1. Bối cảnh, sự ra đời mô hình khu công nghiệp sinh thái ở Việt Nam
Trong hơn ba thập kỷ qua, các khu công nghiệp (KCN) đã trở thành động lực quan trọng của tiến trình công nghiệp hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Đến nay, các KCN đóng góp khoảng 35 - 40% tổng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đăng ký mới hàng năm, tạo việc làm cho hàng triệu lao động và góp phần đáng kể vào tăng trưởng GDP [1]. Tuy nhiên, song hành với những thành tựu về phát triển, mô hình công nghiệp truyền thống cũng đang bộc lộ nhiều hạn chế. Ô nhiễm môi trường, suy giảm tài nguyên, tiêu hao năng lượng và hiệu quả sản xuất thấp đang trở thành những thách thức lớn đối với mục tiêu phát triển bền vững (PTBV) của đất nước.
Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho thấy, trung bình mỗi năm cả nước phát sinh khoảng 23 - 25 triệu tấn chất thải công nghiệp thông thường; 800 nghìn tấn chất thải nguy hại với tốc độ gia tăng nhanh chóng, từ 10 - 12%/năm [2] và hơn 800.000 m3 nước thải công nghiệp ra môi trường [3]. Đối với lĩnh vực năng lượng và phát thải khí nhà kính (KNK), Việt Nam hiện nằm trong nhóm các quốc gia có tốc độ tiêu thụ năng lượng nhanh ở khu vực Đông Á, trong đó lĩnh vực công nghiệp chiếm gần 50% tổng năng lượng sử dụng [4]. Nếu xu hướng này không được kiểm soát, lượng phát thải KNK của Việt Nam đến năm 2030 có thể tăng 3,26 lần so với mức năm 2014. Cụ thể, mức gia tăng từ 284 tấn CO2 tương đương lên 927,9 triệu tấn, riêng lĩnh vực năng lượng phát thải 678,4 triệu tấn, chiếm 73,1% [5]. Trong khi đó, phần lớn doanh nghiệp (DN) tại các KCN là DN vừa và nhỏ (SME), hạn chế về vốn, công nghệ, năng lực kỹ thuật, khiến việc áp dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn (RECP) còn khiêm tốn.
Trên thế giới, mô hình KCN sinh thái (KCNST) hướng tới PTBV đã được triển khai từ những năm 1990 và đạt được nhiều kết quả tích cực. Tại Đan Mạch, KCN Kalundborg là điển hình trong phát triển KCNST khép kín với 20 mạng lưới cộng sinh công nghiệp (CSCN) nội khu, “từ các trao đổi sản phẩm độc lập, dần dần phát triển thành một mạng lưới phức hợp của các tương tác cộng sinh” của các công ty trong khu vực và hệ thống đô thị địa phương [6], [7].
KCNST mang lại nhiều lợi ích từ sự hợp tác chặt chẽ giữa các công ty trong KCN, nhà cung cấp dịch vụ và cộng đồng địa phương, cho phép các bên tận dụng dịch vụ và cơ sở hạ tầng chung. KCNST tăng cường sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên quan trọng trong sản xuất công nghiệp (nước, năng lượng, vật liệu, chất thải...), qua đó giảm đáng kể sự phụ thuộc vào những nguồn tài nguyên dần cạn kiệt như nhiên liệu hóa thạch. Bên cạnh đó, KCNST còn thúc đẩy việc tái chế, tái sử dụng tài nguyên, chất thải cũng như CSCN. Trong KCNST, các nhà đầu tư thứ cấp có thể đạt được mô hình sản xuất có chi phí hiệu quả hơn, có khả năng chống chịu trước trước biến động giá cả và sự khan hiếm tài nguyên. KCNST tích hợp các tiêu chuẩn xã hội, nhằm chủ động giải quyết xung đột tiềm tàng giữa cộng đồng dân cư với KCN, liên quan đến vấn đề xây dựng và phát triển công nghiệp. Ngoài ra, KCNST cũng thực hiện quy hoạch cẩn thận ngay từ đầu để chủ động giải quyết những vấn đề lưu tâm của xã hội như lao động địa phương, nguồn lực từ cộng đồng, hạ tầng xã hội xung quanh về nhà ở và các dịch vụ xã hội rộng hơn. Thực tiễn cùng kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các KCNST tạo ra nhiều lợi ích cả về về kinh tế, môi trường lẫn xã hội. Thực chất lợi ích này có thể vượt xa lợi ích thông thường riêng của DN [8].
