Banner trang chủ
Thứ Ba, ngày 27/02/2024

Kinh nghiệm phát triển kinh tế xanh ở một số quốc gia châu Á

02/10/2023

    Trên thế giới, rất nhiều các quốc gia phát triển đang quan tâm và chuyển hướng sang một mô hình kinh tế mới, đó chính là kinh tế xanh; đặc biệt đối với các nước đang phát triển, kinh tế xanh đang trở thành lựa chọn tối ưu. Những nguyên nhân trên đã khiến một số quốc gia châu Á như Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc… cân nhắc, xem xét mô hình kinh tế xanh như là động lực mới cho tăng trưởng và đạt được các mục tiêu phát triển bền vững.

    Có nhiều định nghĩa khác nhau về kinh tế xanh (Green Economy). Phòng Thương mại Quốc tế xem xét kinh tế xanh từ góc độ kinh doanh và cho rằng,  kinh tế xanh là nền kinh tế mà tăng trưởng kinh tế và trách nghiệm môi trường đi đôi với nhau và tương hỗ cho nhau, đồng thời hỗ trợ quá trình phát triển xã hội. Liên minh châu Âu (EU) lại định nghĩa kinh tế xanh là nền kinh tế tăng trưởng thông minh, bền vững và công bằng. Nhóm Liên minh kinh tế xanh đưa ra khái niệm kinh tế xanh là nền kinh tế tạo ra chất lượng cuộc sống tốt hơn cho tất cả mọi người trong giới hạn sinh thái của Trái đất. Báo cáo của Ủy ban các vấn đề Kinh tế - Xã hội của Liên hợp quốc (UNDESA, 2012) đã tổng hợp các định nghĩa của nhiều quốc gia và chỉ ra điểm chung mà một nền kinh tế xanh cần hướng tới là việc giảm các tác động tiêu cực của hoạt động kinh tế tới môi trường và xã hội. Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) đã đưa ra khái niệm về kinh tế xanh là nền kinh tế mang lại phúc lợi cho con người và công bằng xã hội, vừa giảm thiểu đáng kể các nguy cơ về môi trường và suy giảm sinh thái. Đây được coi là định nghĩa chính xác và đầy đủ nhất về kinh tế xanh. Theo đó, kinh tế xanh đơn giản là nền kinh tế có mức phát thải thấp, sử dụng hiệu quả và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo đảm tính công bằng về mặt xã hội. Trong nền kinh tế xanh, sự tăng trưởng về thu nhập, việc làm thông qua đầu tư của Nhà nước và tư nhân cho nền kinh tế làm giảm thiểu phát thải các-bon, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, sử dụng hiệu quả năng lượng và tài nguyên, ngăn chặn sự suy giảm đa dạng sinh học, dịch vụ của hệ sinh thái. Nội hàm của kinh tế xanh bao gồm: Phát thải các-bon thấp, sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo đảm công bằng xã hội. Trong đó, tài nguyên môi trường là yếu tố quan trọng, mang tính chất quyết định đến sự phát triển kinh tế, cải thiện chuỗi giá trị, đem lại sự ổn định và thịnh vượng lâu dài.

    Với những ý tưởng về nền kinh tế xanh, một nền kinh tế vừa thỏa mãn nhu cầu tăng trưởng kinh tế, vừa giải quyết được những thách thức về môi trường đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến từ khá sớm. Trong đó, hầu hết các nghiên cứu đều thống nhất quan điểm, xu hướng phát triển kinh tế xanh bám sát vào 3 trụ cột chính, đó là: Công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ. Các nhà nghiên cứu cũng khẳng định, khái niệm “kinh tế xanh” không thay thế khái niệm bền vững, nhưng nó ngày càng được công nhận là mô hình phù hợp, làm nền tảng cho phát triển bền vững. Trong đó tính bền vững là một mục tiêu dài hạn quan trọng, nhưng xanh hóa nền kinh tế là phương tiện đưa mỗi quốc gia đi tới đích phát triển bền vững (Đạt Quốc, 2021). Bài viết tập trung nghiên cứu mô hình kinh tế xanh của 3 quốc gia châu Á gồm Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc để làm sáng tỏ vấn đề này và rút ra một số bài học cho Việt Nam.

