Banner trang chủ
Chủ Nhật, ngày 29/05/2022

Hiện trạng và giải pháp cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường ở xã Hương Vinh, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế

22/07/2020

     TÓM TẮT

     Trong những năm qua, Xã Hương Vinh, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế đã có những bước phát triển nhanh về kinh tế - xã hội, đời sống nhân dân được cải thiện, tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số vấn đề về môi trường. Do tập quán sinh hoạt và sản xuất còn lạc hậu, việc sử dụng nhà tiêu chưa hợp lý đã làm cho môi trường ngày càng bị ô nhiễm. Tình trạng vệ sinh môi trường (VSMT) kém là nguyên nhân gây ra những hậu quả nặng nề về sức khỏe đối với người dân. Vì vậy, Đề tài “Hiện trạng và giải pháp cải thiện điều kiện VSMT ở xã Hương Vinh, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế” nhằm đưa ra bức tranh tổng quan về điều kiện VSMT và đề xuất các giải pháp nhằm góp phần cải thiện điều kiện VSMT cho khu vực nghiên cứu.

     Từ khóa: Vệ sinh môi trường, Thừa Thiên - Huế.

     Nhận bài: 21/5/2020; Sửa chữa: 25/5/2020; Duyệt đăng: 29/5/2020

     1. Đặt vấn đề

     Xã Hương Vinh nằm ở phía Đông của thị xã Hương Trà, có diện tích 7,2 km², dân số khoảng 11.988 người, mật độ dân số đạt 1.665 người/km² [1]. Trong quá trình phát triển, các vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh có nhiều bước phát triển về kinh tế - xã hội (KT-XH), đời sống nhân dân được cải thiện. Vấn đề VSMT là một trong những mối quan tâm hàng đầu ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của người dân. Do ý thức và tập quán sinh hoạt của người dân còn lạc hậu nên vẫn xảy ra nạn vứt rác, xả thải nước bừa bãi...; hệ thống thu gom và xử lý nước thải, chất thải rắn (CTR) chưa hợp lý; việc sử dụng nhà xí không hợp vệ sinh… gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe người dân. Ngoài ra, trong hoạt động sản xuất việc lạm dụng quá nhiều phân bón hóa học thuốc BVTV, trong hoạt động chăn nuôi việc đầu tư chuồng trại không hợp lý gây ÔNMT nghiêm trọng và làm tăng nguy cơ dịch bệnh. Nhằm góp phần cải thiện đời sống, nâng cao nhận thức cộng đồng về giữ gìn VSMT cho người dân nông thôn, cần đề xuất các giải pháp cải thiện điều kiện VSMT phù hợp với điều kiện KT - XH của người dân xã Hương Vinh, phục vụ cho phát triển kinh tế và môi trường bền vững.

     2. Phương pháp nghiên cứu

     Nghiên cứu được thực hiện trong 12 tháng (từ 1/1 - 31/12 năm 2018) nhằm đánh giá hiện trạng điều kiện VSMT ở 3 thôn Bao Vinh, La Khê, Thủy Phú trên địa bàn xã Hương Vinh, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Nghiên cứu thông qua các phương pháp: Thu thập số liệu, khảo sát thực địa, phân tích tổng hợp số liệu, liệt kê, so sánh, tham gia cộng đồng và ý kiến chuyên gia.

     Đề tài tập trung khảo sát hiện trạng sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh ở khu vực nghiên cứu; Khảo sát hiện trạng sử dụng nước ảnh hưởng đến điều kiện VSMT; Khảo sát hiện trạng phát sinh, thu gom, vận chuyển và xử lý CTR. Đề xuất các giải pháp cải thiện điều kiện VSMT ở khu vực nghiên cứu.