KCNST giúp giảm lượng khí thải CO2 từ hoạt động công nghiệp, vì thế, tác động của các ngành công nghiệp đến biến đổi khí hậu (BĐKH) có thể được giảm bớt. Những lợi ích này không dừng lại ở phạm vi DN mà còn có ý nghĩa chiến lược, không chỉ giúp giảm rủi ro trong khai thác tài nguyên hay giảm áp lực lên khí hậu mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy phát triển DN và xây dựng hình ảnh uy tín với đối tác, cộng đồng [8]. Phương pháp tiếp cận KCNST không những giảm thiểu tác động môi trường mà còn thúc đẩy kinh tế bền vững, đồng thời hỗ trợ DN đạt được các mục tiêu về PTBV (SDGs) [8]. Nhờ vậy, mô hình này mở ra giải pháp hiệu quả để các ngành công nghiệp ứng phó với thách thức mang tính toàn cầu của thế kỷ 21 hiện nay, kể cả vấn đề BĐKH và khủng hoảng tài nguyên.
Nhằm giải quyết những thách thức nói trên, từ năm 2014, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính) đã phối hợp cùng Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) triển khai Dự án thí điểm “KCNST hướng tới mô hình KCN bền vững tại Việt Nam”, với sự tài trợ của Quỹ Môi trường Toàn cầu (GEF) và Cục Kinh tế Liên bang Thụy Sỹ (SECO). Dự án thí điểm giai đoạn 2014 - 2019 đã đạt được nhiều thành tựu, kết quả đáng ghi nhận như: Hỗ trợ xây dựng, ban hành quy định về KCNST trong Nghị định số 82/2018/NĐ-CP của Chính phủ - nền tảng pháp lý đầu tiên cho mô hình này, sau đó được kế thừa, mở rộng tại Nghị định số 35/2022/NĐ-CP, giúp DN tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải, đồng thời tăng sức cạnh tranh, nâng cao hình ảnh của Việt Nam trong thu hút đầu tư xanh.

Kế thừa thành quả từ giai đoạn thí điểm, Dự án “Triển khai KCNST tại Việt Nam theo hướng tiếp cận từ Chương trình KCNST toàn cầu” (GEIPP Viet Nam) tiếp tục được khởi động nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - môi trường - xã hội của các ngành công nghiệp thông qua việc triển khai, nhân rộng mô hình KCNST. Dự án được thực hiện tại Hà Nội và 5 địa phương trọng điểm gồm Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Đồng Nai, TP. Hồ Chí Minh. Các KCN thí điểm bao gồm Deep C/Đình Vũ (Hải Phòng), Amata Biên Hòa (Đồng Nai), Hiệp Phước (TP. Hồ Chí Minh), Hòa Khánh (Đà Nẵng), Trà Nóc 1 & 2 (Cần Thơ). Trọng tâm của Dự án là chuyển đổi các KCN hiện hữu sang mô hình KCNST, giúp DN giảm chi phí sản xuất, cải thiện hiệu quả tài nguyên, hướng tới phát triển công nghiệp bền vững.
Sự ra đời của Dự án GEIPP thể hiện cam kết mạnh mẽ của Chính phủ Việt Nam, UNIDO, SECO trong việc thúc đẩy chuyển đổi sang nền công nghiệp xanh, có trách nhiệm và thích ứng với BĐKH. Không chỉ là bước kế thừa từ những thành quả trước đó, GEIPP Việt Nam còn được xem như bước tiến chiến lược góp phần hiện thực hóa cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” (Net-Zero) vào năm 2050, phù hợp với định hướng phát triển xanh, bền vững mà Việt Nam đang kiên định theo đuổi.
2. Một số kết quả trong chuyển đổi mô hình KCNST của Dự án GEIPP Việt Nam
Giai đoạn 2020 - 2024, Dự án GEIPP Việt Nam đã tạo dựng nền tảng vững chắc cho quá trình chuyển đổi sang mô hình KCNST trên cả nước.
