Nghị quyết XIII của Đảng đã thông qua định hướng và tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2025, 2030 và 2045 với mục tiêu tiếp tục đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đến năm 2025, tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP đạt 50%. Để đạt được mục tiêu này, đòi hỏi chúng ta phải thực hiện đồng bộ, quyết liệt nhiều nhiệm vụ, giải pháp với tư duy mới, đột phá táo bạo hơn nữa và có bước đi phù hợp. Đối với khu công nghiệp (KCN), khu kinh tế (KKT), tinh thần khẩn trương và quyết liệt đẩy mạnh quá trình xanh hóa và phát triển bền vững đã được Đảng, Chính phủ cụ thể hóa thành những văn bản quan trọng, trong đó có: Nghị quyết số 23-NQ/TW về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 của Ban Chấp hành Trung ương; Nghị quyết số 50-NQ/TW về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030 của Bộ Chính trị, nâng cao nhận thức của cả hệ thống chính trị về KCN, KKT; Nghị định số 35/2022/NĐ-CP quy định về quản lý KCN và KKT… Việt Nam đang trong giai đoạn thí điểm phát triển mô hình khu công nghiệp sinh thái (KCNST) với nhiều điều kiện thuận lợi, tuy nhiên các điểm nghẽn về tài chính vẫn là trở ngại lớn cho sự phát triển của mô hình này. Các nước châu Á như Hàn Quốc, Indonesia, Thái Lan đã triển khai các biện pháp khuyến khích tài chính, tạo điều kiện cho sự tham gia của doanh nghiệp và tư nhân. Những bài học kinh nghiệm này rất cần thiết cho Việt Nam trong quá trình triển khai xây dựng một hệ thống chính sách tài chính mạnh mẽ hơn, giải quyết những điểm nghẽn hiện tại và thúc đẩy sự phát triển bền vững của KCNST.
Hàn Quốc
Hàn Quốc là một trong những quốc gia tiên phong tại châu Á trong việc phát triển KCNST, nhằm giải quyết các vấn đề môi trường và thúc đẩy tăng trưởng xanh.
Hàn Quốc đã lựa chọn một chiến lược ba giai đoạn kéo dài từ năm 2005 đến năm 2019, từ thử nghiệm đến mở rộng và cuối cùng là chuẩn hóa - thể chế hóa mô hình KCNST trên phạm vi toàn quốc. Năm 2005, Hàn Quốc chính thức khởi động Chương trình Phát triển KCNST Quốc gia với mục tiêu xây dựng mô hình công nghiệp bền vững. Giai đoạn đầu tiên (2005-2010) tập trung vào việc thí điểm tại 5 khu công nghiệp là Ulsan, Pohang, Yeosu, Chungbuk và Gyeonggi. Việc lựa chọn các địa điểm này không ngẫu nhiên, mà dựa trên các tiêu chí như mức độ tập trung công nghiệp cao, tiềm năng cộng sinh và sẵn có hạ tầng dùng chung. Giai đoạn thứ hai (2010-2014) mở rộng chương trình ra 46 KCN và giai đoạn thứ ba (2015-2019) hướng tới việc xây dựng mạng lưới KCNST quốc gia với 300 mạng lưới công nghiệp sinh thái, tiết kiệm tài nguyên trị giá 500 tỷ KRW và giảm 2 triệu tấn khí nhà kính hàng năm [1].