     3. Kết quả và thảo luận

     3.1. Hiện trạng môi trường nước

     Về nước mặt, chủ yếu là nguồn nước ở sông Hương, sông Đào và sông Bồ; Về nguồn nước ngầm khá lớn, đảm bảo phục vụ tốt cho sinh hoạt và phát triển sản xuất nông nghiệp. Đến nay tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo quy chuẩn Quốc gia là 3.043/3061 hộ đạt 99,41%.[2]

     Khảo sát 200/3061 hộ trong khu vực nghiên cứu ở 3 thôn Bao Vinh, La Khê, Thủy Phú, kết quả cho thấy: Về nguồn nước sinh hoạt, hầu hết các hộ gia đình ở các thôn khảo sát đều sử dụng nước máy làm nguồn nước sinh hoạt (chiếm hơn 90%). Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều hộ vạn đò ở thôn Thủy Phú sống trên sông nên sử dụng nước sông làm nguồn nước sinh hoạt, tất cả sinh hoạt hằng ngày đều diễn ra trên sông, thải ra sông một lượng chất thải khá lớn làm đoạn sông ở khu vực này bị ô nhiễm nghiêm trọng, phát sinh nhiều vấn đề VSMT. Ngoài ra, còn có nhiều hộ gia đình ở thôn La Khê chủ yếu sử dụng nước giếng làm nguồn nước sinh hoạt.

     Đối với nước thải sinh hoạt (NTSH), hình thức xử lý chủ yếu của người dân là thải xuống cống rãnh thêm vào đó còn có những hình thức xử lý khác như: đổ ra kênh mương, vùng đất trũng, đổ ra sông...

Hình 1. Biểu đồ thể hiện hình thức xử lý NTSH ở 3 thôn Bao Vinh, La Khê, Thủy Phú

     Ở thôn Bao Vinh, 21% các hộ xử lý NTSH theo hình thức đổ ra kênh mương, 16% thải ra vùng đất trũng và 11% theo các hình thức xử lý khác. Trong khi đó các tỷ lệ này ở các thôn La Khê và Thủy Phú chiếm lần lượt là 27%, 31%, 10% và 20%, 16%, 16%.

     Trong khi đó, tỷ lệ hộ gia đình xử lý NTSH theo hình thức thải xuống cống rãnh ở 3 thôn: Bao Vinh, La Khê, Thủy Phú lần lượt là 52%, 31% và 48% (Hình 1)

     Như vậy, lượng nước không được xử lý chảy ra môi trường lớn, ảnh hưởng đến môi trường sống của người dân trong khu vực. Thành phần của nước thải chủ yếu là chất hữu cơ như nước rửa chuồng trại, NTSH…gây mùi hôi thối. Do một số cống rãnh ở khu vực nghiên cứu khá nhỏ, hẹp, không đủ độ sâu và không có nắp đậy nên chưa đủ khả năng tiếp nhận hết lượng nước thải sinh hoạt hằng ngày từ các hộ gia đình gây mùi hôi thối, đặc biệt vào những giờ cao điểm, nước tràn ra khỏi miệng cống ra đường đi làm mất VSMT.

     Ngoài ra, qua kết quả khảo sát thực địa cho thấy, việc sử dụng quá nhiều thuốc trừ sâu, phân bón hóa học trên đồng ruộng, hay việc chăn nuôi gia súc, gia cầm cũng ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn nước và môi trường. Bên cạnh đó các bãi rác chưa được quy hoạch, không đảm bảo điều kiện VSMT, hầu hết các bãi rác trong xã là bãi rác hở, tự phát, không có hệ thống thu nước rỉ rác nên lượng nước này chảy ra khu vực xung quanh và ngấm xuống đất gây ô nhiễm môi trường đất và hệ thống nước mặt, nước ngầm.

     Vấn đề chăn nuôi gia súc cải thiện kinh tế gia đình trong điều kiện đầu tư về chuồng trại không hợp lý, đã thải một lượng phân đáng kể ra môi trường cộng với việc xả thải nước sinh hoạt không đúng cách, đúng chỗ làm ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước mặt và nước ngầm bởi các hàm lượng chất hữu cơ, chất dinh dưỡng và vi sinh vật gây bệnh.

