Banner trang chủ
Thứ Tư, ngày 10/08/2022

Một số đề xuất nhằm cải thiện hiệu quả tính toán chỉ số chất lượng nước sông

08/09/2015

   Thực tế cho thấy, để áp dụng có hiệu quả công cụ xác định chỉ số chất lượng nước sông (Water Quality Index- WQI) cần tiếp tục hoàn thiện và phát triên trong điều kiện cụ thể của mỗi dòng sông. Nghiên cứu đưa ra một số đề xuất cụ thể nhằm cải thiện hiệu quả tính toán chỉ số chất lượng nước sông WQI. Các cơ sở để lựa chọn thông số, xác định trọng số mức quan trọng của các thông số chất lượng nước để tính toán chỉ số WQI đã được đưa ra.

   Application of effective tools in determining water quality index (WQI) should be improved and tailored to suit specific conditions of each river. This study provides some suggestions to improve the computational efficiency of WQI. The basis for selecting parameters and determining the weighted points of water quality parameters to calculate the index WQI was given.

 

   Chỉ số chất lượng nước WQI là chỉ số tổ hợp được tính toán từ các thông số chất lượng nước thông qua công thức toán học. WQI dùng để mô tả định lượng về chất lượng nước và được biểu diễn qua thang điểm quy định với mức phân chia khác nhau về chất lượng nguồn nước mặt. Đã có nhiều quốc gia (Hoa Kỳ, Canađa, Ấn Độ...) trong đó có Việt Nam đã và đang sử dụng WQI như là công cụ hữu hiệu nhằm thực hiện việc phân vùng chất lượng nước mặt theo không gian và thời gian...

   Để sử dụng công cụ WQI có hiệu quả và theo quy định chung, Tổng cục Môi trường đã ban hành sổ tay hướng dẫn kỹ thuật tính toán chỉ số chất lượng nước theo Quyết định số 879/QĐ-TCMT ngày 1/7/2011. Hướng dẫn này đã góp phần rất nhiều trong hoạt động quản lý lưu vực thông qua việc phân tích, đánh giá và xếp hạng mức độ chất lượng nguồn nước mặt ở Việt Nam theo 5 thang: Chất lượng tốt, nước không bị ô nhiễm, nước bị ô nhiễm, nước bị ô nhiễm nặng, nước bị ô nhiễm rất nặng.

   Thực tế cho thấy, để áp dụng có hiệu quả công cụ này vẫn cần tiếp tục hoàn thiện và phát triên trong điều kiện cụ thể của mỗi dòng sông.

PGS.TS. Trịnh Thị Thanh

Cái Anh Tú

Khoa Môi trường, Đại học Khoa học Tự nhiên

Đại học Quốc gia Hà Nội

Toàn văn đăng trên Tạp chí Môi trường số 8 - 2015

 

Ý kiến của bạn