    Singapore

    Ngay từ rất sớm, Chính phủ Singapore đã ban hành chính sách phát triển kinh tế xanh. Cụ thể, năm 1992, Singapore thực hiện Kế hoạch Xanh, sau đó tiếp tục thay đổi ban hành Kế hoạch vào năm 2012 và gần đây nhất là vào năm 2021, ban hành Kế hoạch Xanh hướng tới năm 2030. Kế hoạch Xanh vạch ra các mục tiêu đầy tham vọng và cụ thể trong thập kỷ tới, củng cố các cam kết của Singapore theo Chương trình nghị sự phát triển bền vững năm 2030 của Liên hợp quốc và Thỏa thuận Paris. Kế hoạch xanh của Singapore có năm trụ cột chính với sự quản lý của 05 cơ quan là Bộ Giáo dục, Bộ Phát triển Quốc gia, Bộ Môi trường và Bền vững, Thương mại và Công nghiệp, Bộ Giao thông Vận tải và được hỗ trợ bởi toàn bộ Chính phủ với các nội dung: (i) Thành phố trong tự nhiên, nhằm tạo ra những ngôi nhà xanh, đáng sống và bền vững cho người dân (ii) Cuộc sống bền vững, nhằm hướng tới việc giảm lượng khí thải các-bon, giữ cho môi trường trong sạch, tiết kiệm tài nguyên và năng lượng trở thành một phong cách sống (iii) Tái tạo năng lượng, nhằm sử dụng năng lượng sạch hơn và tăng hiệu quả sử dụng năng lượng để giảm khí thải các-bon (iv) Nền kinh tế xanh, nhằm tìm kiếm các cơ hội tăng trưởng xanh để tạo việc làm mới, chuyển đổi các ngành công nghiệp và khai thác tính bền vững như một lợi thế cạnh tranh và (v) Tương lai kiên cường, nhằm xây dựng khả năng phục hồi khí hậu và tăng cường an ninh lương thực.

    Để đạt được những trụ cột này, Chính phủ Singapore đã đưa ra một loạt các sáng kiến và biện pháp hỗ trợ trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển, năng lượng, tài chính xanh, du lịch bền vững và giao thông đường bộ… Cụ thể:

    Chuyển đổi các lĩnh vực hiện có và khử các-bon: Nhằm khuyến khích các công ty trong tất cả các lĩnh vực giảm lượng khí thải, tạo điều kiện cho quá trình chuyển đổi của Singapore sang nền kinh tế với hàm lượng các-bon thấp, tháng 1/2019, Singapore đã áp dụng thuế các-bon và trở thành quốc gia đầu tiên ở Đông Nam Á áp dụng thuế này. Năm 2023, theo Kế hoạch Xanh thì Singapore sẽ tiến hành rà soát thuế các-bon. Nguồn thu từ thuế sẽ được Chính phủ Singapore tái đầu tư để tài trợ cho các biện pháp giảm phát thải. Thuế suất được ấn định thấp và áp dụng trong phạm vi hẹp để thị trường có thời gian thích nghi. Thuế các-bon của Singapore sẽ tăng dần từ mức 5 đô la Singapore/tấn khí thải các-bon hiện tại lên tới 25 đô la vào năm 2024, 2025; 45 đô la vào năm 2026, 2027 và 50 - 80 đô la Singapore vào năm 2030. Các khoản thanh toán đầu tiên theo các mức thuế mới được đề xuất sẽ đến hạn vào năm 2025, dựa trên lượng khí thải năm 2024. Thuế được đánh trực tiếp vào các cơ sở trực tiếp thải ra ít nhất 25.000 tấn khí thải nhà kính hàng năm. Đối tượng chịu tác động bởi thuế các-bon là: (1) Các cơ sở lớn tạo ra > 25.000 tấn khí thải trực tiếp mỗi năm là đối tượng nộp thuế theo chương trình thuế các-bon, thường là các nhà máy lọc dầu và nhà máy điện; (2) Người tiêu dùng năng lượng cuối cùng - trong khi người tiêu dùng nói chung không phải là nhà sản xuất khí thải quy mô lớn, thì những người mua điện hoặc năng lượng qua lưới điện (ngay cả khi người tiêu dùng không kích hoạt ngưỡng 25.000 tấn), cũng sẽ bị ảnh hưởng. Các nhà bán lẻ năng lượng sẽ chịu trách nhiệm trả thuế các-bon cao hơn và do tác động tài chính đã lường trước, chi phí này sẽ chuyển sang người tiêu dùng là điều không thể tránh khỏi.

