“Tam nông” được coi là công cuộc cho hiện tại, đồng thời mang tính chiến lược lâu dài, gắn liền với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Các Văn kiện và Nghị quyết về tam nông của Đại hội Đảng lần thứ XIV không chỉ kế thừa Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, mà còn nâng tầm Nghị quyết số 19-NQ/TW lên thành “bệ phóng chiến lược”, với những tư duy mang tính “khai phóng” mạnh mẽ để hiện thực hóa các mục tiêu đầy khát vọng nhưng cũng rất thực tế đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045 của nhân dân, đất nước.
1. Tam nông trong kỷ nguyên phát triển mới: Tầm nhìn Đại hội
Đại hội lần thứ XIV của Đảng không chỉ là một sự kiện chính trị, mà còn là “điểm hội tụ lịch sử” của Tầm nhìn - Khát vọng - Hành động. Đối với tam nông, đây là cuộc cách mạng thay đổi về chất, chuyển tư duy từ “giữ ổn định” sang tư duy “động lực phát triển” để biến nông nghiệp thành lợi thế quốc gia.
Thể chế: Đột phá của đột phá
Trước khi bàn luận đến vấn đề lựa chọn giống cây và con, cách thức đóng gói bao bì sản phẩm, thị trường đầu ra… Đại hội lần thứ XIV của Đảng đã giải quyết được vấn đề gốc rễ là thể chế, thể hiện rõ qua tư tưởng chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm: “Thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn, đồng thời cũng là đột phá của đột phá”. Để khơi thông “điểm nghẽn của điểm nghẽn” và nguồn lực cho “đột phá của đột phá”, trước đó hàng loạt Nghị quyết đóng vai trò kiến tạo, dẫn dắt, xây “đường băng” cho kinh tế - xã hội nói chung, tam nông nói riêng đã được Bộ Chính trị ban hành trước “ngưỡng cửa” Đại hội, tiêu biểu như Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/1/2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Điểm đột phá đầu tiên trong thể chế thể hiện qua việc hợp nhất giữa Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn với Bộ Tài nguyên và Môi trường, là “nốt nhấn” của lịch sử, một bước đi táo bạo, đúng xu thế. Mặc dù việc hợp nhất hai Bộ thành Bộ Nông nghiệp và Môi trường diễn ra về mặt hành chính từ tháng 3/2025, nhưng Văn kiện Đại hội XIV đã khẳng định đường lối chiến lược của mô hình mới này, không chỉ là phép cộng cơ học về hành chính, mà về bản chất, đó là sự thống nhất quản lý giữa “Tư liệu sản xuất” (đất, nước, tài nguyên sinh học) và “không gian sinh tồn” (môi trường, khí hậu); chấm dứt tình trạng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, tạo tiền đề cho phát triển nền nông nghiệp xanh.
Triết lý phát triển: Chuyển dịch hệ giá trị
Đại hội XIV khẳng định sự chuyển dịch mang tính triết lý phát triển mới, đánh dấu sự chấm dứt của kỷ nguyên “sản lượng” để bước sang kỷ nguyên “giá trị”, thể hiện qua: (i) Từ “sản xuất” sang “kinh tế”: Không đo lường thành công bằng tấn lúa/ha mà bằng lợi nhuận/ha và chất lượng sống của cư dân nông thôn; (ii) Chuyển đổi kép, thể hiện qua tư duy “xanh hóa”, biến nông nghiệp từ tác nhân gây ô nhiễm, phát thải khí nhà kính (KNK) thành bể hấp thụ các-bon (bán tín chỉ các-bon) và “số hóa”, biến nông nghiệp “mù mờ” thông tin thành nông nghiệp minh bạch dữ liệu.
Cuộc Cách mạng về tư duy
Văn kiện lần này không chỉ nhắc lại tên các mục tiêu của Đại hội 13 mà nâng tầm quan điểm chỉ đạo thành một chỉnh thể thống nhất với yêu cầu cao hơn, được coi là “kim chỉ nam” cho mọi hành động.
