Banner trang chủ

Nan giải trong quản lý, xử lý vật liệu, chất thải chứa amiăng

15/09/2015

   Câu chuyện về amiăng đã thu hút sự chú ý của báo chí và dư luận xã hội trong thời gian qua. Một trong những vấn đề nhức nhối hiện nay đó là việc thu gom, xử lý vật liệu, chất thải chứa amiăng còn hạn chế. Trong khi đó, công tác tuyên truyền cho người lao động, cũng như người dân về tác hại của amiăng chưa được quan tâm đúng mức. Để giải quyết vấn đề này cần sự chung tay của các Bộ, ngành, tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan truyền thông và cộng đồng để đất nước “không còn amiăng” trong thời gian tới.    Amiăng - “sát thủ thầm lặng”    Amiăng là một nhóm khoáng chất tự nhiên dưới dạng sợi, chia thành 2 nhóm: Nhóm Serpentine có dạng xoắn, được gọi là Chrysotile (amiăng trắng) và nhóm Amphibole (Crocidolite - amiăng xanh và Amosite - amiăng nâu). Với những đặc tính ưu việt như độ bền cao, chịu nhiệt, có tính ma sát, cách điện, cách âm và giá thành rẻ, amiăng được xem là nguyên liệu “lý tưởng” trong sản xuất của các ngành xây dựng và công nghiệp nặng như: tấm lợp, ống dẫn nước, tấm mành cách lửa công nghiệp, má phanh xe ô tô, công nghiệp hàng không, đóng tàu…    Từ những năm 1960, amiăng đã được sử dụng phổ biến ở Việt Nam, chủ yếu là amiăng trắng và được sử dụng để sản xuất tấm lợp amiăng - xi măng (hay còn gọi là fibrô - ximăng, gọi tắt là AC). Theo thống kê của Bộ Công Thương, có 41 doanh nghiệp (DN) sản xuất tấm lợp AC. Trung bình mỗi năm, Việt Nam nhập khẩu khoảng 50.000 - 60.000 tấn amiăng nguyên liệu, chủ yếu từ Nga (85%), Trung Quốc, Kazakhstan. Trong 10 năm gần đây, Việt Nam luôn nằm trong tốp 10 nước tiêu thụ amiăng trắng nhiều nhất trên thế giới.    Tuy nhiên, đáng nói là tất cả các loại amiăng, kể cả amiăng trắng đều được Cơ quan Nghiên cứu Quốc tế về Ung thư (IARC) khuyến cáo là những chất độc hại, có khả năng gây ung thư cho con người, bao gồm ung thư phổi, thanh quản, buồng trứng, trung biểu mô (màng tim, màng bụng, màng phổi), bệnh bụi phổi… và không có ngưỡng nào thực sự an toàn khi tiếp xúc với amiăng. Amiăng không gây hại tức thì cho người tiếp xúc mà thường sau 20 - 30 năm mới có triệu chứng và phát bệnh. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cảnh báo, mỗi năm, thế giới có 107.000 người chết do các bệnh liên quan tới amiăng bao gồm: 41.000 người chết vì ung thư phổi, 7.000 người chết vì bụi phổi và 59.000 người bị ung thư trung biểu mô. Trong đó, 80% các trường hợp bệnh ung thư trung biểu mô có liên quan tới amiăng.    Tại Việt Nam, theo thống kê của Cục Quản lý Môi trường Y tế (Bộ Y tế), các trường hợp ung thư trung biểu mô được ghi nhận có xu hướng tăng, từ năm 1991 - 2.000, với 43 trường hợp và từ năm 2001 - 2010, đã tăng lên 73 trường hợp. TS. Lương Mai Anh, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Môi trường Y tế cho biết, amiăng như một “sát thủ thầm lặng”, nó xâm nhập vào cơ thể chủ yếu qua đường hô hấp, khi con người hít phải sợi amiăng (rất mảnh, mắt thường không nhìn thấy được) có trong không khí, sợi amiăng sẽ đi vào cơ thể và lưu lại trong phổi một thời gian dài. Theo thời gian, những sợi amiăng này tích lũy, gây ra sẹo và phát sinh viêm nhiễm, ảnh hưởng đến hô hấp và gây suy giảm sức khỏe của con người. Những người có nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến amiăng thường là nhóm người tiếp xúc trực tiếp với amiăng hàng ngày như công nhân của các nhà máy sản xuất tấm lợp, đóng tàu, khai thác và nghiền amiăng… hoặc người dân khi khoan, cưa, cắt, phá dỡ, đập các tấm lợp có amiăng, làm phát tán bụi amiăng ra không khí.    