Banner trang chủ
Chủ Nhật, ngày 29/05/2022

Đề xuất trình tự xác định khu vực nhận chìm chất nạo vét ở biển Việt Nam – Bài học kinh nghiệm tại một số nước trên thế giới

22/07/2020

     Tóm tắt: Việc xác định khu vực nhận chìm chất nạo vét ở biển là đảm bảo sử dụng lâu bền khu vực biển theo chức năng, để hài hòa lợi ích của các ngành/người sử dụng tài nguyên vùng biển, trong khi vẫn đảm bảo các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững. Việc xác định khu vực biển nhằm cung cấp lộ trình và cơ chế để thực hiện các kế hoạch, chương trình hành động phát triển biển một cách hiệu quả, đồng thời tăng cường sự phối hợp của các bên liên quan trong quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên và BVMT.

     Từ khóa: Nhận chìm ở biển; nhận chìm; nhận chìm chất nạo vét; Chất nạo vét; trình tự xác định khu vực nhận chìm ở biển.

     Nhận bài: 27/5/2020; Sửa chữa:8/6/2020; Duyệt đăng: 12/6/2020

     1. Mở đầu

     Theo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, “nhận chìm ở biển” được định nghĩa là sự đánh chìm hoặc trút bỏ có chủ định xuống biển các vật, chất được nhận chìm ở biển. Trong thực tế, nhu cầu nạo vét, duy tu các tuyến luồng hàng hải (cho nhận chìm xuống biển) của các Dự án xây dựng cảng, công trình biển hay nạo vét, duy tu thường xuyên, hàng năm nhằm đáp ứng yêu cầu cấp thiết của việc vận chuyển an toàn hàng hóa xuất, nhập khẩu trong phạm vi cả nước là rất lớn.

     Đối với chất nạo vét này, ngoài việc đổ thải vào khu vực cần san lấp mặt bằng ven biển và các dự án lấn biển, lượng còn lại được đổ ra biển nên cần thiết phải thiết lập các khu vực nhận chìm trên biển trước để đáp ứng nhu cầu nạo vét thực tế, đồng thời vẫn bảo đảm được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và BVMT một cách bền vững. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam đang triển khai xây dựng hệ thống các cảng biển theo Quyết định số 2190/QĐ-TTg ngày 24/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Việc xác định khối lượng và phương án lựa chọn vị trí nhận chìm vật liệu nạo vét duy tu các tuyến luồng hàng hải là cần thiết nhằm giải quyết các bất cập, tạo thuận lợi, nhanh chóng và hiệu quả trong thực hiện công tác nạo vét duy tu đáp ứng yêu cầu vận chuyển hàng hóa xuất, nhập khẩu; tăng tính chủ động trong việc thực hiện công tác nạo vét, đảm bảo duy trì độ sâu các luồng theo chuẩn tắc thiết kế.

     2. Kinh nghiệm quốc tế trong xác định khu vực nhận chìm ở biển

     Ôxtrâylia: Sau khi phê chuẩn Nghị định thư năm 1996, Ôxtrâylia đã xây dựng và sửa đổi Luật BVMT vào năm 2000. Luật quy định các vật, chất được nhận chìm phù hợp với quy định của Công ước Luân đôn năm 1972 và Nghị định thư năm 1996. Ôxtrâylia cũng là nước có quy định chặt chẽ đối với việc cấp phép nhận chìm cho từng loại vật, chất xin phép nhận chìm. Theo đó, đơn xin phép nhận chìm ở biển phải trình bày thông tin chi tiết về tổ chức, cá nhân xin phép nhận chìm; khối lượng vật, chất xin được nhận chìm; đặc tính (vật lý, hóa học, sinh học, độc tính) của vật, chất xin phép nhận chìm; thông tin về khu vực nhận chìm; quy trình nhận chìm và đánh giá tác động của nhận chìm đến môi trường; quan trắc, giám sát hoạt động nhận chìm... Bên cạnh đó, Ôxtrâylia cũng xây dựng hướng dẫn kỹ thuật để đánh giá vật, chất xin phép nhận chìm như hướng dẫn đánh giá đối với vật liệu nạo vét, chất thải của thủy sản và các loại vật chất khác.

