Banner trang chủ
Thứ Ba, ngày 28/06/2022

Định hướng chuyển đổi mô hình phát triển bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long

07/12/2017

     Sau hơn 30 năm tiến hành “đổi mới” và chuyển đổi cơ chế phát triển kinh tế, đến nay, phương thức phát triển đã lỗi thời, cùng với những thách thức đối với sự phát triển của vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) như tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH), ảnh hưởng ngoại biên, nhất là sự can thiệp của con người trên dòng sông Mê Kông… đòi hỏi chúng ta phải có một tầm nhìn mới để định hướng chuyển đổi quy mô lớn cho mô hình phát triển vùng ĐBSCL, đảm bảo tính bền vững.

1. Cơ hội và thách thức đối với sự phát triển của vùng ĐBSCL

1.1. Cơ hội

     Toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ, mở ra cơ hội tiếp cận thị trường và chuyên giao công nghệ trong sản xuất, nâng cao chất lượng, tăng sức mạnh cạnh tranh về giá sản phẩm. Đồng thời, sự chuyển đổi mô hình tăng trưởng, tái cấu trúc các ngành kinh tế của đất nước sẽ được đẩy mạnh, hệ thống hạ tầng được quan tâm đầu tư, thể chế chính sách được hoàn thiện, nguồn nhân lực đã có sự thay đổi về số lượng và chất lượng; khoa học và công nghệ ngày càng được quan tâm đầu tư, mở ra khả năng biến thách thức về tự nhiên thành cơ hội phát triển kinh tế - xã hội (KT - XH). Mức thu nhập của vùng và người dân ở ĐBSCL so với thập niên 90 và những năm 2.000 cũng tăng lên. Mặt khác, sự quan tâm của quốc tế đối với vùng ĐBSCL, nhất là tác động của BĐKH và duy trì hệ sinh thái đất ngập nước đặc trưng của vùng với những loài động vật quý hiếm như sếu đầu đỏ, tràm chim, các loài dơi… Tăng trưởng xanh, phát triển nền kinh tế xanh hướng đến phát triển bền vững là xu hướng chung toàn cầu và cũng là cam kết của Việt Nam.

1.2. Thách thức

     Từ khi con người bắt đầu khai phá ĐBSCL đến nay, trải qua nhiều giai đoạn và thể chế khác nhau, hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa. Tuy nhiên, đối với sự phát triển và định hướng cho vùng ĐBSCL cũng cần phải có một thể chế đặc thù cho vùng, các địa phương trong vùng với những đặc điểm tự nhiên, KT - XH, nhằm tạo động lực cho phát triển vùng, đảm bảo đúng hướng và bền vững, đây là một thách thức lớn.

     Bên cạnh đó, sự hạn chế trong nhận thức của cấp ủy đảng, chính quyền; ý thức trách nhiệm về BVMT, ứng phó với BĐKH của các lãnh đạo, cán bộ và người dân chưa cao; hành vi của người dân, thái độ ứng xử của xã hội đối với khai thác và sử dụng tài nguyên, BVMT chưa phù hợp. Trong khi đó, trình độ phát triển của vùng ĐBSCL còn ở mức thấp, tiềm lực kinh tế chưa mạnh, tăng trưởng đang có biểu hiện chậm lại, nguồn lực tài chính hạn chế, hạ tầng kỹ thuật yếu kém, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển mới ; Tổ chức lãnh thổ và cơ cấu  ngành nghề sản xuất của vùng  tồn tại nhiều bất cập, chưa đánh giá đúng các điều kiện tự nhiên, KT - XH của ĐBSCL để có thể có những giải pháp phù hợp với sự vận hành của thể chế kinh tế thị trường. Cơ sở hạ tầng của vùng phát triển kém, chưa phù hợp với đặc thù của vùng, đặc biệt là hệ thống giao thông, điện, hệ thống cấp nước, trường học và trạm y tế… ảnh hưởng đến sự phát triển KT - XH của vùng.

     Mặt khác, BĐKH đã và đang tác động mạnh đến vùng ĐBSCL, với diễn biến phức tạp và nhanh hơn so với dự báo. Các hiện tượng thiên tai cực đoan như bão, hạn hán, nước biển dâng, xâm nhập mặn diễn biến thất thường, cực đoan hơn. Trong khi, các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong vùng tiếp tục bị suy giảm và cạn kiệt, nhất là tài nguyên không tái tạo; an ninh nguồn nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng do tác động BĐKH trên toàn lưu vực sông Mê Kông và bị chi phối mạnh bởi hoạt động khai thác quá mức, trái quy luật tự nhiên của các quốc gia khu vực thượng nguồn sông. Đất đai đã có nhiều thay đổi do quá trình khai thác phát triển kinh tế trong một thời gian dài, gia tăng diện tích bị nhiễm mặn, phèn, thoái hóa và ô nhiễm do sử dụng nhiều hóa chất và thuốc bảo vệ thực vật.