Đối với lĩnh vực chính sách, Dự án đã hỗ trợ kỹ thuật cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư hoàn thiện khung pháp lý thông qua quá trình rà soát, cập nhật, xây dựng Nghị định số 35/2022/NĐ-CP, thay thế Nghị định số 82/2018/NĐ-CP. Qua đó, lần đầu tiên, các tiêu chí xác định KCNST, DN sinh thái được quy định rõ ràng, tạo cơ sở pháp lý quan trọng để khuyến khích KCN áp dụng mô hình và được hưởng ưu đãi đầu tư. Hỗ trợ cụ thể bao gồm việc đưa vào các tiêu chuẩn quốc tế (như Khung KCNST toàn cầu của UNIDO, World Bank, GIZ); quy định về cơ chế giám sát và chứng nhận; yêu cầu về thực hành sản xuất sạch hơn, CSCN. Bên cạnh đó, Dự án còn hỗ trợ xây dựng Thông tư số 05/2025/TT-BKHDT hướng dẫn thực hiện Nghị định số 35/2022/NĐ-CP, trong đó, quy trình thủ tục và biểu mẫu đăng ký, báo cáo được chi tiết hóa, làm căn cứ giúp địa phương, chủ đầu tư áp dụng thống nhất, đảm bảo tính minh bạch, hiệu quả.
Để đảm bảo việc thực thi, giám sát yêu cầu, quy định mới được thiết lập về KCNST, Dự án cũng xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) trực tuyến, tích hợp vào Hệ thống Thông tin quốc gia về KCN, khu kinh tế do Bộ Kế hoạch và Đầu tư quản lý. CSDL này có mục tiêu thu thập, xử lý, theo dõi, cung cấp thông tin về các chỉ số hiệu quả KCNST; tiến độ thực hiện biện pháp sản xuất sạch hơn; việc thực hiện CSCN trong KCN; hỗ trợ nhà quản lý đưa ra quyết định dựa trên dữ liệu. Đồng thời, nhằm lan tỏa thông tin, nâng cao nhận thức cho cộng đồng DN, các cơ quan quản lý và tổ chức khác, Dự án cũng triển khai chiến lược truyền thông rộng rãi; xuất bản nhiều báo cáo tóm tắt chính sách, hướng dẫn thực hành; tổ chức hội thảo, diễn đàn, sự kiện… nhằm khuyến khích sự tham gia rộng rãi vào quá trình chuyển đổi sang mô hình KCNST.
Về mặt thực tiễn, Dự án đã triển khai các can thiệp kỹ thuật sâu rộng vào hoạt động của 5 KCN thí điểm, gồm Deep C (Hải Phòng), Amata (Đồng Nai), Hiệp Phước (TP. Hồ Chí Minh), Hòa Khánh (Đà Nẵng), Trà Nóc 1 & 2 (Cần Thơ). Cụ thể, Dự án GEIPP Việt Nam đã tiến hành đánh giá hiện trạng, xác định cơ hội cải thiện, lập kế hoạch triển khai giải pháp RECP, CSCN và đào tạo cho cán bộ quản lý nhà nước, đại diện Ban quản lý KCN, DN. Kết quả, hơn 90 DN được hỗ trợ trực tiếp để áp dụng RECP, với tổng cộng 889 giải pháp được xác định, trong đó 429 giải pháp đã triển khai thành công. Qua đó, mỗi năm, các DN này tiết kiệm được 14.378 MWh điện, 264.127 GJ nhiên liệu hóa thạch, 278.690 m³ nước, tái chế 49.257 tấn vật liệu và 22.180 tấn hóa chất, đồng thời giảm phát thải 138.994 tấn CO₂ tương đương, mang lại 2,6 triệu USD lợi nhuận vận hành, với 3,3 triệu USD vốn đầu tư huy động từ tư nhân. Bên cạnh đó, Dự án cũng phát hiện 62 cơ hội CSCN tiềm năng, trong đó 31 cơ hội được đánh giá tiền khả thi, 18 giải pháp đang triển khai hoặc đã sẵn sàng triển khai, hứa hẹn tiết kiệm đáng kể chi phí, tài nguyên và giảm phát thải cho DN tham gia. Điểm sáng là mô hình hợp tác chia sẻ dịch vụ phòng cháy chữa cháy giữa KCN Deep C và Công an quận Hải An đã chứng minh tính hiệu quả của cộng sinh trong thực tế [9].