    Phát triển các ngành mới và giúp các doanh nghiệp nắm bắt cơ hội trong nền kinh tế xanh nhằm đưa Singapore trở thành quốc gia dẫn đầu trong các lĩnh vực. Cụ thể, Chương trình Doanh nghiệp bền vững (ESG) là một phần trong nỗ lực của Chính phủ Singapore nhằm trao quyền, đầu tư vào các công ty đối tác cũng như cộng đồng trong quá trình chuyển đổi xanh. ESG đã khởi động Chương trình Bền vững doanh nghiệp trị giá 180 triệu đô la Singapore để hỗ trợ các công ty Singapore, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong hành trình phát triển bền vững của họ và nắm bắt các cơ hội trong nền kinh tế xanh để duy trì tính cạnh tranh trong nền kinh tế địa phương, toàn cầu. Sự hỗ trợ tập trung vào phát triển các năng lực bền vững trong doanh nghiệp, tăng cường các năng lực cụ thể của ngành và thúc đẩy một hệ sinh thái bền vững sôi động và thuận lợi. Ngoài ra, để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển đổi của Singapore sang nền kinh tế các-bon thấp và thúc đẩy Singapore phát triển thành một trung tâm tài chính xanh, Chính phủ nước này đã công bố tại Ngân sách 2022, trong đó chỉ ra, khu vực công sẽ phát hành 35 tỷ đô la Singapore trái phiếu xanh vào năm 2030 để tài trợ cho các dự án cơ sở hạ tầng xanh của khu vực công.

    Phát triển lực lượng lao động để đảm nhận công việc trong nền kinh tế xanh: Chính phủ Singapore tập trung thực hiện biện pháp nhằm trang bị cho lực lượng lao động những kỹ năng và bí quyết cần thiết để thích ứng phù hợp trong nền kinh tế xanh. Ví dụ, Cơ quan thị trường năng lượng đã làm việc với Viện công nghệ Singapore để phát triển chương trình cử nhân kỹ thuật điện chuyên dụng đầu tiên của Singapore. Điều này sẽ trang bị cho sinh viên tốt nghiệp năng lực kỹ thuật, kỹ năng và kiến thức cho các giải pháp năng lượng mới của Singapore. Trung tâm Tài chính xanh Singapore và Viện Tài chính xanh và bền vững cũng đang phát triển các khóa học nhằm chuẩn bị nguồn nhân lực tài năng tài chính xanh trong mọi lĩnh vực nghề nghiệp

    Có thể nói, để phát triển kinh tế xanh, Singapore đã chú ý: Thứ nhất, Singapore quan tâm đến vấn đề phát triển nền kinh tế xanh từ rất sớm và thực hiện mạnh mẽ trong những năm gần đây. Thứ hai, Singapore là quốc gia đầu tiên ở Đông Nam Á thực hiện việc định giá các-bon, ban hành thuế các-bon nhằm làm giảm khí thải, tạo điều kiện cho quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế với hàm lượng các-bon thấp. Thứ ba, Singapore tích cực ký kết các thỏa thuận song phương liên quan đến phát triển nền kinh tế xanh với các đối tác thương mại lớn của quốc gia này như Vương quốc Anh, Australia, Việt Nam, Malaysia. Qua đó giúp Singapore khử các-bon cũng như giúp doanh nghiệp và người lao động nắm bắt cơ hội trong nền kinh tế xanh.