     Ngoài ra, hệ sinh thái tự nhiên của vùng ĐBSCL cũng bị suy giảm, diện tích rừng ngập mặn bị mất dần, tình trạng xói lở bờ biển, đa dạng sinh học giảm sút, có loài tuyệt chủng hoàn toàn như trâu rừng, hệ sinh thái nước ngọt, nước lợ và nước mặn đều trong tình trạng chung là suy giảm. Tình trạng ô nhiễm nguồn nước, chất thải rắn gia tăng nhanh trong khi sức chịu tải của vùng hạn chế cũng là những thách thức đối với khu vực ĐBSCL.

2. Đề xuất định hướng đổi mới mô hình phát triển bền vững vùng ĐBSCL

2.1.  Đổi mới tổ chức lại không gian lãnh thổ

     Việc chuyển đổi mô hình phát triển phải dựa vào nền tảng tự nhiên (đất và nước), thích ứng với BĐKH là cơ sở tiền đề, là yếu tố tác động bên ngoài và xu thế phát triển chung về KT - XH của vùng ĐBSCL cần phải được đặt trong bối cảnh thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo đó, tổ chức lại không gian và lãnh thổ để xác lập mô hình khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên vùng ĐBSCL dựa trên đặc trưng sinh thái vùng, nhất là đất, nước gắn với con người và xét trong bối cảnh thích ứng BĐKH, cùng với các tác động ngoại biên; Chú trọng phát huy thế mạnh của các tiểu vùng dựa trên đặc trưng sinh thái tự nhiên, thích ứng với BĐKH và tác động kép từ ngoại biên (vùng ngập lũ: ngập sâu và kéo dài từ 2 - 3 tháng/năm; vùng giữa: vùng phù sa nước ngọt, ngập nông và nhiễm mặn nhẹ; vùng ven biển: trên 6 tháng bị nhiễm mặn ở các mức độ).

     Đồng thời, dựa vào dự báo của kịch bản BĐKH vùng ĐBSCL, việc ứng phó với nước biến dâng là không tránh khỏi từ nay cho đến 100 năm nữa, gắn với quy luật phát triển KT - XH  theo lãnh thổ để giải quyết trong ngắn hạn và dài hạn, cần xác định rõ những cực tăng trưởng của vùng đã có và sẽ xuất hiện. Cực tăng trưởng thường gắn với những khu đô thị, công nghiệp, bến cảng, sân bay nơi mà chúng ta đã và sẽ đầu tư phát triển, cần hướng đến giải pháp cứng (giải pháp công trình). Đối với những khu vực phát triển nông nghiệp và duy trì hệ sinh thái tự nhiên cần ưu tiên sử dụng giải pháp mềm (giải pháp phi công trình), biến thách thức thành cơ hội “sống chung với nước biển dâng và xâm nhập mặn” để chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp. Song song với đó, tổ chức không gian biển và ven bờ thành không gian mở ra biển của vùng, đảm bảo phát triển KT - XH gắn với an ninh, quốc phòng dựa trên đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, thích ứng với BĐKH và vị thế của vùng.