     3.2. Hiện trạng CTR

     Qua kết quả điều tra khảo sát cho thấy, lượng rác một hộ gia đình thải ra trong 1 ngày dao động trong khoảng từ  dưới 1- 3 kg

 

Hình 2. Lượng rác ước tình mỗi ngày mà một hộ gia đình thải ra ở 3 thôn trên địa bàn xã Hương Vinh

     Tỷ lệ rác thải được thu gom ở 3 thôn: Bao Vinh, La Khê, Thủy Phú chiếm lần lượt là 88.6%, 95.7% và 86.7%. Số còn lại được xử lý bằng cách đốt và đổ xuống hố rác trong vườn ở 2 thôn Bao Vinh là Lê Khê, riêng với thôn Thủy Phú thì một số hộ dân vẫn còn thải xuống sông gây ô nhiễm môi trường. Tuy hầu hết CTR được thu gom nhưng số lượng đội thu gom và phương tiện thu gom còn hạn chế, số lần thu gom trong tuần ít, gây quá tải về lượng CTR ở mỗi hộ gia đình dẫn đến việc người dân vứt rác bừa bãi trước sân nhà, sau vườn, nương rẫy, làm phát sinh những bãi rác tự phát, chưa có hệ thống xử lý là một trong những nguyên nhân làm ô nhiễm môi trường nước, không khí, môi trường đất, ảnh hưởng xấu đến cảnh quan, môi trường sống của người dân nông thôn.

     Trong 200 hộ được khảo sát ở 3 thôn, chỉ có 59% các hộ phân biệt được các loại rác thải sinh hoạt, sản xuất và y tế. Con số này với từng thôn Bao Vinh, La Khê, Thủy Phú lần lượt là 70%, 49% và 57%. Tỷ lệ hộ dân phân biệt được các loại rác thải ở 2 thôn La Khê và Thủy Phú thấp, vì vậy công tác thu gom, vận chuyển và xử lý khó khăn, làm ảnh hưởng lớn đến VSMT xung quanh. Đáng lưu ý, ở thôn Bao Vinh, có đến 70% hộ trong thôn không phân biệt được các loại rác thải sinh hoạt, rác thải sản xuất và rác thải y tế. Con số này chiếm tỷ lệ thấp hơn ở thôn La Khê (49%) và thôn Thủy Phú (57%). Mặc khác, người dân chưa ý thức chủ động thu gom rác thải cũng như chưa có trách nhiệm và nghĩa vụ giữ gìn VSMT. Rác thải y tế hiện nay được xử lý đốt hoặc được thu gom chung với rác thải sinh hoạt, đây là giải pháp không đảm bảo về mặt VSMT, gây dịch bệnh cao.

     3.3. VSMT nông thôn

     * ÔNMT do hoạt động chăn nuôi

     Theo khảo sát, có khoảng 28.6% số hộ ở khu vực nông thôn xã Hương Vinh chăn nuôi, trong đó chăn nuôi gia súc (chiếm 15.2%)  và gia cầm (20%). Loại hình chăn nuôi chủ yếu gồm: Chăn nuôi lợn, trâu, bò, gia cầm. Đặc biệt, loại hình chăn nuôi với số lượng lớn nhất, mang lại nhiều hiệu quả kinh tế cao đối với người dân nông thôn là chăn nuôi lợn. Tuy nhiên, chất thải từ hoạt động chăn nuôi lợn, đặc biệt là loại hình chăn nuôi tập trung có quy mô lớn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Hầu hết, các phân thải của các súc vật đều chứa nhiều mầm bệnh. Đàn gia cầm, trâu, bò với hình thức chăn nuôi chủ yếu là thả rong, hoặc trang trại gia đình không được quy hoạch hợp lý nên lượng phân không kiếm soát được gây ô nhiễm không khí và nguồn nước ở các cánh đồng, sông suối, ao hồ nước tù đọng. Ngoài ra, với số lượng lớn các gia súc gia cầm được chăn nuôi có chuồng trại thì đa phần các hộ nuôi không có hố xí chất thải, chỉ có 4%/ 200 hộ được điều tra có sử dụng đến mô hình biogas và 55% các hộ không biết đến mô hình này. Theo thống kê, tỷ lệ các hộ đặt chuồng trại cạnh nhà chiếm 85% và đa phần nước rửa chuồng trại chảy trực tiếp ra vùng đất trũng (49.3%). Phân và nước tiểu thải trực tiếp ra môi trường đất hay thoát xuống ao hồ tù đọng không thoát nước gây ÔNMT nước, môi trường đất và mùi hôi thối bốc lên từ những hố phân này gây ÔNMT không khí và ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống người dân nông thôn. Nguy cơ dịch bệnh gia súc, nhiễm bệnh từ gia súc là mối lo ngại nếu không có các biện pháp quản lý chất thải và vệ sinh chuồng trại. Các bệnh dịch gia súc lớn như lở mồm, long móng… là các bệnh truyền qua vật trung gian từ gia súc cho người.