Những kết quả ấn tượng này cho thấy Dự án GEIPP Việt Nam đã tạo dựng được một nền tảng vững chắc cho việc nhân rộng mô hình KCNST, bằng cách giúp các nhà hoạch định chính sách xây dựng khung pháp lý phù hợp; trang bị cho cơ quan quản lý và DN những công cụ, kiến thức cần thiết; hỗ trợ kết nối các DN để thực hiện cộng sinh, nâng cao hiệu quả hoạt động. Với sự phối hợp đồng bộ giữa các Bộ, ngành, chính quyền địa phương và khu vực tư nhân, GEIPP Việt Nam đã giúp mô hình KCNST không chỉ còn là ý tưởng mà đang dần trở thành một hướng đi chủ đạo cho quá trình công nghiệp hóa xanh của Việt Nam.
3. Thuận lợi, khó khăn và bài học kinh nghiệm
3.1. Thuận lợi:
Hệ thống văn bản pháp lý về KCNST được hình thành: KCNST được quy định cụ thể trong Nghị định số 35/2022/NĐ-CP ngày 28/5/2022 của Chính phủ quy định về quản lý KCN, khu kinh tế (thay thế Nghị định số 82/2018/NĐ-CP) và Thông tư số 05/2025/TT-BKHĐT ngày 24/1/2025 của Bộ Trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư về Hướng dẫn xây dựng KCNST; Điều 47 và khoản 3, Điều 138, Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/1/2022 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật BVMT; nhiệm vụ liên quan đến KCNST tại Quyết định số 882/QĐ-TTg ngày 22/7/2022 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh (TTX) giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050; Quyết định số 687/QĐ-TTg ngày 7/6/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển kinh tế tuần hoàn (KTTH) ở Việt Nam; Quyết định số 222/QĐ-TTg ngày 23/1/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện KTTH đến năm 2035. Gần đây, Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới do Bộ Chính trị ban hành đã tái khẳng định ưu tiên phát triển các mô hình KCNST - thông minh của Việt Nam.
Hệ thống Tài liệu hướng dẫn chi tiết cho KCNST ngày càng đầy đủ, hoàn thiện: Hướng dẫn thành lập KCNST mới ở Việt Nam; Bộ Chỉ số đánh giá hiệu quả KCNST tại Việt Nam; Tài liệu hướng dẫn tái sử dụng chất thải rắn trong KCN; Tài liệu hướng dẫn sử dụng Hệ thống thông tin giám sát các KCNST, DN sinh thái ở Việt Nam; Tài liệu Hướng dẫn kiểm kê KNK cho DN trong các KCN ở Việt Nam; Tài liệu Hướng dẫn huy động tài chính hỗ trợ phát triển KCNST tại Việt Nam; Sổ tay Hướng dẫn Tài chính xanh cho các DN trong KCN; Sổ tay hướng dẫn Phòng ngừa, chuẩn bị, ứng phó với sự cố môi trường từ các KCN; Công cụ hỗ trợ triển khai mô hình KCNST của UNIDO… [10].
Ngoài ra, việc phát triển KCNST đang nhận được sự quan tâm, hỗ trợ từ nhiều tổ chức quốc tế như UNIDO, SECO cũng như cơ hội học tập kinh nghiệm về chuyển đổi KCNST từ một số quốc gia khác trong Chương trình KCNST toàn cầu; nhận thức và năng lực của các bên liên quan đến KCNST ngày càng được nâng cao.

3.2. Khó khăn:
Mặc dù các KCN có nhu cầu cao trong việc áp dụng giải pháp tuần hoàn để tái sử dụng chất thải, nước thải và phát triển năng lượng tái tạo, nhưng hiện nay, rào cản pháp lý cùng với việc thiếu tiêu chuẩn, quy chuẩn liên quan đang cản trở việc triển khai hoạt động này tại các KCN; việc nâng cấp, cải tạo hạ tầng để đáp ứng tiêu chuẩn KCNST đòi hỏi đầu tư lớn, mất nhiều thời gian cũng như công sức, từ đó làm chậm tiến độ chuyển đổi.
Cùng với đó, sự thiếu đồng bộ trong việc kết nối, chia sẻ thông tin giữa các DN trong KCN cũng như giữa DN với cơ quan quản lý, tổ chức tài chính gây khó khăn trong triển khai giải pháp CSCN. Nhiều DN còn thiếu sự tin tưởng lẫn nhau trong chia sẻ cơ sở hạ tầng để thực hiện CSCN (chất thải, hệ thống xử lý nước), dẫn đến khó thu hút được nhà đầu tư mới hợp tác để thực hiện cơ hội CSCN. Ngoài ra, việc ứng dụng công nghệ sạch và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên đòi hỏi DN phải đầu tư vào các hệ thống tự động hóa, số hóa, công nghệ mới… Tuy nhiên, chi phí đầu tư ban đầu cao và khả năng tiếp cận công nghệ tiên tiến còn hạn chế là những rào cản lớn; tài chính xanh cần thiết cho triển khai các cơ hội KCNST vẫn còn gặp nhiều thách thức, khó khăn do lãi suất cao, thời hạn vay ngắn.