Theo đó, Chương trình phát triển KCNST quy mô quốc gia được khởi động năm 2005 do Trung tâm Sản xuất sạch hơn Hàn Quốc (KNCPC) xây dựng và sau đó được chuyển giao cho Tập đoàn Công nghiệp Hàn Quốc (KICOX) để điều phối thực hiện trên quy mô toàn quốc. Theo đó, KNCPC đã khởi động chương trình KCNST theo mô hình SWOT, phân tích tình trạng ngành công nghiệp và chia dự án thành ba giai đoạn: thử nghiệm, mở rộng và hoàn thiện. KCNST được triển khai tại 5 khu công nghiệp lớn với đặc điểm cơ cấu ngành nghề khác nhau. Tuy nhiên, KNCPC gặp khó khăn do thiếu ngân sách và dự án tập trung quá nhiều vào nghiên cứu mà thiếu tính thực tiễn, dẫn đến việc không thu hút được doanh nghiệp tham gia. KICOX đã thay thế KNCPC, tích hợp các chính sách công nghiệp và chú trọng vào phát triển các dự án cộng sinh thực tiễn hơn, nhằm thúc đẩy mô hình KCNST hiệu quả hơn. Kết quả, Chương trình KCNST của Chính phủ Hàn Quốc đã thực hiện chuyển đổi 51 KCN thông thường sang hoạt động theo mô hình KCNST tạo ra lợi ích kinh tế quy đổi khoảng 1,3 tỷ USD và hoàn thành thực hiện chuyển đổi 151 KCN sinh thái vào năm 2020. Hệ thống thể chế, chính sách của Hàn Quốc tạo một nền tảng vững chắc cho sự phát triển của chương trình KCNST quốc gia gồm: Khuyến khích phát triển bền vững, chính sách công nghiệp theo hướng thân thiện với môi trường và chính sách năng lượng tái tạo, trong đó quy định về sản xuất sạch hơn và một hệ thống quản lý môi trường (EMS) đáp ứng tiêu chuẩn ISO 14001 đóng vai trò nền tảng. Đồng thời, việc phát triển các chiến lược cộng sinh công nghiệp đóng vai trò quan trọng dẫn đến thành công của Chương trình KCNST ở Hàn Quốc [1].
Đối với tổ chức thực hiện và vận hành mô hình KCNST, cơ chế thực hiện các dự án cộng sinh công nghiệp trong quá trình chuyển đổi mô hình KCNST tại Hàn Quốc dựa trên sự kết hợp giữa hỗ trợ kỹ thuật và tài chính. Về kỹ thuật, các dự án nhận hỗ trợ từ các trung tâm KCNST vùng, trường đại học, viện nghiên cứu, và công ty tư vấn thông qua ủy ban tư vấn khu vực. Về tài chính, sau khi dự án được KICOX và Ủy ban đánh giá phê duyệt, dự án có thể được tài trợ từ 33-75% bởi ngân sách của Bộ Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng (MOTIE), chính quyền địa phương hỗ trợ thêm 10-25% chi phí R&D. Doanh nghiệp chỉ phải đóng góp 10% vốn đối ứng. Khi dự án thành công và thương mại hóa, doanh nghiệp sẽ trả phí công nghệ từ 20-40% vốn tài trợ của nhà nước trong vòng 5 năm. Cơ chế này giúp giảm bớt gánh nặng tài chính và rủi ro cho doanh nghiệp, thu hút đầu tư tốt hơn khi các lợi ích về kinh tế và môi trường trở nên rõ ràng. Ngoài ra, các dự án còn được hỗ trợ tài chính từ các chương trình như Công ty Tiết kiệm nước (WASCO), Công ty Dịch vụ năng lượng (ESCO), Quỹ Bảo lãnh tín dụng cơ sở hạ tầng (KICGF) và Đối tác công tư (PPP). Chính phủ Hàn Quốc cũng có chương trình hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, khuyến khích đầu tư vào hạ tầng tiết kiệm năng lượng và giảm khí thải nhà kính.
Có thể nói, chính sách tài chính của Hàn Quốc đóng vai trò quyết định trong việc thúc đẩy thành công của các KCNST, với những kết quả cụ thể và bài học quan trọng từ quá trình thực thi.