     * ÔNMT do hố xí không hợp vệ sinh

     Theo số liệu thống kê công tác quản lý đất đai, tài nguyên và môi trường của UBND xã Hương Vinh, tính đến tháng 4/2017, tổng số hộ dân ở khu vực nông thôn có hố xí hợp vệ sinh là 2966 hộ, chiếm 96.9% tổng số hộ của xã Hương Vinh. [2] Theo khảo sát, trên địa bàn xã vẫn còn tồn tại số nhiều loại hố xí thấm dội nước, tuy không phát sinh mùi hôi thối, không phát sinh ruồi nhặng nhưng sẽ làm ÔNMT nước, môi trường đất và một số hộ trên địa bàn hiện nay vẫn còn sử dụng loại hố xí đào cạn. Hố xí cạn chỉ là một hố đào nông xuống mặt đất khoảng nữa mét, phía trên có đậy sơ bằng cây gỗ, sàn tre, đôi khi đơn giản chỉ là hai lóng cây bắt song song. Chung quanh hố được che chắn sơ sài. Sau mỗi lần đi thải người ta phủ nhẹ lên phân một lớp đất hoặc một lớp tro bếp. Sau một khoảng thời gian khoảng 1 - 2 tháng thì hố đầy người ta che kín bằng đất và che đậy bằng một tấm chắn bất kỳ nào họ kiếm được như tấm ni lông, một tấm phên hoặc một vỉ sắt phế thải để chó mèo và các động vật khác không đào bới và người khác lưu ý tránh đào trúng chỗ này (Hình 3). Loại hố xí cạn thoạt tiên có vẻ vệ sinh nhưng thực sự là nguồn gây ô nhiễm đất và nhiễm bệnh từ các loại ruồi nhặng và giun móc tồn tại rất lâu trong đất.

Hình 3. Các phần “lắp ghép” của một hố xí cạn [2]

     Hố xí đào chìm cũng là một dạng hố xí đào dưới đất nhưng sâu hơn hố xí cạn. Nhà vệ sinh chủ yếu được xây dựng bên trong nhà ở nên không bị ngập úng vào những lúc mưa, lũ lụt

(> 70% hộ được phỏng vấn ở thôn Bao Vinh và La Khê) nhưng không đảm bảo được khoảng cách với nguồn nước ăn uống, sinh hoạt quy định từ 10 m trở lên (> 40%).

     * ÔNMT do hoạt động canh tác, phân bón, thuốc BVTV

     Hiện nay, việc sử dụng phân bón hóa học và thuốc BVTV trên địa bàn xã khá phổ biến Các loại hóa chất được sử dụng phổ biến như: phân hóa học, thuốc trừ sâu bệnh, thuốc diệt cỏ, thuốc kích thích sinh trưởng,…Tình hình sử dụng thuốc BVTV ở khu vực nghiên cứu như: Thôn La Khê có tỷ lệ gia đình sử dụng thuốc BVTV cao nhất (chiếm 34.3%) trong khi đó tỷ lệ này ở thôn Bao Vinh và Thủy Phú lần lượt là 12.9%, 25% (Hình 4). Hầu hết tất cả các hộ này đều có trang bị đồ bảo hộ khi sử dụng thuốc BVTV(91.7%), các đồ bảo hộ này chủ yếu là các trang bị thô sơ, có sẵn trong nhà như: khẩu trang, nón lá, mũ, gang tay, ủng…