     Niu-Di-Lân: Trên cơ sở Công ước Luân đôn năm 1972 và Nghị định thư năm 1996, Niu-Di-Lân đã xây dựng và ban hành quy định cụ thể về quản lý hoạt động nhận chìm ở biển, đặc biệt là Đạo luật về vùng đặc quyền kinh tế và xả thải, nhận chìm. Hiện tại, Niu-Di-Lân có 11 khu vực quy hoạch cho nhận chìm và các dự án chỉ được thực hiện trong các khu vực này. Nếu dự án nhận chìm trong vòng 12 hải lý, chính quyền địa phương sẽ cấp giấy phép. Ngoài 12 hải lý, Cơ quan BVMT quốc gia sẽ cấp giấy phép và giám sát hoạt động nhận chìm. Niu-Di-Lân cũng xây dựng các hướng dẫn đánh giá vật, chất xin phép nhận chìm như vật liệu nạo vét, chất thải từ thủy sản, chế biến thủy sản và các vật, chất khác. Năm 2013, Niu-Di-Lân đã cấp 2 giấy phép cho nhận chìm vật liệu nạo vét, 1 giấy phép cho các công trình nhân tạo ở biển và 1 giấy phép đối với vật chất vô cơ có nguồn gốc tự nhiên.

     Trung Quốc: Căn cứ theo Điều 153 Luật cơ bản của Trung Quốc, Chính phủ đã mở rộng phạm vi áp dụng Nghị định thư năm 1996 cho Hồng Công và có hiệu lực từ ngày 29/10/2006. Kể từ khi gia nhập Nghị định thư năm 1996, Trung Quốc đã sửa đổi luật pháp để phù hợp với các quy định của Nghị định thư như Luật BVMT biển; quy định về quản lý nhận chìm chất thải ở biển; quy định về quản lý, ngăn ngừa ô nhiễm gây ra bởi các công trình xây dựng ở biển… Trung Quốc cũng quy hoạch các khu vực nhận chìm và các hoạt động nhận chìm chỉ được thực hiện tại các vị trí đã được quy hoạch. Năm 2010, Trung Quốc có 52 khu vực nhận chìm, trong đó có 5 khu vực nhận chìm tại biển Đông. Năm 2013, Trung Quốc đã cấp 343 giấy phép cho nhận chìm vật liệu nạo vét với khối lượng nhận chìm là khoảng 208 triệu m3. Cơ quan Quản lý đại dương Trung quốc có trách nhiệm cấp phép và giám sát việc nhận chìm vật, chất ở biển.

     Philipin: Philipin là quốc gia Đông Nam Á đầu tiên gia nhập và phê chuẩn Công ước Luân đôn năm 1972 và Nghị định thư năm 1996. Trên cơ sở đó, năm 2014, Philipin đã xây dựng và ban hành Thông tư quy định chi tiết các hướng dẫn về trình tự, thủ tục nhận chìm trên vùng biển. Theo đó, đơn xin phép nhận chìm ở biển, đại dương đòi hỏi phải trình bày chi tiết các thông tin như đặc tính (vật lý, hóa học, sinh học) vật liệu xin phép nhận chìm; đặc tính của khu vực nhận chìm và phương pháp nhận chìm, đánh giá các tác động của hoạt động nhận chìm; các lựa chọn khác về xử lý vật, chất nếu như hoạt động nhận chìm không được cấp phép, cũng như việc quan trắc, giám sát hoạt động nhận chìm.

