách hỗ trợ quy định tại Nghị định 98/2018/NĐ-CP chủ yếu tập trung vào một số nội dung như: Tư vấn xây dựng liên kết, hỗ trợ hạ tầng, khuyến nông, đào tạo, hỗ trợ giống và vật tư. Tuy nhiên, phạm vi và cách thức hỗ trợ còn bộc lộ một số hạn chế, chưa bao quát đầy đủ các khâu của chuỗi giá trị, đặc biệt là vùng nguyên liệu, logistics, thị trường, chuyển đổi số; thiếu chính sách mới đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp hiện đại như chuyển đổi xanh, giảm phát thải, truy xuất nguồn gốc, dữ liệu số; thiếu tính liên thông, lồng ghép với các chính sách liên quan (Luật Hợp tác xã năm 2023; Nghị định số 113/2024/NĐ-CP, các chương trình mục tiêu quốc gia…); cách thức hỗ trợ còn mang tính dàn trải, chưa gắn chặt với hiệu quả và kết quả của chuỗi liên kết.
Vì vậy, cần sửa đổi toàn diện chính sách hỗ trợ theo các nguyên tắc chủ đạo: Chuyển từ hỗ trợ đơn lẻ sang hỗ trợ theo chuỗi giá trị, gắn với toàn bộ quá trình từ sản xuất đến tiêu thụ; lấy hiệu quả, kết quả đầu ra làm căn cứ hỗ trợ, tăng cường cơ chế hậu kiểm; ưu tiên phát triển vùng nguyên liệu, chủ thể trung tâm và các chuỗi quy mô lớn, bền vững; bảo đảm lồng ghép, đồng bộ với chính sách hiện hành, nhất là chính sách phát triển hợp tác xã và các chương trình mục tiêu quốc gia; tăng cường phân cấp cho địa phương, đồng thời nâng cao trách nhiệm trong tổ chức thực hiện và giám sát. Theo đó, hệ thống chính sách được cơ cấu lại thành 5 nhóm, gồm: Hỗ trợ tư vấn và tổ chức liên kết; hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu và tổ chức sản xuất; hỗ trợ hạ tầng phục vụ chuỗi giá trị; hỗ trợ nâng cao năng lực và phát triển thị trường; hỗ trợ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và quản trị chuỗi.
Trong phần trao đổi, thảo luận, đại diện một số doanh nghiệp cho rằng, Dự thảo nghị định cần có cơ chế hỗ trợ phù hợp đối với các mô hình liên kết khép kín, nơi hợp tác xã hoặc doanh nghiệp chủ động từ khâu giống, sản xuất, chế biến đến tiêu thụ và xuất khẩu. Trong khi đó, một số địa phương kiến nghị Dự thảo cần quy định rõ nguồn vốn thực hiện từ ngân sách địa phương, các chương trình mục tiêu quốc gia, nguồn lực hợp pháp khác để tạo cơ sở pháp lý cho địa phương tham mưu, bố trí ngân sách và tổ chức thực hiện hiệu quả…

image004-1780738529.jpg
Quang cảnh Hội thảo

Ông Đỗ Tấn Sơn, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Tuyên Quang chia sẻ, địa phương đang khó khăn về nguồn lực thực hiện, do đó Dự thảo cần quy định rõ nguồn vốn thực hiện từ ngân sách địa phương, các chương trình mục tiêu quốc gia và nguồn lực hợp pháp khác, nhằm để tạo cơ sở pháp lý cho địa phương tham mưu, bố trí ngân sách, tổ chức thực hiện hiệu quả.
Trong khi đó, bà Nguyễn Việt Chinh, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Nông nghiệp sạch hữu cơ Toàn Cầu nêu ý kiến: Một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là tính ràng buộc trong các hợp đồng liên kết còn hạn chế, dẫn đến tình trạng vi phạm cam kết giữa các bên khi giá thị trường biến động. Từ thực tiễn triển khai các dự án nông nghiệp quy mô lớn, doanh nghiệp thường gặp khó trong việc duy trì liên kết ổn định với nông dân nếu thiếu cơ chế bảo đảm thực thi hợp đồng. Mặt khác, nhiều doanh nghiệp đã đầu tư lớn vào vùng nguyên liệu, công nghệ, hạ tầng sản xuất nhưng vẫn khó tiếp cận nguồn vốn do thiếu tài sản thế chấp theo quy định hiện hành. Trong khi đó, các tài sản số, dữ liệu vùng trồng hay giá trị tín chỉ các-bon vẫn chưa được công nhận đầy đủ trong hoạt động tín dụng... Vì vậy, bà đề xuất Dự thảo Nghị định cần khuyến khích ứng dụng công nghệ số và hợp đồng thông minh để tự động hóa quá trình thanh toán, phân chia lợi ích, qua đó nâng cao tính minh bạch, giảm rủi ro cho các bên tham gia chuỗi liên kết. Đồng thời, cần mở rộng khái niệm tài sản bảo đảm, cho phép xem xét các hợp đồng liên kết số, cơ sở dữ liệu sản xuất đã xác thực hoặc giá trị thương mại của tín chỉ các-bon như một nguồn lực hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn phục vụ phát triển chuỗi giá trị.
Những góp ý tại Hội thảo cho thấy kỳ vọng rất lớn vào một nghị định mới không chỉ thay thế Nghị định số 98/2018/NĐ-CP về mặt kỹ thuật, mà còn tạo ra cú hích thể chế để hình thành những chuỗi giá trị nông nghiệp hiện đại, có khả năng cạnh tranh cao và thích ứng với yêu cầu phát triển xanh trong giai đoạn mới. Qua đó, tạo lập một nền tảng thể chế hiện đại, đủ mạnh để tổ chức lại sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị, giúp nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp có thể liên kết thực chất, ổn định, cùng chia sẻ lợi ích và phát triển bền vững.