    Hàn Quốc

    Đất nước Hàn Quốc bị tàn phá nặng nề trong thời kỳ thuộc địa của Nhật Bản (1910 - 1945) và nội chiến kéo dài 3 năm (1950 - 1953). Sau khi hòa bình lập lại vào năm 1953, Hàn Quốc là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới với nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu và thiếu hụt nghiêm trọng cơ sở hạ tầng. Bên cạnh đó, Hàn Quốc là một quốc gia có rất ít tài nguyên thiên nhiên, với chỉ 30% diện tích đất có thể canh tác được. GDP bình quân đầu người hậu chiến tranh của Hàn Quốc là 70 USD vào năm 1954, cùng với tỷ lệ tiết kiệm quốc nội thấp; lúc này, Hàn Quốc phải dựa vào viện trợ nước ngoài để tồn tại (Myung Soo Cha, 2004). Tuy vậy, nền kinh tế Hàn Quốc đã khiến thế giới ngạc nhiên với sự trỗi dậy thần kỳ từ năm 1960. Những cải cách mạnh mẽ khiến Hàn Quốc trở thành một cường quốc về công nghiệp và dịch vụ. Hiện nay, Hàn Quốc đang là nền kinh tế lớn thứ 12 thế giới, trở thành hình mẫu lý tưởng của một quốc gia phát triển có xuất phát điểm là một trong các nước thuộc “Thế giới thứ Ba”.

    Về phát triển kinh tế xanh, Hàn Quốc thuộc nhóm quốc gia duy nhất được công nhận rộng rãi đã triển khai thực hiện phát triển kinh tế xanh trên quy mô toàn quốc bằng cách thiết lập các mục tiêu đầy tham vọng và thực hiện các kế hoạch hành động. Có rất nhiều yếu tố thúc đẩy phát triển kinh tế xanh tại quốc gia này, nhưng chính yếu vẫn xuất phát ý chí chính trị mạnh mẽ của nhà nước, đặt mục tiêu phát triển kinh tế xanh với các-bon thấp làm tầm nhìn quốc gia với hy vọng sẽ phát triển bền vững tạo điều kiện để đất nước vượt lên trên, trở thành một thế lực “xanh” trong quan hệ quốc tế (Cẩm Tú, 2022). Với mục tiêu này, tháng 9/2008, Hội đồng Quốc vụ Hàn Quốc thông qua chiến lược tăng trưởng xanh, kỳ vọng đưa Hàn Quốc trở thành 1 trong bảy cường quốc kinh tế xanh vào năm 2020, đồng thời là 1 trong năm cường quốc kinh tế xanh của thế giới vào năm 2050. Để triển khai nội dung này, Hàn Quốc tập trung vào các lĩnh vực được ưu tiên như:

    Thứ nhất, tập trung xử lý nguồn chất thải, Hàn Quốc đã triển khai xây dựng bãi chôn lắp Sudokwon để bảo vệ môi trường có tổng diện tích sử dụng là 19.986.000m2 vào ngày 11/9/1987. Đây là công trình liên hoàn xử lý rác khép kín, bảo vệ môi trường bởi Công ty Sudokwon phải tiến hành các thủ tục khi chuyển giao rác vào bãi chôn lấp như: đóng tiền ký gửi thẻ đo lường, cấp thẻ đo lường, kiểm tra rác thải theo quy định, cân xe ra vào để tính lượng rác thải, rửa xe trước khi ra khỏi bãi...