 

Hình 4. Tình hình sử dụng thuốc BVTV ở 3 thôn khảo sát trên địa bàn xã Hương Vinh

     Việc sử dụng phân hữu cơ (phân chuồng, phân bắc, phân rác hữu cơ) trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã cũng gây nên nhiều bức xúc. Phân hữu cơ cũng là nguồn dinh dưỡng quan trọng bổ sung và ổn định độ phì cho đất, nhưng nếu không được bảo quản và sử dụng đúng sẽ gây ô nhiễm cho môi trường đất, nước và không khí. Hiện nay, trên địa bàn xã Hương Vinh một số bà con nông dân vẫn chưa biết cách bảo quản và sử dụng phân hữu cơ hợp lý.

     Tình hình sử dụng, phân bố mạng lưới bán thuốc BVTV trên địa bàn xã rất phân tán, khó quản lý. Hầu hết hóa chất BVTV có tính độc nguy hiểm đối với sinh vật và con người ở những mức độ khác nhau và bằng nhiều con đường khác nhau. Hóa chất thấm vào trong đất hay bị rửa trôi theo nguồn nước gây ngộ độc thức ăn, làm sức khỏe con người suy giảm, thậm chí gây vô sinh. Những trường hợp đó xảy ra phần lớn là do người nông dân sử dụng thuốc không đúng kỹ thuật và liều lượng.

     Ngoài tàn tích cây trồng ô nhiễm môi trường còn xuất phát từ một lượng lớn các vỏ, hộp, chai lọ đựng thuốc BVTV nằm rải rác trên những cánh đồng, nương rẫy. Lượng thuốc trừ sâu, thuốc BVTV còn vương lại trong các chai lọ này ngấm vào trong nước và đất gây ÔNMT.

     4. Đề xuất các giải pháp cải thiện điều kiện VSMTM ở xã Hương Vinh

     4.1. Cải tạo chuồng trại – Mô hình hầm biogas

     Chuồng trại không hợp vệ sinh là một nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến dịch bệnh cho gia súc, gia cầm. Vì vậy, việc xây dựng chuồng trại hợp vệ sinh là điều cần thiết để đảm bảo lợi ích cho người chăn nuôi và đảm bảo điều kiện VSMT.

     Điều kiện của chuồng chăn nuôi hợp vệ sinh: Chuồng trại phải có nền bê tông hoặc nền ván chắc chắn; có rãnh thoát và thu gom phân, nước tiểu; được xây dựng cách xa nơi sinh hoạt, xa nguồn nước. Đường thoát nước thải từ chuồng nuôi đến khu xử lý chất thải phải kín, đảm bảo dễ thoát nước và không trùng với đường thoát nước khác.

     Lựa chọn vị trí xây dựng chuồng trại hợp lý: Chuồng nuôi xây dựng phải được đảm bảo mỹ quan, tách biệt với nơi sinh hoạt con người, thuận tiện cho quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng, thuận tiện về nguồn nước và thu gom xử lý chất thải, cách xa nơi sinh hoạt và các hoạt động qua lại của con người. Hầm ủ biogas là giải pháp được sử dụng rộng rãi nhất không chỉ giải quyết vấn đề vệ sinh môi trường, tiết kiệm năng lượng mà còn nâng cao sức khỏe cộng đồng dân cư và công tác sản suất nông nghiệp và là biện pháp hữu hiệu để xử lý chất thải và tận dụng được nguồn chất đốt cho sinh hoạt.