Một là, cam kết tài chính mạnh mẽ từ Chính phủ đã tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của KCNST. Không chỉ ban hành Đạo luật Thúc đẩy cơ cấu công nghiệp thân thiện môi trường (1995) - Cơ sở pháp lý đầu tiên đặt nền móng cho chiến lược phát triển KCNST, cho phép áp dụng các tiêu chuẩn quản lý môi trường như ISO 14001 vào các KCN, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp triển khai sản xuất sạch hơn, Chính phủ Hàn Quốc còn thiết kế một khung tài chính hỗn hợp rất linh hoạt nhằm khuyến khích các doanh nghiệp tham gia. Tỷ lệ tài trợ công cho các dự án KCNST dao động từ 33%-75% tổng chi phí, tùy theo mức độ đổi mới và tiềm năng cộng sinh; phần còn lại được đồng tài trợ bởi chính quyền địa phương (10%-25%) và doanh nghiệp đối ứng (10%-15%) [1]. Chính phủ, thông qua Bộ Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng (MOTIE) và KICOX, đã trực tiếp điều phối và triển khai chương trình. Sự hỗ trợ tài chính liên tục từ Chính phủ đã đảm bảo thành công cho giai đoạn đầu của chương trình KCNST, giúp các dự án cộng sinh công nghiệp đạt tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (ROI) lên tới 3.000% trong giai đoạn đầu. Bài học rút ra là sự cam kết mạnh mẽ về tài chính từ Chính phủ là yếu tố cốt lõi cho thành công của chương trình KCNST.
Hai là, cơ chế chia sẻ rủi ro tài chính giữa Chính phủ và doanh nghiệp cũng đã giúp tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp vào các dự án KCNST. Mức hỗ trợ từ Chính phủ dao động từ 33-75%, trong khi chính quyền địa phương tài trợ thêm 10-25% chi phí R&D. Doanh nghiệp chỉ phải đóng góp 10% vốn đối ứng và khi dự án thành công, họ chỉ trả phí công nghệ tương ứng với 20-40% vốn tài trợ của nhà nước trong vòng 5 năm. Điều này giúp giảm thiểu rủi ro tài chính ban đầu, đặc biệt đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đến cuối giai đoạn 2 của chương trình, số lượng dự án nhận được tài trợ đã tăng lên 221/346, với 146 dự án đã đi vào hoạt động, tiết kiệm 1,35 triệu toe năng lượng và giảm 6,48 triệu tấn CO2. Bài học rút ra là, chia sẻ rủi ro giúp khuyến khích doanh nghiệp tham gia vào quá trình cộng sinh công nghiệp, đặc biệt ở giai đoạn đầu tư công nghệ.
Ba là, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận công nghệ góp phần quan trọng trong việc phát triển bền vững KCNST. Chính phủ đã triển khai nhiều chương trình như Công ty tiết kiệm nước (WASCO) và Công ty dịch vụ năng lượng (ESCO) để cung cấp hỗ trợ tài chính, ưu đãi thuế và tín dụng cho các doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ thân thiện với môi trường. Trong giai đoạn đầu của chương trình, 30/116 dự án cộng sinh công nghiệp đã đi vào hoạt động, giúp giảm 477.633 tấn chất thải, 110.032 tấn nước thải, 176.781 toe (tấn dầu quy đổi) năng lượng và 668.198 tấn CO2. Bài học cho Việt Nam, hỗ trợ công nghệ giúp doanh nghiệp giảm bớt gánh nặng tài chính và góp phần vào phát triển bền vững của KCNST.
Thái Lan
Sau sự kiện ô nhiễm nghiêm trọng tại khu công nghiệp lớn nhất Thái Lan Map Ta Phut vào năm 2009 khiến cho tình trạng ô nhiễm không khí và nguồn nước vượt ngưỡng cho phép, gây ra các bệnh hiểm nghèo (ung thư, hô hấp) cho cư dân địa phương, Chính phủ Thái Lan đã nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của phát triển công nghiệp bền vững và quyết định tái khởi động chương trình KCNST. Chính phủ Thái Lan đã thiết lập các tiêu chuẩn đánh giá KCNST, với trọng tâm là bảo vệ môi trường và giảm phát thải khí nhà kính. Họ cũng đã ban hành các chính sách ưu đãi tài chính để khuyến khích doanh nghiệp tham gia vào quá trình chuyển đổi, bao gồm việc cung cấp các khoản vay ưu đãi và hỗ trợ kỹ thuật cho các dự án cộng sinh công nghiệp.