    Thứ hai, quản lý nguồn nước thải, trong giai đoạn 1998 - 2003, Chính phủ Hàn Quốc đã triển khai xây dựng các vùng đệm tại bờ sông, các cống để kiểm soát lượng nước thải. Hiện Hàn Quốc đang có 1.476 trạm kiểm soát chất lượng nguồn nước, trong đó, có 47 trạm kiểm soát tự động 34 hạng mục kiểm soát nguồn nước sông, 35 hạng mục đối với nước hồ, 2499 trạm kiểm soát đối với nước ngầm. Việc kiểm soát chất lượng nguồn nước được tiến hành mỗi năm 2 lần. Bên cạnh đó, Hàn Quốc còn áp dụng hệ thống chi phí đối với các dịch vụ liên quan đến môi trường, khi người tiêu dùng sử dụng các loại sản phẩm có nguồn gốc từ nước khoáng phải chi trả một khoản phí tương ứng 7.5% giá trị sản phẩm, phí này sẽ được sử dụng cho các mục đích cải thiện chất lượng nguồn nước ngầm.

    Thứ ba, triển khai gói Kích cầu xanh. Trước bối cảnh khủng hoảng kinh tế trong giai đoạn cuối năm 2008, Hàn Quốc đã triển khai gói Kích cầu xanh, với nội dung trọng tâm là tạo việc làm và nâng cao hiệu quả của các ngành nghề có khả năng thúc đẩy phát triển kinh tế. Kế hoạch này kết hợp chính sách tăng trưởng xanh ngắn hạn và khả thi với chính sách tạo công ăn việc làm nhằm đạt hiệu quả tương hỗ về mặt chính sách cao nhất. Đây là kế hoạch xây dựng một nền kinh tế tiết kiệm tài nguyên trên cơ sở tiết kiệm năng lượng, tái sử dụng tài nguyên và phát triển năng lượng sạch; nâng cao chất lượng cuộc sống bằng việc xây dựng mạng lưới giao thông xanh, cung cấp nước sạch, ô tô xanh, nhà xanh, trường học xanh, văn phòng xanh; bảo đảm an toàn cho tương lai thông qua việc giảm phát thải nhà kính, quản lý tài nguyên nước, quản lý rừng và hệ sinh thái; xây dựng ngành công nghiệp hướng tới tương lai thông qua nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, phát triển công nghệ, xây dựng hạ tầng thông tin... Gói Kích cầu xanh áp dụng trong 4 năm kể từ năm 2009 với tổng số vốn đầu tư là 50 ngàn tỷ won (khoảng 4,3 tỷ đô la), tạo khoảng 960 ngàn việc làm mới (Trung tâm thông tin- Tư liệu 2017, 30).

    Thứ tư, ban hành đạo luật xanh. Năm 2010, Hàn Quốc ban hành Luật Tăng trưởng xanh, đây được nhận định là đạo luật quy định bao quát tất cả các vấn đề có liên quan đến năng lượng, ứng phó biến đổi khí hậu, phát triển kinh tế vững bền vững... Theo đó, Điều 1 của Luật Tăng trưởng xanh đã đề ra định hướng phát triển xanh được thể hiện qua các mục tiêu như: (i) tạo sự cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường thông qua thiết lập nền tảng cho phát triển các-bon thấp và phát triển kinh tế xanh, (ii) thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua việc thực hiện công nghiệp xanh và phát triển công nghệ xanh như là động lực của tăng trưởng; (iii) đóng góp cải thiện chất lượng cuộc sống; (iv) biến Hàn Quốc thành quốc gia phát triển và có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế thông qua việc hiện thực hóa xã hội các-bon thấp. Trên tinh thần đạo luật này, Hàn Quốc cũng đã tiên phong thành lập Viện Tăng trưởng xanh toàn cầu (GGGI) với chức năng hỗ trợ các quốc gia đang phát triển trong việc thiết lập các chính sách phát triển kinh tế xanh thông qua việc chia sẻ kinh nghiệm phát triển của Hàn Quốc, đưa ra các kết quả nghiên cứu chất lượng cao cho các nhà hoạch định chính sách và xây dựng mạng lưới phát triển kinh tế xanh. Cùng với việc đặt ra mục tiêu tham vọng giảm phát thải khí nhà kính xuống 30% so với kịch bản thông thường vào năm 2020 (đây là mục tiêu giảm phát thải cao nhất được Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu đưa ra), Chính phủ Hàn Quốc đã thực hiện một chiến lược giảm thiểu biến đổi khí hậu toàn diện và thành công trong việc thành lập trung tâm nghiên cứu và lưu trữ khí nhà kính - một trung tâm chuyên biệt về lưu trữ khí nhà kính (Trung tâm thông tin - Tư liệu, 2017).