     4.2. Cải tạo nhà tiêu hợp vệ sinh

     Việc xây dựng hố xí hợp vệ sinh không chỉ giúp BVMT, ngăn ngừa ô nhiễm, bệnh tật mà còn giúp tạo ra một lượng phân hữu cơ có ích cho nông nghiệp nếu được quản lý và xử lý hợp lý. Một nhà tiêu hợp vệ sinh khi được xây dựng, sử dụng và bảo quản tốt, đúng quy định cần đảm bảo 3 tiêu chuẩn sau: Thu gom và cách ly được với phân người, gia súc, côn trùng (ruồi, muỗi) và môi trường xung quanh (đất, nước, không khí); Xử lý đươc mầm bệnh trong phân, tiêu diệu được các mầm bệnh trong quá trình xử lý (ủ, tự hoại); Tái tạo: Sau quá trình xử lý trong hố xí, nguồn phân này chưa hẳn là đã vô hại, cần được xử lý tiếp bằng cách ủ hay chôn lấp trong đất.

     Nhà tiêu hợp vệ sinh có rất nhiều mô hình khác nhau với những ưu điểm và khả năng áp dụng khác nhau. Hiện nay có 4 loại nhà tiêu hợp vệ sinh phổ biến: (1) Nhà tiêu tự hoại; (2) Nhà tiêu thấm dội nước; (3) Nhà tiêu sinh thái; (4) Nhà tiêu đào có ống thông hơi.

     Dựa vào điều kiện kinh tế - xã hội và thu nhập của người dân xã Hương Vinh,  các mô hình nhà tiêu hợp vệ sinh được đề xuất trong đề tài là nhà tiêu tự hoại và nhà tiêu thấm dội nước.

     4.3. Quản lý rác thải

     * Công tác quản lý

     Thực trạng CTR ở địa bàn nghiên cứu cho thấy cần giải quyết các vấn đề sau: (1) Quy hoạch bãi chôn lấp hợp vệ sinh hợp lý; (2) Phân cấp quản lý CTR; (3) Triển khai các mô hình xử lý rác tại các hộ gia đình; (4) Tuyên truyền nâng cao nhận thức về rác thải và BVMT; (5) Cải tiến, hình thành hệ thống quản lý CTR tại địa phương (6) Nhân rộng mô hình quản lý CTR trên địa bàn xã Hương Vinh, thị xã Hương Trà. Trách nhiệm của mọi người dân là phải tham gia thu gom rác tại hộ gia đình, tạo điều kiện cho dộ thu gom rác hoàn thành tốt công việc, đồng thời hàng tháng phải đóng đủ và đúng lệ phí đã quy định.

     * Phân loại tại nguồn và tồn trữ chất thải

     a. Đối với rác thải tại gia đình: Mỗi hộ gia đình được trang bị hai thùng chứa rác, tự trang bị túi chứa rác cho mình với hai màu tương phản để dễ dàng phân loại. Rác thải sinh hoạt trước khi được đưa đi xử lý, cần được phân loại ngay tại hộ gia đình bao gồm rác hữu cơ dễ phân hủy và rác thải khó phân hủy. Sau khi các hộ gia đình đã phân loại và chứa rác, mỗi hộ gia đình sẽ đem rác đến điểm tập trung rác trong thôn hoặc đổ rác lên xe thu gom rác.

     b. Rác chợ: Đối với rác ở chợ đòi hỏi phải thu gom sạch, không ảnh hưởng đến kinh doanh của các hộ. Nguyên tắc thực hiện rác ở chợ là ngày nào thu gom hết ngày đó, nếu để lại rác ứ đọng nhiều ngày thì sẽ khó khăn trong việc thu gom và vận chuyển, gây ô nhiễm cho các hộ kinh doanh xung quanh. Trong các chợ sẽ đặt các thùng rác cố định trong chợ, và các xe rác lưu động trong mỗi khu vực bán thực phẩm để mọi người có ý thức bỏ rác vào thùng. Những người thu gom sẽ phải lấy đúng giờ và các xe rác đó có chức năng vận chuyển rác từ chợ đến bãi tập kết rác, thuận tiện cho việc thu gom, xử lý rác tại chợ.