Từ “sản xuất nông nghiệp” sang “kinh tế nông nghiệp”
Cùng với việc không chạy theo sản lượng (tấn lúa, tấn cá) mà tập trung vào giá trị gia tăng và hiệu quả kinh tế, Đảng còn khẳng định, nông nghiệp không chỉ là trồng trọt, chăn nuôi mà là chuỗi giá trị tích hợp (chế biến, logistics, thương mại, du lịch nông canh, năng lượng mới, thuốc chữa bệnh, nơi chữa lành, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa bản địa…).
Tam nông là “lợi thế quốc gia”, không chỉ là “khu vực yếu thế”
Xóa bỏ tư duy coi nông nghiệp là lĩnh vực cần “cứu trợ”, Đại hội XIV xác định tam nông là trụ đỡ vững chắc của nền kinh tế và là thước đo sự bền vững của quốc gia trước các biến động toàn cầu (an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, chiến tranh thương mại, xung đột địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng…) và hơn thế nữa, nông nghiệp là lợi thế quốc gia, là động lực tăng trưởng mới của đất nước.
2. “Kiềng 3 chân” mới: Sự khai phóng toàn diện
Đại hội XIV tập trung “cởi trói” và giải phóng nguồn lực thông qua mô hình kiềng 3 chân, được coi là Ba trụ cột đột phá: Nông nghiệp sinh thái - Nông thôn hiện đại - Nông dân văn minh. Dưới ánh sáng soi đường của Đại hội XIV, “tam nông” được định nghĩa lại hoàn toàn mới, tạo ra sự khai phóng dựa trên bộ “kiềng 3 chân” này.
2.1. Nông nghiệp sinh thái: Tôn trọng tự nhiên, xanh, hiệu quả cao, làm giàu cho nông dân
Nông nghiệp không chỉ là sản xuất sạch hơn, an toàn hơn mà còn phải là nền nông nghiệp tuần hoàn, giảm phát thải (GPT) (Net-Zero) và đa giá trị (kết hợp du lịch, văn hóa, thực phẩm chức năng, thuốc chữa bệnh, năng lượng tái tạo...). Nông nghiệp không chỉ là “trụ đỡ” khi kinh tế khó khăn, mà được xác định là động lực tăng trưởng quan trọng giúp Việt Nam vươn lên nhóm nước phát triển trên cơ sở xây dựng các chuỗi giá trị nông sản toàn cầu mang thương hiệu Việt Nam (Halal, organic cao cấp...). Đây là sự khai phóng về mô hình sản xuất theo các nhóm sau:
Đa giá trị: Đại hội XIV định hình nông nghiệp không còn là một nền kinh tế đơn ngành mà là nền nông nghiệp tích hợp. Một cánh đồng không chỉ bán lúa, bán rau, bán cá mà còn bán không gian cảnh quan (du lịch), bán tín chỉ các-bon (môi trường) và cung cấp dược liệu có hàm lượng hoạt tính cao (y tế).
“Xanh” và “tuần hoàn”: Chuyển từ khai thác thâm dụng tài nguyên sang bồi bổ tài nguyên, khôi phục các hệ sinh thái nông nghiệp bị suy thoái. Phế phẩm của ngành này là “vàng” cho đầu vào của ngành khác (tận dụng rơm rạ sau thu hoạch để sản xuất nấm rơm, phân bón, năng lượng sinh khối…). Kinh tế tuần hoàn được luật hóa và đang phát triển mạnh mẽ trong thực tiễn.
Thương hiệu quốc gia: Hướng tới thị trường khó tính nhất với các chứng chỉ cao cấp (Halal cho thị trường Hồi giáo, organic cho thị trường Âu - Mỹ), đó không chỉ là lương thực - thực phẩm chất lượng cao, an toàn mà còn chuyển tải văn hóa Việt đến khách hàng toàn cầu.