    Hàn Quốc là một trong những nước đầu tiên thâm nhập vào một lĩnh vực mới trong khi một số nền kinh tế lớn trên thế giới còn e ngại hành động. Thực tế cho thấy, với những nỗ lực của mình, Hàn Quốc đã vươn lên trở thành một quốc gia có thu nhập cao từ một nước có GDP bình quân đầu người chỉ 155 USD năm 1960. Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận, quá trình thực hiện kinh tế xanh của Hàn Quốc cũng cho thấy những lỗ hổng trong việc giải quyết nhu cầu môi trường và xã hội, bới phần lớn các hạng mục ưu tiên trong chương trình nghị sự và các chỉ tiêu để hiện thực hóa kinh tế xanh chỉ tập trung vào các vấn đề liên quan đến cường độ năng lượng, triển khai hàng hóa, dịch vụ các-bon thấp, phát triển công nghệ, thúc đẩy khối lượng xuất khẩu… còn vấn đề công bằng xã hội, phúc lợi xã hội, bình đẳng giới, giảm nghèo, giảm cách biệt thu nhập… chưa được xem xét đầy đủ.

    Trung Quốc

    Theo báo cáo về những thành tựu phát triển kinh tế và xã hội kỷ niệm 70 năm thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa của Cục Thống kê quốc gia Trung Quốc cho thấy, trong 70 năm kể từ khi thành lập nước Trung Quốc mới, nền kinh tế của Trung Quốc đã duy trì tốc độ phát triển nhanh chóng, GDP liên tục được nâng cao. Năm 1952, GDP của Trung Quốc chỉ là 67,9 tỷ NDT, GDP bình quân đầu người là 119 NDT. Sau những nỗ lực liên tục, GDP của Trung Quốc năm 1978 đã tăng lên 367,9 tỷ NDT, chiếm 1,8% tỷ trọng của kinh tế thế giới, xếp thứ 11 trên thế giới. Kể từ khi cải cách và mở cửa, nền kinh tế Trung Quốc đã phát triển nhanh chóng. Năm 1986, GDP của Trung Quốc vượt mốc 1 nghìn tỷ NDT. Năm 2000, vượt mốc 10 nghìn tỷ NDT, vượt qua Ý để trở thành nền kinh tế lớn thứ sáu thế giới. Năm 2010, vượt mốc 40 nghìn tỷ NDT, vượt qua Nhật Bản trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới. Và đến nay, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới tăng trưởng 4,5% trong quý 1/2023 (báo South China Morning Post dẫn số liệu được Cục Thống kê quốc gia nước này công bố ngày 18/4/2023), con số cao hơn đến 2,9% so với số liệu tăng trưởng quý 4/2022, đánh dấu sự trở lại mạnh mẽ của nền kinh tế  Trung Quốc thời kỳ hậu chính sách "Zero - Covid".

    Mặc dù đạt được sự tăng trưởng kinh tế nhanh như vậy, Trung Quốc cũng đang phải đối mặt với mức tăng phát thải khí nhà kính, việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên thiếu bền vững và sự suy giảm môi trường, dẫn tới những bất bình đăng trong xã hội. Hiện Trung Quốc đang là quốc gia có lượng phát thải cao nhất trên thế giới. Do vậy, để thực hiện các mục tiêu đề ra, Trung Quốc đã tập trung vào 6 nhóm chính sách chủ yếu: Chính sách về năng lượng; công nghiệp; thị trường tiêu dùng với sự tham gia trực tiếp của khu vực công trong thực hiện các hành động xanh và luật về mua sắm công xanh; chính sách về đầu tư (như đầu tư công về hạ tầng năng lượng); các chính sách về đổi mới công nghệ xanh trong công nghiệp và năng lượng, cuối cùng là các các chính sách quản lý. Trước hết, Trung Quốc đã xúc tiến phát triển công nghiệp theo phương châm:

    Phát triển nền kinh tế các-bon thấp. Theo mô hình này, Trung Quốc đẩy mạnh phát triển hệ thống giao thông công cộng, hạn chế tốc độ tăng trưởng của giao thông cá nhân, đẩy mạnh sự phát triển đường sắt trong nội đô thành phố và đường cao tốc giữa các thành phố nhằm thiết lập nên các hệ thống giao thông đa chiều, đầu tư và phát triển các loại xe, phương tiện các-bon thấp như xe điện, phát triển các nhiên liệu sinh học cho công tác phục vụ giao thông công cộng. Bên cạnh đó, tối ưu hóa cơ cấu năng lượng như giảm tỷ lệ sử dụng than, phát triển nhà máy điện không sử dụng nhiên liệu hóa thạch, thúc đẩy thương mại hóa điện năng lượng mặt trời. Tại Trung Quốc việc tuân thủ tiêu thụ các-bon thấp được mô tả thông qua nguyên tắc 6R “Reduce-Reevaluate-Reuse-Recycle-Rescue-Recalculate”. Để tuân thủ các nguyên tắc này, Trung Quốc đã ban hành các đạo luật như Luật Tiêu thụ bền vững, Luật Mua sắm xanh..., đồng thời thiết lập một hệ thống thông tin công khai liên quan đến pháp luật, tiêu chuẩn môi trường, thủ tục tố tụng hành chính, các sản phẩm xanh; hỗ trợ tài chính cho các đối tượng sử dụng các sản phẩm xanh, trợ cấp về giá nếu tiêu thụ các sản phẩm tiết kiệm điện, xe ô tô năng lượng. Ngoài ra, để khuyến khích người dân, nước này cũng trao các giải thưởng tiêu biểu trong hoạt động bảo vệ môi trường như doanh nghiệp xanh, cộng đồng xanh, bệnh viện xanh, trường học xanh...

    Xây dựng hệ thống thuế xanh, tăng chi tiêu ngân sách cho sự phát triển nền kinh tế carbon thấp như: tăng phí ô nhiễm, tăng phạm vi thu, từng bước thay thế phí ô nhiễm bằng các loại thuế ô nhiễm, bảo đảm nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền (Nguyễn Thị Mai Hương & Bùi Thị Kim Quyên, 2022, 46-47). Trung Quốc đang hình thành lộ trình liên quan đến thuế các-bon sẽ được bắt đầu sớm để thiết lập một mức giá ổn định cho sự đổi mới các-bon thấp và thương mại hóa trên quy mô lớn. Trong trung và dài hạn, một phần doanh thu từ thuế nhiên liệu, năng lượng và các-bon bổ sung có thể được phân bổ cho quỹ phát triển bền vững (Vũ Huy Hùng, 2021). Đáng chú ý, Trung Quốc đã tạo nguồn vốn cho đầu tư xanh thông qua biện pháp ưu tiên phát triển hệ thống tài chính xanh, đặc biệt chú ý đến các chính sách tín dụng xanh, đồng thời cùng với phát triển trái phiếu xanh.