2.2. Chuyển đổi cơ cấu ngành của vùng ĐBSCL

     Bên cạnh việc tổ chức lại không gian, cần đổi mới cách tiếp cận phát triển cơ sở hạ tầng của vùng dựa trên đặc trưng tự nhiên, tác động của BĐKH và nhu cầu phát triển KT - XH trong tương lai. Vì đây là vùng có địa hình thấp, trũng, lưu thông luân chuyển nguồn nước và nền đất yếu, nên cần phải thiết kế hệ thống đường giao thông phù hợp trong một mạng lưới liên thông, quy hoạch gắn kết các loại đường phù hợp, đường bộ, thủy, ven biển, đường sắt để có sự hỗ trợ và bổ sung cho nhau. Đồng thời, đổi mới mô hình tổ chức lãnh thổ phát triển nông nghiệp với tầm nhìn dài hạn dựa trên đặc trưng sinh thái của vùng theo hướng nâng cao chất lượng, lựa chọn sản phẩm giá trị cao trên cơ sở áp dụng khoa học, kỹ thuật công nghệ, đáp ứng nhu cầu thị trường, đạt mục tiêu hiệu quả KT - XH và môi trường. Trước hết là mô hình nông nghiệp lúa nước, thủy sản nuôi và tự nhiên, cây ăn quả có giá trị cao; Đổi mới mô hình tổ chức lãnh thổ phát triển công nghiệp dựa trên đặc điểm tự nhiên của vùng, lựa chọn ngành nghề phù hợp, ưu tiên phát triển công nghiệp xanh, ít phát thải, không gây tổn hại đến hệ sinh thái tự nhiên, đáp ứng đúng nhu cầu thị trường, mang lại hiệu quả tổng thể lớn nhất. Trước hết là mô hình công nghiệp chế biến gắn với nông sản, thủy sản và chế biến hoa quả tạo thành chuỗi giá trị của vùng đáp ứng nhu cầu thị trường cần; Đổi mới mô hình tổ chức lãnh thổ phát triển dịch vụ - du lịch dựa trên đặc điểm tự nhiên, sinh thái của vùng theo hướng lựa chọn những sản phẩm mang lại hiệu quả kinh tế cao (tiếp cận theo chuỗi giá trị), định hướng theo nhu cầu thị trường. Trước hết là các ngành dịch vụ ngân hàng, tài chính, thương mại gắn với quảng bá, tiếp thị sản phẩm nông sản và hải sản của vùng, giảm bớt các khâu trung gian; phát triển các loại hình du lịch miệt vườn, du lịch sông nước, du lịch sinh thái gắn với các khu bảo tồn thiên nhiên…

2.3. Tăng cường mô hình liên kết địa phương và vùng dựa trên lợi thế so sánh của từng địa phương, cũng như toàn vùng ĐBSCL

     Cần có sự liên kết giữa các địa phương trong vùng dựa trên đặc trưng sinh thái, tiềm năng tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, hạ tầng và phát huy ưu thế của các địa phương để bổ sung cho nhau, trên nguyên tắc “đôi bên cùng có lợi”, cùng phát triển, lấy động lực KT - XH để liên kết; Liên kết giữa ĐBSCL với TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh khác của vùng Đông Nam Bộ (liên kết này chủ yếu là dịch vụ và trao đổi hàng hóa); Liên kết giữa vùng ĐBSCL với các vùng khác trong cả nước dựa trên ưu thế tự nhiên tạo ra sản phẩm của vùng có chất lượng cao và giá cạnh tranh, tùy theo từng vùng để xác lập mô hình liên kết phù hợp và đảm bảo tính hiệu quả kinh tế cao.

2.4. Hợp tác quốc tế cho phát triển ĐBSCL

     Đổi mới mô hình hợp tác quốc tế dựa trên cơ sở đồng thuận, cùng có lợi; duy trì hệ sinh thái vùng trong bối cảnh BĐKH, thực hiện tăng trưởng xanh, xây dựng nền kinh tế xanh của vùng, hướng đến phát triển bền vững.

     Tóm lại, từ thực tiễn phát triển các mô hình trước đây, dựa trên lợi thế và khả năng chịu tải của vùng ĐBSCL, đặc trưng về tự nhiên, KT - XH và thể chế kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa, khắc phục thách thức, tận dụng cơ hội để chuyển đổi mô hình phát triển vùng ĐBSCL sang mô hình kinh tế xanh, hướng đến phát triển bền vững. Việc chuyển đổi mô hình phát triển bên vững của vùng cơ bản là chuyển đổi về tổ chức không gian lãnh thổ và cơ cấu sản xuất ngành nghề trong vùng, phải dựa trên nền tảng tự nhiên nhất là đất, nước và con người, xét trong bối cảnh BĐKH và những tác động ngoại biên đến vùng. Để có sự chuyển đổi mô hình định hướng đúng và hiệu quả, cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng từ nguồn gốc hình thành vùng, đặc biệt là từ khi con người bắt đầu di cư đến, khai phá, phát triển vùng (khoảng hơn 300 năm trước), trên cơ sở nghiên cứu lịch sử và quá trình khai phá vùng ĐBSCL, tiếp tục nghiên cứu bài bản, từng ngành, từng lĩnh vực, từng tiểu vùng và toàn vùng, từ đó có một chiến lược tổng thể và xây dựng các chương trình phát triển cho ngắn hạn 5-10 năm, cũng như dài hạn 50-100 năm sau.

 

PGS. TS. Nguyễn Thế Chinh - Viện trưởng

TS. Đặng Trung Tú, TS. Nguyễn Sỹ Linh

Viện Chiến lược, chính sách TN&MT

(Tạp chí Môi trường số chuyên đề III năm 2017)

Ý kiến của bạn