     * Đề xuất mô hình thu gom

     a. Đối với rác sinh hoạt

     Để thu gom các loại CTR tại các hộ gia đình tới bãi chôn lấp để xử lý thì cần phải qua công đoạn trung gian, qua các trạm trung chuyển, từ đó rác được chuyển về bãi chôn lấp CTR tập trung. Trong những ngày thu gom CTR phân loại, hộ gia đình sẽ đổ tại thùng rác gia đình rồi đưa ra xe thu gom cơ giới. Sau đó rác từ xe cơ giới vận chuyển đến khu xử lý CTR tập trung.

Hình 5. Mô hình thu gom rác thải sinh hoạt

     b. Đối với rác thải từ chợ

     Do đặc tính thành phần rác thải chợ chủ yếu là thành phần hữu cơ chiếm số lượng cao nhất. Vì vậy phương thức quản lý lượng chất thải này hầu hết cho các chợ là xử lý trực tiếp không cần phân loại tại bãi xử lý.

 

Hình 6. Mô hình thu gom rác thải từ chợ

     * Đề xuất các biện pháp xử lý rác

     a. Thiếp lập bãi chôn lấp hợp vệ sinh

     Rác thải được rải thành từng lớp, đầm nén để giảm thể tích và phủ đất lên (phun hóa chất để tăng hiệu quả xử lý và hạn chế côn trùng) với sơ đồ quy trình như sau:

 

Hình 7. Sơ đồ chôn lấp rác

     b. Chế biến rác thải thành phân compost

     Chế biến rác hữu cơ dễ phân hủy thành phân compost dùng trong nông nghiệp.

     • Quy mô chế biến tập trung: Rác được phân loại, rác hữu cơ dễ phân hủy được tách ly, nghiền, ủ hiếu khí để tạo phân vi sinh.

     • Quy mô hộ gia đình: Rác hữu cơ dễ phân hủy được phân loại riêng và ủ thành phân compost ngay trong sân vườn.

     4.4. Sử dụng hợp lý thuốc BVTV

     Tình hình phân bố mạng lưới bán thuốc BVTV trên địa bàn xã Hương Vinh, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế rất phân tán và khó quản lý. Do đó, việc sử dụng thuốc BVTV để phòng trừ sâu bệnh, bảo vệ cây trồng là biện pháp quan trọng, nhưng để khai thác tốt những mặt tích cực của thuốc BVTV thì cần nâng cao công tác quản lý, đòi hỏi các cơ quan chức năng có chính sách chỉ đạo chặt chẽ mạng lưới bán thuốc BVTV, xây dựng kế hoạch tuyên truyền, tập huấn chuyên môn về thuốc BVTV, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc kinh doanh và sử dung thuốc trên địa bàn, hướng dẫn người nông dân sử dụng thuốc BVTV hợp lý. Khuyến khích các xã xây dựng các bể chứa vỏ, bao thuốc BVTV tại các nơi thuận tiện qua lại để bà con nông dân tự giác bỏ vỏ, bao thuốc BVTV sau khi sử dụng.

     4.5. Các biện pháp hỗ trợ khác

     a. Tuyên truyền và huấn luyện kỹ năng về VSMT

     Nâng cao ý thức tự giác của người dân giúp người dân luôn có ý thức và hành động tự giác giữ gìn môi trường Xanh - Sạch - Đẹp không chỉ ở nhà mà còn phải có ý thức đối với nơi mình sinh sống như: không xả rác bừa bãi, bỏ rác đúng nơi quy định… công việc đó cần thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi, thường xuyên dọn sạch sẽ rác nơi mình sinh sống để có thể có cuộc sống thoải mái, dễ chịu hơn. Đẩy mạnh phong trào: “Toàn dân tham gia BVMT”. Qua phong trào, nâng cao ý thức, trách nhiệm BVMT; tuyên truyền, vận động, thuyết phục người xung quanh cùng tham gia BVMT.

     b. Mở các lớp tập huấn phổ biến các kiến thức cơ ban về VSMT đến từng thôn

     Đối tượng tham gia lớp tập huấn là người dân và cán bộ của xã. Vì đây chính là đối tượng quyết định một môi trường trong lành hay môi trường bị ô nhiễm nơi mình sống.