Net-Zero: Nông nghiệp Việt Nam cam kết GPT, hướng tới bán tín chỉ các-bon từ rừng và lúa nước (tổ chức triển khai Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp, tiếp tục nâng cao độ che phủ rừng là minh chứng cho quyết tâm chính trị này). Đại hội cũng nhấn mạnh phát triển nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu và GPT KNK, hướng tới Net-Zero vào năm 2050. Ví dụ như các mô hình lúa chất lượng cao, phát thải thấp từ Chương trình 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp ở đồng bằng sông Cửu Long đang lan tỏa ra mọi miền của đất nước; ở một số vùng ngoại thành Hà Nội, bà con nông dân còn tiết kiệm chi phí, GPT KNK hơn cả nơi phát nguyên là Đồng bằng sông Cửu Long.
Minh bạch và trách nhiệm: Mỗi sản phẩm nông sản phải mang “hộ chiếu số”, nghĩa là phải được truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng, chỉ dẫn địa lý, chất lượng rõ ràng... để đi ra thế giới.
2.2. Nông thôn hiện đại: Đáng sống - Giữ hồn quê
Quan điểm mới về nông thôn hiện đại thể hiện là sự khai phóng về không gian sống, xóa bỏ tư duy mặc định nông thôn là lạc hậu, không phải là nơi tìm đến mà là chốn rời đi.
Nông thôn mới không phải là bê tông hóa nông thôn: Nông thôn hiện đại không thể chỉ là và cũng không nhất thiết phải là bê tông hóa đường làng, kênh mương, bờ vùng bờ thửa, nhà ở...

Hạ tầng mềm - Làng xã thông minh: Internet kết nối vạn vật (IoT) phủ sóng từng hộ dân, khắp “bờ xôi ruộng mật”, thương mại điện tử về tận ngõ, tiếp cận thị trường toàn cầu. Đó là nông thôn số, nông thôn thông minh, có hạ tầng kết nối đồng bộ, tiệm cận với đô thị, là y tế số và giáo dục trực tuyến, nhưng vẫn giữ gìn được bản sắc văn hóa làng xã và cảnh quan môi trường. Thay đổi chính sách đất đai và đầu tư để nông thôn là “đất lành”, thu hút các tập đoàn công nghệ lớn tìm về đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao, thay vì chỉ dựa vào kinh tế hộ gia đình nhỏ lẻ, manh mún.
Xây dựng nông thôn mới giai đoạn này không chỉ dừng lại ở điện - đường - trường - trạm mà hướng tới không gian sống chất lượng cao, hiện đại, môi trường sống an toàn, là nơi “đáng sống”, là “miền quê yên bình” để thu hút người tài ở lại, người ở phố trở về để khởi nghiệp, lập nghiệp.
Không gian sống: Xây dựng mô hình “làng trong phố, phố trong làng”. Nông thôn trở thành nơi nghỉ dưỡng, nơi chữa lành, thu hút người ở phố về quê sinh sống, lập nghiệp. Nông thôn hiện đại là giữ gìn được bản sắc văn hóa làng quê Việt Nam, mang đậm đà bản sắc văn hóa bản địa của từng dân tộc, từng vùng miền, nhưng có hạ tầng số, hạ tầng kết nối và dịch vụ công tiệm cận đô thị.
2.3. Nông dân văn minh: Trí thức hóa - Chủ thể số
Đại hội XIV đặt người nông dân vào vị trí trung tâm của quá trình phát triển (chủ thể số và xanh), đây là sự chuyển biến mang tính nhân văn, đột phá nhất. Nông dân được đặt vào vị thế mới, với những yêu cầu mới về chất lượng, tạo thành điểm nhấn rất mới về người nông dân, họ không chỉ cần cù mà phải trở thành nông dân số, “nông dân chuyên nghiệp”, “công nhân nông nghiệp” hoặc “doanh nhân nông nghiệp”; có tri thức, kỹ năng quản trị, khả năng làm chủ công nghệ số, đủ phẩm chất, năng lực kết nối trực tiếp với các chuỗi giá trị nông sản trong nước và quốc tế; được trao quyền và “trí thức hóa” để tham gia trực tiếp vào việc phản biện, giám sát chính sách. Mục tiêu của người nông dân thời 4.0 không còn là xóa đói giảm nghèo mà là làm giàu bền vững, được đảm bảo an sinh xã hội (bảo hiểm, y tế, giáo dục) tương đương với cư dân đô thị.