     Tại Việt Nam hiện nay đã có một số văn bản pháp quy liên quan đến hoạt động nhận chìm ở biển, trong đó phải kể đến Luật BVMT năm 2005, tại khoản 4 Điều 57 đã quy định “Nghiêm cấm mọi hình thức đổ chất thải trong vùng biển nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Tuy nhiên, Luật BVMT năm 2014 đã quy định cho phép hoạt động nhận chìm trong vùng biển Việt Nam tại Khoản 3, Điều 50 “Việc nhận chìm, đổ thải ở biển và hải đảo phải căn cứ vào đặc điểm, tính chất của loại chất thải và phải được phép của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền”. Mặc dù vậy, quy định này chỉ mang tính quy định khung, không có quy định chi tiết và Luật cũng không giao cho cơ quan nào hướng dẫn chi tiết nội dung này, do vậy, quy định không được triển khai trong thực tế.

     Cùng với đó, Luật Biển Việt Nam năm 2012 cũng chỉ đề cập ngắn gọn đối với vấn đề nhận chìm ở biển. Cụ thể tại Khoản 3 Điều 35 của Luật quy định “tàu, thuyền, tổ chức, cá nhân không được thải, nhận chìm hay chôn lấp các loại chất thải công nghiệp, chất thải hạt nhân hoặc các loại chất thải độc hại khác trong vùng biển Việt Nam”. Trong khuôn khổ Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, có hiệu lực từ ngày 1/7/2016 và kèm theo đó là Nghị định số 40/2016/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. Tại Mục 3 Chương VI của Luật quy định về nhận chìm ở biển với 7 Điều: Yêu cầu đối với việc nhận chìm; vật chất được nhận chìm ở biển; giấy phép nhận chìm; cấp, cấp lại, gia hạn, sửa đổi, bổ sung, trả lại Giấy phép nhận chìm; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân được cấp Giấy phép nhận chìm; kiểm soát hoạt động nhận chìm; nhận chìm ngoài vùng biển Việt Nam gây thiệt hại tới TN&MT biển và hải đảo Việt Nam. Ngoài ra, Nghị định số 40/2016/NĐ-CP có Chương VIII gồm 12 điều (từ Điều 49 - 60) quy định về nhận chìm, bao gồm quy định chi tiết hồ sơ, trình tự thủ tục cấp, cấp lại, gia hạn, sửa đổi, bổ sung, trả lại Giấy phép nhận chìm ở biển cũng như chấm dứt hiệu lực Giấy phép nhận chìm ở biển... Đặc biệt, Thông tư số 28/2019/TT-BTNMT ngày 31/12/2019 của Bộ TN&MT, bao gồm quy định kỹ thuật đánh giá chất nạo vét và xác định khu vực nhận chìm chất nạo vét ở vùng biển Việt Nam.

 

 

     Vùng biển Việt Nam bao gồm nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam. Lãnh hải là vùng biển có chiều rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở ra phía biển (Luật Biển Việt Nam, 2012). Vùng nội thủy và lãnh hải Việt Nam được thể hiện trong hình sau:

     3. Kết quả và thảo luận

    Cùng với định hướng phát triển kinh tế biển xanh, ở Việt Nam, hoạt động nhận chìm cũng là hoạt động thường xuyên, đặc biệt là nhận chìm sản phẩm nạo vét luồng lạch tại các cảng biển, các khu vực cửa sông; nhận chìm chất thải của các khu công nghiệp, khu kinh tế ven biển. Ngoài ra, việc nhận chìm do các hoạt động diễn ra trên biển là không thể tránh khỏi. Từ thực tế đó, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo mới được thông qua đã quy định việc nhận chìm ở biển phải được cấp phép. Để tiến hành nhận chìm cũng như cấp phép nhận chìm thì việc xác định vị trí, ranh giới, tọa độ, diện tích,… khu vực biển được phép nhận chìm và các tác động của hoạt động nhận chìm tới các hệ sinh thái, môi trường biển và các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên biển khác đóng vai trò hết sức quan trọng. Căn cứ trên tình hình thực tế quản lý, hiện trạng môi trường, tài nguyên thiên nhiên biển Việt Nam, đồng thời tham khảo kinh nghiệm, kỹ thuật đã được áp dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới, việc xác định khu vực nhận chìm chất nạo vét ở biển bao gồm 4 bước như sau:

     Bước 1. Thu thập, tổng hợp thông tin, tài liệu, dữ liệu phục vụ xác định khu vực có thể nhận chìm chất nạo vét

     Thông tin chung về khu vực có thể nhận chìm chất nạo vét bao gồm: Vị trí, tọa độ khu vực, khoảng cách tới bờ biển, hải đảo và tới khu vực nạo vét, diện tích, độ sâu;

     Đặc tính khối nước của khu vực có thể nhận chìm chất nạo vét và vùng phụ cận, bao gồm: Độ sâu; đặc tính phân tầng theo mùa và các điều kiện thời tiết khác nhau; đặc điểm sóng, gió, thủy triều, dòng chảy biển; biến thiên nhiệt độ, độ muối, pH và oxy hòa tan theo độ sâu: chất rắn lơ lửng, độ đục hoặc độ trong suốt của khối nước;

     Thông tin, tài liệu, dữ liệu về đặc điểm đáy biển bao gồm: Địa hình đáy biển; cấp phối hạt trầm tích: đặc điểm vận chuyển bùn cát đáy, bồi tụ, xói lờ đáy; hóa học trầm tích; hình ảnh, video đại diện đáy biển khu vực;

     Thông tin, tài liệu, dữ liệu về các hệ sinh thái của khu vực có thể nhận chìm chất nạo vét và vùng phụ cận bao gồm: Thông tin chung về các loài động, thực vật khu vực có thể nhận chìm chất nạo vét; hệ động vật thân mềm ở các khu vực đáy mềm, đáy cứng: hệ cá đáy ở các khu vực đáy mềm, đáy cứng: phân bố của một số hệ sinh thải đặc thù gồm rạn san hô, cỏ biển;

     Hiện trạng môi trường khu vực có thể nhận chìm chất nạo vét;

     Lịch sử hoạt động nhận chìm chất nạo vét; thông tin về thiết bị, phương tiện vận chuyển chất nạo vét đến nơi nhận chìm;

     Các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên biển tại khu vực có thể nhận chìm chất nạo vét và vùng phụ cận;

     Các thông tin, tài liệu, dữ liệu khác có liên quan.

     Bước 2. Đề xuất các khu vực khả thi nhận chìm chất nạo vét

     Các khu vực biển đề xuất sử dụng để nhận chìm chất nạo vét phải bảo đảm các yêu cầu: Không gây ra tác động có hại đến sức khỏe con người, tiềm năng phát triển kinh tế của đất nước; hạn chế tối đa ảnh hưởng xấu tới môi trường, hệ sinh thái biển, nguồn lợi thủy sản theo quy định pháp luật; Không gây ảnh hưởng đến an toàn sử dụng công trình cảng biển và luồng hàng hải, các công trình dầu khí, đường cáp quang, cáp điện ở biển, hoạt động của tổ chức cộng đồng thực hiện đồng quản lý trong bảo vệ nguồn lợi thủy sản và các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên hợp pháp khác của tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật; Không ảnh hưởng đến các hoạt động quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia trên biển.

     Việc đề xuất khu vực khả thi để nhận chìm chất nạo vét dựa trên các yếu tố: Bảo đảm hải hòa giữa chi phí cho việc nhận chìm, các lợi ích thu được và mục tiêu BVMT biển; Điều kiện thời tiết biển theo mùa và chủng loại, thông số kỹ thuật của các phương tiện, trang thiết bị dùng để vận chuyển và nhận chìm chất nạo vét; Các quy định bảo đảm an toàn hàng hải hiện hành; Chi phí vận chuyển và thi công việc nhận chìm chất nạo vét; Các ranh giới hành chính và các ranh giới trên biển có liên quan; Khả năng kiểm tra, giám sát, quan trắc khu vực nhận chìm chất nạo vét.