     5. Kết luận

     Xã Hương Vinh, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế trong nhiều năm qua có nhiều bước phát triển KT-XH, tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề còn tồn tại về mặt môi trường. Người dân trong khu vực còn chưa nhận thức cao về việc giữ gìn vệ sinh chung, nhất là trong sinh hoạt gia đình, sản xuất chăn nuôi… Tình trạng vứt rác, thải nước bừa bãi vẫn còn diễn ra hàng ngày gây ÔNMT và mất mỹ quan vùng nông thôn. Vẫn còn tồn tại các nhà tiêu chưa đảm bảo vệ sinh như không có mái ngăn lợp nước mưa, nhà tiêu không được che chắn xung quanh, đảm bảo mỹ quan, nước mưa có thể tràn vào hố phân. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do đa số các gia đình này chưa đủ điều kiện kinh tế để xây dựng lại nhà vệ sinh.

     Một số hộ gia đình chăn nuôi gia súc, gia cầm với hình thức thả rong gây ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng môi trường cũng như mỹ quan xung quanh ở đây. Đặc biệt, phần lớn chất thải chăn nuôi không được xử lý mà thải trực tiếp ra môi trường gây ra mùi hôi khó chịu, làm ÔNMT đất, không khí, nguồn nước,…

     Hình thức xử lý NTSH chủ yếu ở đây là thải ra cống rãnh. Tuy nhiên, một số hệ thống cống rãnh, thoát nước tại khu vực vẫn chưa đủ độ sâu, khá hẹp nên NTSH khi đổ ra có thể gây tràn cống, bốc mùi. Đặc biệt, cư dân vạn đò do điều kiện sinh sống đặc thù trên sông nước nên đã thải trực tiếp nước thải sinh hoạt xuống sông. Trong khi đó, họ cũng sử dụng chính nguồn nước sông này để phục vụ cho một số mục đích sinh hoạt hằng ngày như tắm rửa, giặt giũ… (không phục vụ mục đích ăn uống). Điều này không chỉ làm giảm chất lượng nguồn nước mặt mà còn gây ra những tác động tiêu cực đến sức khỏe của các hộ dân.

     Việc sử dụng không đúng loại thuốc, không đúng liều lường thuốc BVTV và tình trạng vừa các chai, lọ thuốc BTVT bừa bãi, không đúng nơi quy định của đa phần người dân nông thôn đã gây tác động xấu đến môi trường và sức khỏe người dân.

 

Lê Thị Phương Chi, Nguyễn Huy1

1Trường Đại học Khoa học - Đại học Huế

(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường, số Chuyên đề Tiếng việt 2/2020)

     TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Báo cáo tình hình KT-XH năm 2018 và Kế hoạch phát triển KT-XH năm 2019 của UBND xã Hương Vinh.

[2] Báo cáo về công tác quản lý đất đai, tài nguyên và môi trường trên địa bàn xã Hương Vinh, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Năm 2017

State of and solutions to improve environmental sanitation conditions in Hương Vinh commune, Hương Trà town, Thừa Thiên - Huế province

Lê Thị Phương Chi, Nguyễn Huy

Hue University of Sciences

       Abstract

     In recent years, Hương Vinh commune, Hương Trà town, Thừa Thiên - Huế province has made rapid economic and social development, people’s living standards have been improved, however there are still some environmental issues. Due to backward living and production practices, inappropriate use of latrines has made the environment increasingly polluted. Poor environmental sanitation is a cause of serious health consequences for people. Therefore, the Thematic study “State of and solutions to improve environmental sanitation conditions in Hương Vinh commune, Hương Trà town, Thừa Thiên - Huế province” is implemented to give an overview of environmental sanitation conditions and to propose solutions to contribute to improving environmental sanitation conditions for the study area.

       Key words: Environmental sanitation, Thừa Thiên - Huế.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ý kiến của bạn