Nhận thức hạn chế, “lơ là” vệ sinh môi trường lao động    Thực tế nhiều năm qua, công tác quản lý an toàn và sức khỏe công nhân trong sản xuất các sản phẩm có amiăng còn bị “xem nhẹ”. Việc kiểm tra, đánh giá chưa thường xuyên và xử lý cũng chưa nghiêm. Trong quá trình thanh tra hình hình vệ sinh lao động (VSLĐ) tại các DN sản xuất tấm lợp AC mấy năm gần đây, Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có kết luận, 84% DN vi phạm quy định về VSLĐ và quản lý môi trường trong sản xuất. Hầu hết, các DN này vi phạm trong công tác quản lý, theo dõi sức khỏe bệnh nghề nghiệp công nhân, chế độ bồi dưỡng người lao động làm việc trong môi trường độc hại; giám sát môi trường chưa thường xuyên. Tại nơi làm việc, DN không có nơi tắm rửa, vệ sinh cá nhân và khử độc phương tiện bảo vệ cá nhân sau ca làm việc để tránh phát tán sợi amiăng ra ngoài cộng đồng; đồng thời, không có biển thông báo chất độc hại, biển chỉ dẫn biện pháp đảm bảo VSLĐ, cũng như chưa tuyên truyền đầy đủ cho công nhân về tác hại của amiăng và công tác VSLĐ, BVMT. Đến nay, tại Việt Nam, amiăng trắng vẫn được phép sử dụng để sản xuất tấm lợp theo hướng “sử dụng có kiểm soát”    Quy định trong quản lý môi trường và VSLĐ với amiăng    Tại nhiều nước phát triển, do nhận thức được amiăng là tác nhân gây bệnh ung thư nên họ đã cấm hoàn toàn việc sử dụng các loại amiăng trong sản xuất và đời sống. Họ có những quy định hết sức nghiêm ngặt khi tháo dỡ vật liệu, công trình có chứa amiăng với mục đích tránh cho công nhân hít phải bụi amiăng có trong môi trường không khí như công nhân phải bao trùm công trình cần phá dỡ, tưới nước lên chỗ tháo dỡ, đeo mặt nạ lọc bụi, mặc quần áo bảo hộ lao động…    Ở Việt Nam, mặc dù, amiăng đã sớm được “nhận diện” là một hóa chất độc hại, nhưng đến nay amiăng trắng vẫn được phép sử dụng để sản xuất tấm lợp theo hướng “sử dụng có kiểm soát”. Riêng amiăng nâu và xanh đã bị cấm nhập khẩu, sử dụng theo Thông tư liên tịch số 1.529/1998/TTLT/BKHCMT-BXD của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường và Bộ Xây dựng về hướng dẫn đảm bảo môi trường trong sử dụng amiăng vào sản xuất các sản phẩm, vật liệu xây dựng. Bên cạnh đó, nhiều quy định về an toàn sức khỏe và BVMT đối với lĩnh vực sản xuất có amiăng đã được Chính phủ, các Bộ, ngành liên quan ban hành.    Cụ thể, Quyết định số 115/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp vật liệu xây dựng Việt Nam đến năm 2010 quy định: "Không tăng sản lượng, không đầu tư mới cơ sở sản xuất tấm lợp sử dụng amiăng” và đề ra mục tiêu cấm amiăng trắng vào năm 2004. Sau đó, Quyết định số 133/2004/QĐ-TTg về việc sửa đổi một số điều của Quyết định số 115/2001/QĐ-TTg và mới đây là Quyết định số 1469/QĐ-TTg ngày 22/8/2014 về phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển vật liệu xây dựng Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030, Thủ tướng đã chỉ đạo, cần phải chuyển đổi dần việc sử dụng các loại sợi thay thế sợi amiăng trắng và đến năm 2020, phải cấm sử dụng hoàn toàn amiăng trắng trong sản xuất tấm lợp…    Riêng đối với công tác quản lý và xử lý vật liệu, chất thải amiăng, Bộ TN&MT đã ban hành Thông tư số 12/2011/TT-BTNTM về quản lý CTNH, trong đó xác định amiăng và các vật liệu, chất thải chứa amiăng đều là CTNH và cần kiểm soát chặt chẽ ngay từ khâu sử dụng nguyên liệu đến khi thải bỏ và tiêu hủy chất thải, bao gồm chất thải có amiăng từ quá trình điện phân, chất thải từ quá trình chế biến amiăng, chất thải có amiăng từ quá trình sản xuất amiăng - xi măng… Cùng với đó là một số tiêu chuẩn, quy chuẩn về amiăng trong không khí như Tiêu chuẩn TCVN 6502:1999 về Không khí xung quanh; Quy chuẩn 06:2009/BTNMT về một số chất độc trong không khí xung quanh và Tiêu chuẩn TCVN 6706: 2000 - CTNH... Bên cạnh các quy định pháp lý, Bộ TN&MT cũng triển khai nhiều hoạt động thanh tra, kiểm tra về BVMT đối với các cơ sở sản xuất tấm lợp amiăng và hợp tác với một số cơ quan về phân tích và quản lý phát thải amiăng ra môi trường.    Với kích thước sợi amiăng vô cùng nhỏ bé, nếu không được bao gói, bảo quản, vận chuyển, sử dụng đúng cách sẽ rất dễ phát tán vào không khí, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng sức khỏe của người lao động cũng như cộng đồng dân cư. Vì thế, việc kiểm soát chặt chẽ hoạt động sản xuất của các DN sản xuất tấm lợp có amiăng về BVMT và an toàn lao động là vấn đề quan trọng nhất hiện nay. Cùng với đó là tăng cường tuyên truyền về tác hại của amiăng cho người lao động và cộng đồng, khuyến khích nghiên cứu và sử dụng vật liệu thay thế amiăng; bổ sung các chế tài, quy định nhằm đảm bảo an toàn VSLĐ, tham khảo kinh nghiệm quốc tế trong xử lý chất thải có chứa amiăng để bảo vệ sức khỏe người dân. (Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi Trường số 6/2015)  
Ý kiến của bạn