Đây là sự khai phóng về con người - yếu tố quan trọng nhất, vừa là trung tâm, vừa là chủ thể của công cuộc “tam nông”.
Tri thức hóa nông dân - Từ “lão nông” sang “doanh nhân nông nghiệp”: Chuyển đổi từ “người làm nghề nông” theo kinh nghiệm sang “doanh nhân nông nghiệp”, “nông dân số”, có kiến thức quản trị, thị trường và công nghệ. Để đạt được mục tiêu đề ra, Đại hội XIV yêu cầu “trí thức hóa” nông dân, biến họ trở thành những người có kiến thức quản trị dòng tiền, hiểu luật chơi quốc tế và biết dùng Data để nuôi trồng; không còn là đối tượng cần “trợ cấp” mà là đối tác bình đẳng trong chuỗi giá trị.
Quyền làm chủ: Người nông dân không làm thuê trên chính mảnh đất của mình mà tham gia vào các hợp tác xã kiểu mới, trở thành cổ đông của chuỗi giá trị, là lực lượng kiến tạo và dẫn dắt chuỗi giá trị. Họ được trao quyền phản biện chính sách, được tham gia giám sát quy hoạch và mọi quá trình diễn ra trong xã hội nông thôn.
An sinh xã hội: Mục tiêu tối thượng là nông dân được hưởng lương hưu, bảo hiểm y tế và giáo dục ngang bằng với công chức cũng như cư dân đô thị.
3. Những đột phá cụ thể trong Văn kiện Đại hội XIV và mục tiêu chiến lược
| Lĩnh vực | Nghị quyết “khai phóng” |
|---|---|
| Đất đai | Kế thừa Nghị quyết số 18-NQ/TW, Đại hội XIV thúc đẩy thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp, tạo cơ chế linh hoạt để tích tụ, tập trung đất đai cho sản xuất lớn, tháo gỡ điểm nghẽn về hạn điền. |
| Công nghệ | Coi chuyển đổi số là mệnh lệnh, là xu thế không thể đảo ngược; ứng dụng AI, Big Data, Blockchain để dự báo mùa màng, thiên tai và thị trường; xây dựng “bản đồ nông sản số” quốc gia. |
| Tài chính | Tín dụng xanh, bảo hiểm nông nghiệp được đẩy mạnh để chia sẻ rủi ro với nông dân. |
Báo cáo tổng kết ngành Nông nghiệp và Môi trường năm 2025, kế hoạch năm 2026 và các năm tiếp theo đã nêu bật chỉ tiêu chiến lược, quy hoạch đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, có thể tóm tắt như sau:
Lĩnh vực nông nghiệp: Chủ yếu tập trung vào việc triển khai các chiến lược đã được phê duyệt với tầm nhìn dài hạn. Cụ thể, trong chăn nuôi, tiếp tục thực hiện mục tiêu của “Chiến lược phát triển chăn nuôi giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Đối với thủy sản, triển khai các nhiệm vụ thuộc “Chiến lược phát triển thủy sản đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Về lâm nghiệp, triển khai “Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050”. Đồng thời, tham mưu điều chỉnh Quy hoạch lâm nghiệp thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Về diêm nghiệp, triển khai giai đoạn II Đề án phát triển ngành muối và chuẩn bị tổng kết giữa kỳ các mục tiêu đến năm 2030.
Kinh tế biển và hải đảo: Việt Nam là đất nước nông nghiệp, sức mạnh nội sinh là kinh tế nông nghiệp, kinh tế biển và kinh tế du lịch. Đây là lĩnh vực trọng tâm có tầm nhìn cụ thể đến năm 2045.
Chiến lược biển: Thực hiện Nghị quyết về “Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”.
Khai thác tài nguyên: Tổ chức thực hiện “Chiến lược khai thác bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”.
Chương trình trọng điểm: Thực hiện Chương trình trọng điểm điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển, hải đảo đến năm 2030; Chương trình truyền thông về biển và đại dương đến năm 2030.
Tài nguyên và môi trường (đất, nước, khí hậu): Đa số các lĩnh vực tài nguyên và môi trường đều đặt tầm nhìn đến năm 2050 thay vì năm 2045 nhằm đạt được mục tiêu mà Chính phủ Việt Nam đã cam kết trước cộng đồng quốc tế về việc đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Tài nguyên nước: Xây dựng “Chiến lược tài nguyên nước quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050”; Quy hoạch mạng lưới trạm khí tượng thủy văn quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Đất đai: Hoàn thiện nhiệm vụ Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Biến đổi khí hậu: Triển khai Kế hoạch quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050; hướng tới mục tiêu đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050; xây dựng Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) cho giai đoạn 2026 - 2035.
Đa dạng sinh học: Dự kiến trình Quốc hội xem xét, sửa đổi toàn diện Luật Đa dạng sinh học vào năm 2029.
Quan trắc môi trường: Thực hiện Quy hoạch tổng thể quan trắc môi trường quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Phòng chống thiên tai và đê điều: Tổ chức đánh giá kết quả 5 năm thực hiện “Chiến lược quốc gia về phòng, chống thiên tai đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050”; Trình Thủ tướng phê duyệt Kế hoạch phòng, chống thiên tai quốc gia giai đoạn 2026 - 2030; Quy hoạch phòng chống lũ và đê điều hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Phát triển nông thôn và bố trí dân cư (sản phẩm OCOP, du lịch): Phát triển gắn với phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035. Cùng với đó, đặt mục tiêu cụ thể giai đoạn 2026 - 2030 bố trí ổn định 72.988 hộ dân thuộc vùng thiên tai, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, khu vực rừng đặc dụng, di cư tự do.
Đến năm 2030 (Mục tiêu trung hạn - Kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam): Tốc độ tăng trưởng GDP nông - lâm - thủy sản đạt bình quân thấp nhất 3,5%/năm; tốc độ tăng năng suất lao động nông nghiệp bình quân thấp nhất 5,5 - 6%/năm; Việt Nam trở thành một trong những nước có nền nông nghiệp chế biến đứng trong Top 10 thế giới.
Tầm nhìn đến 2045 (Mục tiêu dài hạn - Kỷ niệm 100 năm thành lập nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam): Việt Nam trở thành nước có nền nông nghiệp phát triển hàng đầu thế giới; nông thôn không còn hộ nghèo; đời sống nông dân tiệm cận với mặt bằng chung của cư dân đô thị; nông sản Việt Nam trở thành thương hiệu uy tín toàn cầu về “Xanh - Sạch - Lành - Ngon”.
Thay cho lời kết
Tinh thần Đại hội XIV của Đảng đối với tam nông là một bản giao hưởng của “khát vọng phồn vinh” và “hành động thực tế”. Các Nghị quyết và Văn kiện Đại hội không chỉ vẽ ra bức tranh đẹp mà còn trao cho người nông dân công cụ (cơ chế, công nghệ, vốn) để họ tự vẽ nên bức tranh đó.
Nghị quyết Đại hội XIV về tam nông có thể khái quát qua công thức chiến lược: Tam nông 2030 - 2045 = (Thể chế đột phá + Công nghệ số + Tư duy xanh) x con người trí thức với mô hình 3 trụ cột cũ nhưng ở tầm cao mới, đó là: (i) Nông nghiệp: Sinh thái - minh bạch - trách nhiệm - thông minh; (ii) Nông dân: Trí thức - văn minh - hợp tác - làm chủ; (iii) Nông thôn: Hiện đại - Sáng - Xanh - Sạch - Đẹp - Đáng sống - Nơi bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa đặc sắc của địa phương và dân tộc.
GS.TS.NGND. Trần Đức Viên
Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Học viện Nông nghiệp Việt Nam