    Trong số các quốc gia châu Á, Việt Nam và Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore có nhiều điểm tương đồng và có mối quan hệ gắn bó. Việt Nam và Hàn Quốc về lịch sử, đều trải qua thời kỳ thuộc địa, chiến tranh và tái xây dựng trong hoàn cảnh có nhiều khó khăn. Việt Nam mới thực hiện cải cách kinh tế từ năm 1986 nhưng đã thu được những kết quả tích cực. Dù vậy, Việt Nam vẫn phải đối mặt với hàng loạt vấn đề trong nước và quốc tế. Thông qua phân tích quá trình phát triển kinh tế xanh của Hàn Quốc, các yếu tố quan trọng góp phần tạo nên “Kỳ tích sông Hàn”, sẽ góp phần đúc rút kinh nghiệm cho Việt Nam trong tái cơ cấu kinh tế. Còn Việt Nam và Trung Quốc, về thể chế chính trị, đều là nước xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo, đều thực hiện thể chế kinh tế thị trường với tính chất và định hướng xã hội chủ nghĩa, bởi thế có tính tương đồng rất lớn trong phương diện kinh tế - xã hội và tư tưởng chính trị. Giữa Việt Nam với Singapore là quan hệ đối tác chiến lược, thể hiện ở rất nhiều lĩnh vực từ kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng. Về kinh tế xanh, cả Việt Nam và Singapore đều đặt mục tiêu giống nhau là đạt mức phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Đó sẽ là tiền đề để hai bên tăng cường hợp tác hơn nữa trong lĩnh vực chuyển đổi năng lượng, nhất là năng lượng tái tạo. Vào tháng 2/2023, Singapore đã ký kết với Việt Nam Biên bản ghi nhớ về quan hệ đối tác kinh tế số, kinh tế xanh, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai hợp tác trong các lĩnh vực mới và tiềm năng như kinh tế số, kinh tế xanh và tuần hoàn, đổi mới sáng tạo, năng lượng sạch, ứng phó biến đổi khí hậu... Theo đó, Việt Nam và Singapore sẽ đẩy mạnh chia sẻ kinh nghiệm quản lý, các sáng kiến, nền tảng trong chuyển đổi số trên 3 trụ cột, gồm Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Phía Singapore sẽ hỗ trợ Việt Nam xây dựng nền tảng số, thúc đẩy chuyển đổi số trên các lĩnh vực ưu tiên, như quản lý dân cư, tài chính ngân hàng, đất đai, thương mại điện tử... Riêng đối với kinh tế xanh, Singapore sẽ hỗ trợ Việt Nam trong quá trình chuyển đổi năng lượng công bằng, hướng tới giảm phát thải bằng 0 vào năm 2050. Với những tiền đề, điều kiện như vậy, Việt Nam có thể học tập kinh nghiệm các nước đã thành công về kinh tế xanh, đồng thời kết hợp linh hoạt các bài học này trong xây dựng chính sách phát triển cơ cấu ngành, nghề và điều chỉnh sao cho phù hợp với tình hình chính trị, xã hội, vị trí địa lý và nền văn hóa của đất nước. 

Đỗ Mạnh Hiển

Bộ Ngoại giao

(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường, số 9/2023)

    Tài liệu tham khảo

    1. Cha, MS (2004), Facts and Myths about Korea’s Economic Past, Australian Economic History Review, Vol. 44, No. 33.

   2. Nguyễn Thị Mai Hương & Bùi Thị Quyên (2020), “Kinh nghiệm thúc đẩy tăng trưởng xanh ở một số quốc gia và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Ấn Độ và châu Á, số 6 (115).

  3. Vũ Huy Hùng (2021), Tăng trưởng xanh, phát triển kinh tế các-bon thấp ở Trung Quốc và bài học cho Việt Nam (phần 1), https://vioit.org.vn/vn/chien-luoc-chinh-sach/tangtruong-xanh--phat-trien-kinh-te-carbon-thap-o-trung-quoc-va-bai-hoc-cho-viet-nam-- pha-n-1--4786.4050.html

    4. Trần Nguyễn Tuyên (2021), Một số vấn đề về môi trường ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp, Tạp chí Kinh tế tài chính Việt Nam, số 4/2021.

    5. Australian Government (2023), Singapore-Australia Green Economy Agreement, https://www.dfat.gov.au/geo/singapore/singapore-australia-green-economy-agreement.

    6. Singapore Government Agency Website (2023), Growing Singapore’s Green Economy, https://www.sg101.gov.sg/economy/case-studies/growing-sg-greeneconomy.

Ý kiến của bạn