Những khó khăn trên đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền, DN và tổ chức liên quan, nhằm hoàn thiện khung pháp lý, cải thiện thủ tục hành chính, tạo ra chính sách ưu đãi phù hợp để thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang mô hình KCNST một cách hiệu quả, bền vững.
4. Một số khuyến nghị thúc đẩy chuyển đổi mô hình khu công nghiệp sinh thái
4.1. Các cơ quan, chương trình hỗ trợ cho KCNST
Bước quan trọng nhất trong việc thúc đẩy nhân rộng mô hình KCNST chính là hình thành một hệ thống cơ quan có thẩm quyền trong khuôn khổ pháp lý hiện hành có chức năng, nhiệm vụ rõ ràng, đảm nhiệm việc hoạch định, thực thi chính sách.
Ở cấp độ quốc gia: Cần thiết có Ban Chỉ đạo quốc gia về phát triển KCNST, là cơ quan có thẩm quyền để chỉ đạo, tạo sự phối hợp giữa các Bộ, ngành Trương ương và UBND cấp tỉnh. Ban Chỉ đạo quốc gia về phát triển KCNST là cơ quan trung tâm, đóng vai trò quan trọng trong xây dựng, giám sát thực thi chính sách về chuyển đổi, hình thành KCNST mới. Ngoài ra, nên có chương trình hỗ trợ chuyển đổi KCNST ở tầm quốc gia tập trung nguồn lực tài chính, nhân sự và điều phối phân bổ nguồn lực cho các địa phương.
Tại cấp địa phương: Ban Quản lý KCN/KKT cấp tỉnh là cơ quan đầu mối thực hiện quản lý nhà nước về KCN. Nên hình thành trung tâm trực thuộc Ban Quản lý để thúc đẩy chuyển đổi KCNST. Trung tâm này có chức năng tư vấn cho Ban Quản lý KCN hoạch định, thực thi chính sách về KCNST; hỗ trợ việc đánh giá hồ sơ xin công nhận KCNST và giám sát hoạt động KCNST; tư vấn, hỗ trợ kỹ thuật về KCNST; đầu mối kết nối tại địa phương trong hợp tác đầu tư, xây dựng mạng lưới đối tác tại địa phương và thúc đẩy mối tương tác giữa chính quyền với cộng đồng.
4.2. Chuyển đổi KCNST
Trên cơ sở Nghị định số 35/2022/NĐ-CP, việc chuyển đổi, xây dựng KCNST tại Việt Nam hiện nay tập trung vào 2 nhóm giải pháp lớn: Chuyển đổi mô hình KCN thông thường sang mô hình KCNST và phát triển, thành lập KCNST mới.
Đối với chuyển đổi mô hình KCN thông thường sang mô hình KCNST:
Cần xây dựng hệ thống CSDL nhằm đánh giá hiện trạng các KCN trên cả nước để xác định cơ hội chuyển đổi. Có thể áp dụng khung quốc tế về KCNST với bộ chỉ số đánh giá đã được UNIDO áp dụng để đánh giá tiềm năng chuyển đổi các KCN; xây dựng lộ trình chuyển đổi trên cơ sở hệ thống CSDL đã được điều tra, đánh giá về tiềm năng chuyển đổi đối với hệ thống các KCN đang hoạt động trên cả nước; tiến hành xây dựng lộ trình chuyển đổi đối với từng nhóm KCN theo mức độ phát triển khác nhau, có xét đến yếu tố về nguồn lực (tài chính, con người) của DN, KCN, địa phương. Nên thực hiện chuyển đổi ngay đối với KCN đáp ứng đủ điều kiện.