Quá trình triển khai mô hình KCNST tại Thái Lan được bắt đầu từ giai đoạn 2010-2011 với việc lựa chọn ba KCN làm dự án thí điểm chuyển đổi, bao gồm: Laem Chabang, Amata Nakorn và Nong Khae. Các dự án này được tổ chức thực hiện trong giai đoạn 5 năm (2011-2015), nhằm hiện thực hóa lộ trình chuyển đổi từ KCN truyền thống sang mô hình sinh thái tích hợp. Bộ Công nghiệp Thái Lan là cơ quan chủ trì xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển KCNST, với hai đơn vị đầu mối là DIW và IEAT. Hai cơ quan này đã phát triển và áp dụng bộ tiêu chí sinh thái 5 chiều và 20-22 chỉ số để đánh giá mức độ phát triển sinh thái của từng KCN. Bên cạnh các tiêu chí môi trường như: tái chế chất thải, tiết kiệm năng lượng hay kiểm soát ô nhiễm, các chỉ số xã hội và quản trị, như: sự tham gia của cộng đồng, tính minh bạch và hợp tác giữa doanh nghiệp - Nhà nước - xã hội dân sự cũng được coi trọng. Đây là một bước tiến đáng kể trong tư duy chính sách, phản ánh xu hướng quản trị đa bên trong phát triển công nghiệp bền vững.
Một trong những bước đi quan trọng nhất trong phát triển KCNST ở Thái Lan là việc xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá và chỉ số phát triển KCNST một cách toàn diện. Cụ thể, năm 2018, Bộ Công nghiệp Thái Lan đã công bố phiên bản cập nhật của tài liệu “Criteria and Indicators for Eco-Industrial Town” nhằm làm rõ định nghĩa, phương pháp đo lường và cách triển khai mô hình thị trấn công nghiệp sinh thái (Eco-Industrial Town - EIT) trong thực tiễn. Khung đánh giá trong tài liệu này được cấu trúc trên 6 khía cạnh lớn, bao gồm: Quản trị tốt, (2) Môi trường, (3) Kinh tế, (4) Sức khỏe và an toàn, (5) văn hóa và chất lượng sống và (6) Năng lực kết nối. Các tiêu chí đóng vai trò như một hệ thống chuẩn mực hướng dẫn cho việc thiết kế, giám sát và điều chỉnh hoạt động của KCNST trong suốt vòng đời vận hành [3].
Nhờ những nỗ lực của mình, Thái Lan trở thành một trong những quốc gia tiên phong tại châu Á trong việc phát triển KCNST, với số lượng KCNST đứng thứ hai thế giới (29 khu), chỉ sau Hoa Kỳ (40 khu) [Maolanont, T., Pochanart, P. (2023)] [4]. Chính phủ Thái Lan đang mở rộng các dự án thí điểm KCNST, tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế và cải thiện khung pháp lý nhằm thu hút thêm nhiều doanh nghiệp tham gia vào mô hình này.
Kinh nghiệm của Thái Lan cho thấy, việc đồng bộ hóa các chính sách giữa các cấp chính quyền cũng là một bài học quan trọng mà Việt Nam cần chú ý để đảm bảo tính hiệu quả và nhất quán trong việc quản lý và phát triển KCNST. Hợp tác công - tư và sự tham gia tích cực của chính quyền địa phương là những yếu tố quyết định cho sự thành công trong phát triển bền vững các KCNST.