     Ranh giới, diện tích khu vực biển đề xuất nhận chìm chất nạo vét được xác định bởi đường khép kín bao gồm các đoạn thẳng nối các điểm khép góc có tọa độ cụ thể và được thể hiện bằng sơ đồ khu vực biển trên nền bản đồ địa hình đáy biển với tỷ lệ thích hợp.

     Bước 3. Đánh giá chi tiết các khu vực đề xuất nhận chìm chất nạo vét

     3.1. Đánh giá các đặc trưng, đặc tính vật lý, hóa học, sinh học của các khu vực đề xuất nhận chìm chất nạo vét

     Các thông tin mô tả tổng quan về khu vực đề xuất nhận chìm chất nạo vét ở biển bao gồm: Vị trí địa lý hành chính; tọa độ, ranh giới, diện tích của khu vực đề xuất nhận chìm chất nạo vét; Lịch sử hoạt động nhận chìm chất nạo vét tại khu vực đề xuất và vùng phụ cận; Các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên, môi trường biển đã hoặc đang diễn ra tại khu vực đề xuất nhận chìm chất nạo vét và vùng phụ cận có thể ảnh hưởng đến chất lượng trầm tích; Các đặc trưng hoặc hoạt động tại khu vực đề xuất nhận chìm chất nạo vét có khả năng gây ảnh hưởng đến quá trình lan truyền, di chuyển của trầm tích; Thông tin, tài liệu, dữ liệu về sự cố tràn dầu, hóa chất độc tại khu vực đề xuất nhận chìm chất nạo vét và vùng phụ cận.

     Các đặc trưng, đặc tính vật lý, hóa học, sinh học của khối nước tại khu vực đề xuất nhận chìm chất nạo vét và vùng phụ cận bao gồm: Địa hình đáy biển chi tiết tại các khu vực đề xuất nhận chìm chất nạo vét và vùng phụ cận; Dự báo nhiệt độ nước, độ muối tại thời gian nhận chìm chất nạo vét và biến động theo thời gian theo mùa của các đặc trưng này; Dự báo độ đục nền, oxy hòa tan và biến động tự nhiên của các đặc trưng này tại thời điểm nhận chìm; biến động theo thời gian, theo mùa của các đặc trưng này; Đánh giá dòng chày theo mùa, đặc điểm triều, chế độ sóng và đặc điểm nước trồi, nước chìm của các khu vực đề xuất nhận chìm chất nạo vét và vùng phụ cận; đánh giá khả năng phát tán chất nạo vét của các khu vực đề xuất nhận chìm và vùng phụ cận; Các khu vực sinh sống và sự biển động theo không gian, thời gian của các loài sinh vật biển tại các khu vực này; Mô tả nguồn lợi thủy sản bao gồm các loài nhạy cảm đã biết, các sinh cảnh tại khu vực nạo vét, khu vực đề xuất nhận chìm và các vùng phụ cận.

     Các đặc trưng, đặc tính vật lý, hóa học, sinh học của trầm tích tại khu vực đề xuất nhận chìm chất nạo vét và vùng phụ cận: Cấp phối hạt, độ ẩm và tổng cacbon hữu cơ; Hàm lượng các chất ô nhiễm trong trầm tích theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng trầm tích hiện hành; Đặc điểm quần xã sinh vật đáy tại khu vực đề xuất nhận chìm chất nạo vét và vùng phụ cận; Tích lũy sinh học đối với các kim loại nặng, chất hữu cơ khó phân hủy, thuốc trừ sâu và các chất gây ô nhiễm khác.

     3.2. Đánh giá mức độ ảnh hưởng của hoạt động nhận chìm chất nạo vét tới tài nguyên, môi trường, hệ sinh thái biển và các hoạt động kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh tại các khu vực đề xuất nhận chìm và vùng phụ cận

     Xây dựng các kịch bản nhận chìm chất nạo vét bao gồm các yếu tố: Tổng lượng chất nạo vét tối đa dự kiến có thể nhận chìm tại khu vực đề xuất nhận chìm, tính bằng tấn hoặc m3; Tốc độ nhận chìm chất nạo vét theo thời gian, tính bằng tấn/giờ hoặc m3/giờ; Thời gian một đợt nhận chìm và tần suất các đợt nhận chìm theo thời gian; Tốc độ bình quân của phương tiện dùng để nhận chìm chất nạo vét, tính bằng hải lý/giờ hoặc km/giờ; Tuyến nhận chìm trong phạm vi khu vực đề xuất nhận chìm; Tổng thời gian hoàn thành hoạt động nhận chìm ở biển.

     Đánh giá các ảnh hưởng của hoạt động nhận chìm chất nạo vét tới tài nguyên, môi trường, hệ sinh thái biển, bao gồm: Các ảnh hưởng tới đáy biển, khối nước biển, các hệ sinh thái biển khu vực đề xuất nhận chìm chất nạo vét và vùng phụ cận.

     Việc đánh giá mức độ ảnh hưởng của hoạt động nhận chìm chất nạo vét tới các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên, môi trường biển phải được tiến hành thông qua các công cụ, phương pháp khai thác kiến thức của chuyên gia đối với từng hoạt động theo các mức: Ảnh hưởng thấp; Ảnh hưởng trung bình; Ảnh hưởng cao.

     Bước 4. So sánh, lựa chọn, xác định các khu vực có thể nhận chìm chất nạo vét.

     Việc so sánh các khu vực có thể nhận chìm được tiến hành dựa trên kết quả đánh giá mức độ ảnh hưởng của hoạt động nhận chìm chất nạo vét tới tài nguyên, môi trường, hệ sinh thái biển và các hoạt động kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh tại các khu vực đề xuất nhận chìm và vùng phụ cận, căn cứ vào nội dung yêu cầu sau:

     Thứ nhất là mức độ biến động các đặc trưng, đặc tính vật lý, hóa học, sinh học do hoạt động nhận chìm chất nạo vét tới khối nước, đáy biển và hệ sinh thái tại khu vực đề xuất nhận chìm và vùng phụ cận;

     Thứ hai là mức độ ảnh hưởng của hoạt động nhận chìm chất nạo vét tới tài nguyên, môi trường, hệ sinh thái biển tại khu vực đề xuất nhận chìm và vùng phụ cận;

     Thứ ba là mức độ ảnh hưởng của hoạt động nhận chìm chất nạo vét tới các hoạt động kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh tại khu vực đề xuất nhận chìm và vùng phụ cận;

    Thứ tư là mức độ phù hợp của khu vực đề xuất nhận chìm chất nạo vét với hạ tầng cơ sở và phương tiện, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ hoạt động nhận chìm;

     Cuối cùng là khả năng đáp ứng các yêu cầu nhận chìm trong tương lai.

     4. Kết luận

     Nhận chìm vật liệu nạo vét ở biển biển luôn chịu ảnh hưởng của các quá trình động lực biển, đồng thời tác động lên môi trường, sinh thái và các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội trong vùng. Trong thực tế hiện nay, các khu vực nhận chìm ở biển theo đề xuất của các đơn vị chức năng của các địa phương và trung ương có sức chứa rất hạn chế và không đáp ứng nhu cầu nạo vét luồng lạch vào cảng khi phát triển mở rộng và duy tu luồng cảng. Do vậy, việc xác định các khu vực nhận chìm chất nạo vét đảm bảo phù hợp với chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, BVMT biển và hải đảo, quy hoạch sử dụng biển; gắn kết với các quy hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên, quy hoạch phát triển ngành có phạm vi thuộc vùng bờ; Bảo đảm công khai, minh bạch, có sự tham gia của cộng đồng dân cư, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong quá trình lập quy hoạch; bảo đảm quyền tiếp cận của người dân với biển; Phù hợp với nguồn lực thực hiện và bảo đảm tính khả thi. Dựa trên kết quả đánh giá, xác định rõ lĩnh vực, mức độ ưu tiên trong khai thác, sử dụng tài nguyên, lựa chọn phương án phân vùng tối ưu để bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế gắn với BVMT, các hệ sinh thái biển, hải đảo nhằm phục vụ phát triển bền vững vùng bờ, bảo vệ chủ quyền quốc gia, bảo đảm quốc phòng, an ninh và tuân thủ luật pháp hiện hành của Việt Nam và quốc tế, là giải pháp cần thiết và cấp bách để giải quyết các vấn đề liên quan đến hoạt động cảng và hàng hải ở vùng biển Việt Nam.

Nguyễn Lê Tuấn1, Nguyễn Thị Thúy1, Nguyễn Hữu Tùng1,

Nguyễn Hoàng Quý1, Nguyễn Bá Quỳ2

1Viện Nghiên cứu biển và hải đảo

 2Trường Đại học Thủy Lợi

(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường, số Chuyên đề Tiếng việt 2/2020)

     Lời cảm ơn: Bài viết được hoàn thành với sự hỗ trợ của Đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn xây dựng hướng dẫn kỹ thuật nhận chìm ở biển”, mã số TNMT.2018.06.17. Tập thể tác giả xin chân thành cảm ơn.

     TÀI LIỆU THAM KHẢO

     1. Nghị định số 40/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo;

     2. Thông tư số 25/2019/TT-BTNMT ngày 31/12/2019 của Bộ TN&MT quy định kỹ thuật đánh giá chất nạo vét và xác định khu vực nhận chìm chất nạo vét ở vùng biển Việt Nam;

     3. Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1972 (UNCLOS);

     4. Công ước về ngăn ngừa ô nhiễm biển do nhận chìm chất thải và vật chất khác năm 1972 (Công ước Lôn Đôn 1972);

     5. Nghị định thư 1996 của Công ước về ngăn ngừa ô nhiễm biển do nhận chìm chất thải và chất khác năm 1972 (Nghị định thư 1996 của Công ước Lôn Đôn);

     6. Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm tàu biển năm 1973 và Nghị định thư sửa đổi sau năm 1978 (MARPOL 73/78);

     7. Chương trình hành động toàn cầu về BVMT biển từ các hoạt động trên đất liền ngày 3/11/1995;

     8. Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy năm 2001 (có hiệu lực ngày 17/5/2004);

     9. Tài liệu tổng hợp trên mạng của IMO về Công ước về ngăn ngừa ô nhiễm biển do nhận chìm chất thải và vật chất khác năm 1972 và Nghị định thư năm 1996 của Công ước này;

    10. Báo cáo cuối cùng về giấy phép ban hành năm 2008 (Thông tư của IMO số LC-LP.1/Circ.52 Ngày 1/5/2012);

    11. Quy chế về nhận chìm trên biển của Trung Quốc (Ban hành bởi Hội đồng Nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ngày 6/3/1985);

     12. Đạo luật về nhận chìm trên biển của Ireland (Dumping At Sea Act, 1981).

 

PROPOSING THE PROCEDURE FOR DETERMINING THE MARINE AREAS USED FOR DUMPING DREDGED MATERIALS IN VIETNAM - LESSONS LEARNED IN SOME COUNTRIES IN THE WORLD

Nguyen Le Tuan1, Nguyen Thi Thuy1, Nguyen Huu Tung1,

Nguyen Hoang Quy1, Nguyen Ba Quy2

1 Vietnam Institute of Seas and Islands

2 Thuyloi University

     Summary: The identification of the marine areas used for dumping dredged materials is to ensure the long-term use of the functional marine area, to harmonize the interests of the sectors/users of marine resources, while ensuring socio-economic development goals towards sustainability. The identification of marine areas is to provide aroadmap and mechanism to effectively implement action plans and marine development programs as well as to strengthen the coordination of stakeholders in the exploitation and utilization of marine resources and environmental protection.

    key word: dumping; sea dumping; dumping dredged; dredged; the procedure for determining the dumping areas at sea.

 

 

Ý kiến của bạn