Sau hơn 6 năm triển khai, Nghị định số 98/2018/NĐ-CP đã góp phần thúc đẩy các mô hình hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản, tạo điều kiện để doanh nghiệp, hợp tác xã, người dân từng bước gắn kết với thị trường. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy nhiều hạn chế như liên kết thiếu bền vững, quy mô sản xuất còn manh mún, chưa hình thành được các vùng nguyên liệu tập trung đáp ứng yêu cầu của chế biến và xuất khẩu. Bên cạnh đó, các yêu cầu mới về truy xuất nguồn gốc, chuyển đổi số, phát triển xanh và giảm phát thải khí nhà kính chưa được thể chế hóa đầy đủ.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã xây dựng Dự thảo Nghị định về phát triển liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững theo hướng đổi mới toàn diện cả về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng và công cụ chính sách. Điểm nổi bật của Dự thảo là chuyển từ cách tiếp cận hỗ trợ liên kết sản xuất, tiêu thụ đơn thuần sang phát triển toàn diện hệ sinh thái chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững. Theo đó, phạm vi điều chỉnh không chỉ dừng ở khâu sản xuất và tiêu thụ mà bao trùm toàn bộ chuỗi giá trị, từ cung ứng vật tư đầu vào, tổ chức sản xuất, phát triển vùng nguyên liệu, thu mua, sơ chế, chế biến, bảo quản, logistics đến tiêu thụ sản phẩm. Các nội dung mới như quản trị dữ liệu chuỗi giá trị, truy xuất nguồn gốc, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính được tích hợp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của nền nông nghiệp hiện đại.
Một trong những nội dung đáng chú ý là việc lần đầu tiên quy định tương đối đầy đủ về phát triển vùng nguyên liệu nông nghiệp trong một nghị định chuyên ngành. Dự thảo xác định vùng nguyên liệu phải được tổ chức trên cơ sở liên kết thực chất giữa các chủ thể tham gia chuỗi giá trị, áp dụng quy trình sản xuất thống nhất, bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng và truy xuất nguồn gốc. Đây được xem là nền tảng quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam, nhất là tại các thị trường xuất khẩu có yêu cầu khắt khe. Dự thảo cũng xác định rõ vai trò của hợp tác xã và doanh nghiệp là chủ thể nòng cốt trong chuỗi giá trị. Trong đó, hợp tác xã giữ vai trò tập hợp nông dân, tổ chức sản xuất và phát triển vùng nguyên liệu; doanh nghiệp đóng vai trò dẫn dắt thị trường, đầu tư chế biến, logistics và tiêu thụ sản phẩm. Cùng với đó là sự tham gia của các tổ chức tín dụng, bảo hiểm, khoa học công nghệ và dịch vụ hỗ trợ nhằm hình thành hệ sinh thái liên kết đồng bộ.
Nhằm nâng cao tính ổn định của các chuỗi liên kết, Dự thảo bổ sung nhiều quy định về hợp đồng liên kết, cơ chế chia sẻ lợi ích và rủi ro, bảo hiểm nông nghiệp và phương thức xác định giá linh hoạt theo tín hiệu thị trường. Đây được xem là giải pháp quan trọng để hạn chế tình trạng phá vỡ hợp đồng, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất. Đáng chú ý, hệ thống chính sách hỗ trợ cũng được thiết kế lại theo hướng toàn diện hơn, bao gồm hỗ trợ tư vấn phát triển liên kết; đầu tư hạ tầng và cơ giới hóa; phát triển sản xuất, thị trường; ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; cũng như hỗ trợ tài chính và quản lý rủi ro. Các chính sách được định hướng ưu tiên cho vùng nguyên liệu lớn, sản phẩm chủ lực, địa bàn khó khăn, mô hình phát triển nông nghiệp xanh, phát thải thấp. Ngoài ra, Dự thảo đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo hướng phân cấp mạnh cho địa phương, đơn giản hóa hồ sơ, điện tử hóa quy trình xử lý và tăng cường hậu kiểm. Đồng thời, hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về liên kết chuỗi giá trị và vùng nguyên liệu sẽ được xây dựng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát và hỗ trợ các chủ thể tham gia liên kết.
Việc xây dựng Nghị định mới không chỉ nhằm thay thế Nghị định số 98/2018/NĐ-CP mà còn tạo nền tảng thể chế cho quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng của ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại, xanh và bền vững. Khi được ban hành, Nghị định được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao giá trị gia tăng của nông sản, tăng thu nhập cho người dân, thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn và thực hiện các cam kết quốc gia về tăng trưởng xanh, giảm phát thải khí nhà kính trong giai đoạn tới.

Gia Linh

Đặt mua Tạp chí Môi trường