Indonesia
Indonesia là quốc gia tiên phong trong khu vực ASEAN trong việc phát triển mô hình KCNST. Chính phủ Indonesia đã xây dựng các chính sách nhằm thúc đẩy phát triển KCNST với sự hợp tác của nhiều tổ chức quốc tế, đặc biệt là UNIDO thông qua Chương trình KCNST Toàn cầu (GEIPP). Các KCN như Jababeka và Karawang đang thử nghiệm mô hình KCNST với trọng tâm là tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên và tái chế chất thải. Tuy nhiên, quá trình phát triển KCNST tại Indonesia đối mặt với nhiều thách thức. Đầu tiên là việc thiếu nguồn nhân lực chuyên môn về công nghệ xanh và quản lý môi trường. Ngoài ra, hệ thống pháp lý tại Indonesia chưa hoàn thiện, dẫn đến việc các doanh nghiệp gặp khó khăn trong tuân thủ các quy định liên quan đến môi trường. Đặc biệt, phần lớn các khu công nghiệp của Indonesia tập trung tại đảo Java, gây mất cân bằng về phát triển kinh tế giữa các vùng và tạo áp lực lớn lên môi trường khu vực này. Tuy nhiên, nhờ sự hỗ trợ kỹ thuật và tài chính từ chương trình GEIPP, Indonesia có tiềm năng lớn trong việc nhân rộng mô hình KCNST, từ đó cải thiện các khu công nghiệp truyền thống và tiến tới mục tiêu phát triển bền vững.
Liên hệ với Việt Nam
Điểm mạnh trong chính sách ưu đãi tài chính của các quốc gia châu Á nằm ở việc thiết lập các cơ chế hỗ trợ tài chính đa dạng và mạnh mẽ. Tuy nhiên, các quốc gia này cũng đối mặt với nhiều điểm nghẽn trong quá trình triển khai chính sách ưu đãi tài chính. Một trong những khó khăn chính là sự thiếu đồng bộ trong việc thực thi chính sách giữa cấp Trung ương và địa phương, như trường hợp của Thái Lan và Indonesia. Điều này dẫn đến sự thiếu nhất quán trong quản lý và giám sát, ảnh hưởng đến tính hiệu quả của các dự án. Thêm vào đó, dù có nhiều chính sách ưu đãi, doanh nghiệp tại Indonesia vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi do thủ tục phức tạp và yêu cầu tài chính khắt khe.
Còn tại Việt Nam, mô hình KCNST được triển khai từ những năm 2014 với sự hỗ trợ của nhiều nhà tài trợ quốc tế, trong đó có Tổng cục Kinh tế Liên bang Thụy Sỹ (SECO) và Quỹ Môi trường toàn cầu. Hiện nay, với sự hỗ trợ của SECO, Việt Nam đã thực hiện chuyển đổi 4 KCN sang KCNST (giai đoạn 2015-2029) và 3 KCN đang thực hiện chuyển đổi từ 2020 đến 2024 [5]. Tuy nhiên, việc chuyển đổi sang mô hình KCNST gặp một số khó khăn trong việc chuyển đổi mô hình phát triển đòi hỏi cần được tháo gỡ. Theo đó, chi phí cho việc thực hiện các giải pháp chuyển đổi từ KCN truyền thống sang KCNST đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn hoặc các giải pháp kỹ thuật tiên tiến trong khi nguồn lực của doanh nghiệp có hạn. Bên cạnh đó, các quy định liên quan đến việc xây dựng, phát triển các KCNST còn thiếu và chưa thống nhất gây cản trở cho các KCN trong việc chuyển đổi mô hình phát triển. Ngoài ra, để sử dụng hiệu quả tài nguyên, cần tái sử dụng tài nguyên nhưng thực tế qua quá trình thu hút đầu tư, bản thân các KCN gặp khó khăn khi thu hút các dự án tái chế, do các quy định pháp luật chưa có những quy định cụ thể về việc KCN có được thu hút các ngành nghề đó không. Bên cạnh đó, việc các KCN phải thay đổi toàn bộ hệ thống giấy tờ như: báo cáo đánh giá tác động tài nguyên, môi trường, các loại giấy phép về môi trường… cũng gây tốn kém thời gian, chi phí của doanh nghiệp [6].