Đồng thời, tiếp tục nâng cao nhận thức cho các bên liên quan về mô hình KCNST; tăng cường truyền thông, xây dựng chính sách quảng bá dưới các hình thức hội nghị, hội thảo và thông qua phương tiện truyền thông về ích lợi của mô hình KCNST; xây dựng, chuẩn bị nguồn tài chính phù hợp, hỗ trợ quá trình chuyển đổi; xây dựng chính sách hỗ trợ cho các KCN, DN tham gia chương trình chuyển đổi. Cùng với đó, huy động nguồn tài chính từ các quỹ tài chính trong, ngoài nước; có chương trình cho vay ưu đãi phù hợp với nhu cầu chuyển đổi sang mô hình sinh thái của DN hạ tầng, DN thứ cấp trong KCN. Ngoài ra, tăng cường nghiên cứu khoa học để đổi mới công nghệ và áp dụng công nghệ sạch, phát thải ít các-bon, phát triển các mô hình CSCN tái sử dụng chất thải, chuyển chất thải thành năng lượng, đồng xử lý chất thải…; tăng cường đào tạo nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ kỹ thuật để áp dụng công nghệ mới.
Đối với phát triển và thành lập KCNST mới
Việc xây dựng, phát triển mô hình KCNST mới sẽ khó khăn hơn so với chuyển đổi KCN truyền thống vì yêu cầu nguồn vốn lớn, cần chọn lọc trong thu hút đầu tư, chính sách hỗ trợ cụ thể. Để phát triển mô hình KCNST mới, cần dựa trên cơ sở lợi thế, điều kiện, khả năng thực hiện, do đó việc quy hoạch các KCNST phải chú trọng đến xây dựng, quản lý dựa trên nguyên tắc sinh thái công nghiệp, CSCN, bao gồm: Quy hoạch phát triển công nghiệp; quy hoạch không gian, quy hoạch sử dụng đất; kế hoạch đầu tư, nguồn lực tài chính.
Đặc biệt, mô hình KCNST mới cần đón đầu cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 để tạo ra giá trị công nghiệp bền vững. Theo đó, KCNST cần tập trung vào kết nối, tự động hóa, kết hợp sản xuất, vận hành thực tế với công nghệ kỹ thuật số thông minh, dữ liệu lớn để tạo hệ sinh thái được kết nối tốt, tổng thể hơn cho các công ty tập trung vào sản xuất và “quản lý chuỗi cung ứng”. Điều này có thể được thực hiện thông qua quá trình triển khai theo hướng áp dụng mô hình cộng sinh với quản lý CSDL được số hóa, áp dụng hiệu quả tài nguyên, sản xuất sạch hơn với quy trình ra quyết định ở mức độ số hóa. Đây là sự hợp lực giữa con người, máy móc, mục đích nhằm tối ưu hóa sử dụng nguồn lực về nguyên vật liệu, năng lượng và quá trình ra quyết định trong sản xuất.
TS. Nguyễn Trâm Anh
Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Phát triển KCN và mô hình KCNST gắn với TTX, PTBV, KTTH. 2024; https://www.mpi.gov.vn/portal/Pages/2024-8-23/Phat-trien-khu-cong-nghiep-va-mo-hinh-khu-cong-ngh0qfsuf.aspx.
2. Bộ Công Thương, Công nghiệp tái chế: Trụ cột mới cho TTX và KTTH. 2025.
3. VNEconomy. Vì sao nhiều KCN chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung? 2024.
4. Bộ Công Thương. Phát động Giải thưởng Hiệu quả năng lượng trong công nghiệp - Công trình xây dựng năm 2024. 2024; Available from: https://moit.gov.vn/tin-tuc/su-dung-nang-luong-tiet-kiem-va-hieu-qua/phat-dong-giai-thuong-hieu-qua-nang-luong-trong-cong-nghiep-cong-trinh-xay-dung-nam-2024.html.
5.Báo Nhân dân điện tử. Việt Nam đối mặt nguy cơ phát thải tăng gấp ba vào năm 2030.
6.Chertow, M.R., “Uncovering” Industrial Symbiosis. 2007.
7.Chertow, M.R., Industrial symbiosis: Literature and taxonomy. 2000.
8.UNIDO, Implementation handbook for Eco-industrial parks. 2017.
9.Anh, N.T., Báo cáo kết quả thực hiện dự án năm 2023 và 2024 tại Hội nghị họp Ban chỉ đạo Dự án "Triển khai KCNST tại Việt Nam theo hướng tiếp cận từ Chương trình KCNST toàn cầu". 2024.
10.Eco-Industrial Park Initiative in Viet Nam. 2024; https://eip-vietnam.org/publication.