Thực tiễn cho thấy, Việt Nam có thể học hỏi nhiều bài học kinh nghiệm quý báu từ các quốc gia châu Á trong việc tháo gỡ các điểm nghẽn về chính sách tài chính hỗ trợ phát triển KCNST. Học hỏi Hàn Quốc, Việt Nam cần thiết lập cơ quan chuyên trách về phát triển KCNST trực thuộc Bộ Tài chính (trước đây là Bộ Kế hoạch và Đầu tư), giao quyền rõ ràng cho ban quản lý KCN cấp tỉnh trong việc lựa chọn, giám sát và đánh giá quá trình chuyển đổi… Thêm vào đó, việc đồng bộ hóa các chính sách giữa các cấp chính quyền, như đã thấy ở Thái Lan, cũng là một bài học quan trọng mà Việt Nam cần chú ý để đảm bảo tính hiệu quả và nhất quán trong việc quản lý và phát triển KCNST. Hợp tác công - tư và sự tham gia tích cực của chính quyền địa phương là những yếu tố quyết định cho sự thành công trong phát triển bền vững các KCNST. Kinh nghiệm từ Indonesia nhấn mạnh tầm quan trọng của việc triển khai các chính sách tài chính đa dạng và linh hoạt, bao gồm việc cung cấp các khoản vay ưu đãi, quỹ đầu tư chiến lược và miễn giảm thuế cho các doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ xanh. Những chính sách này không chỉ giúp giảm bớt gánh nặng tài chính cho doanh nghiệp mà còn thu hút được sự tham gia của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, một yếu tố quan trọng trong quá trình chuyển đổi sang KCNST.
Tóm lại, bài học từ Hàn Quốc, Indonesia, Thái Lan cho thấy việc áp dụng chính sách tài chính hiệu quả là yếu tố quyết định trong phát triển KCNST. Những bài học kinh nghiệm này rất cần thiết cho Việt Nam trong quá trình triển khai xây dựng một hệ thống chính sách tài chính mạnh mẽ hơn, giải quyết những điểm nghẽn hiện tại và thúc đẩy sự phát triển bền vững của KCNST.
Hương Đỗ
Tài liệu tham khảo
1. GGGI (2017). Case Study Greening Industrial Parks - A Case Study on South Korea’s EcoIndustrial Park Program, retrieved from. https://www.greenpolicyplatform.org/sites/default/files/downloads/best-practices/GGGI%20Case%20Study_South%20Korea%20Eco-Industrial%20Park%20Program_June%202017.pdf.
2. TS. Vương Thị Minh Hiếu, TS. Nguyễn Trâm Anh, ThS. Bùi Hồng Phương: Khu công nghiệp sinh thái - Mô hình phát triển bền vững, Bài đăng trên Tạp chí Môi trường số 11/2022.
3. Department of Industrial Works (DIW) (2019). Criteria and indicators for eco-industrial towns, Ministry of Industry, Bangkok.
4. Evolution of Thailand's eco-industrial towns development: Challenging and obstacles, International Journal of Sustainable Development and Planning, 18(3), 865-875.
5. Hải Yến (2024). Việt Nam sẽ nhân rộng đầu tư, phát triển mô hình KCNST, truy cập từ https://baodautu.vn/viet-nam-se-nhan-rong-dau-tu-phat-trien-mo-hinh-khu-cong-nghiep-sinh-thai-d230107.html.
6. Nguyễn Quỳnh Trang (2025). Quản lý nhà nước đối với phát triển KCNST: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và Dự báo.
7. Chính phủ (2018). Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 quy định về quản lý KCN và KKT.
8. Chính phủ (2022). Nghị định số 35/2022/NĐ-CP ngày 28/5/2022 quy định về quản lý KCN và KKT.
9. Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 889/QĐ-TTg ngày 24/6/2020 phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững giai đoạn 2021-2030.
10. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 1/10/2021 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050.
11. Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 687/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam.