Banner trang chủ

Chuyển đổi mô hình khu công nghiệp sinh thái ở Việt Nam

29/03/2026

     1. Bối cảnh, sự ra đời mô hình khu công nghiệp sinh thái ở Việt Nam

    Trong hơn ba thập kỷ qua, các khu công nghiệp (KCN) đã trở thành động lực quan trọng của tiến trình công nghiệp hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Đến nay, các KCN đóng góp khoảng 35 - 40% tổng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đăng ký mới hằng năm, tạo việc làm cho hàng triệu lao động và góp phần đáng kể vào tăng trưởng GDP [1]. Tuy nhiên, song hành với những thành tựu về phát triển, mô hình công nghiệp truyền thống cũng đang bộc lộ nhiều hạn chế. Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho thấy, mỗi năm cả nước phát sinh khoảng 23 - 25 triệu tấn chất thải công nghiệp thông thường và khoảng 800 nghìn tấn chất thải nguy hại với tốc độ gia tăng nhanh chóng, trung bình 10 - 12%/năm [2], phát sinh trung bình hơn 800.000 m3 nước thải công nghiệp ra môi trường [3]. Đối với lĩnh vực năng lượng và phát thải khí nhà kính (KNK), Việt Nam hiện nằm trong nhóm quốc gia có tốc độ tiêu thụ năng lượng nhanh ở khu vực Đông Á, trong đó lĩnh vực công nghiệp chiếm gần 50% tổng năng lượng sử dụng [4]. Nếu xu hướng này không được kiểm soát, lượng phát thải KNK của Việt Nam đến năm 2030 có thể tăng 3,26 lần so với mức năm 2014. Cụ thể, mức gia tăng từ 284,0 triệu tấn CO2 tương đương lên 927,9 triệu tấn, trong đó lĩnh vực năng lượng phát thải 678,4 triệu tấn - chiếm 73,1% [5].

    Trong khi đó, phần lớn doanh nghiệp (DN) trong các KCN là DN vừa và nhỏ (SME), hạn chế về vốn, công nghệ, năng lực kỹ thuật, khiến việc áp dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn (RECP) còn khiêm tốn. Đồng thời, các DN trong KCN thường hoạt động độc lập, dẫn đến lãng phí năng lượng, nước, nguyên vật liệu do thiếu sự kết nối, trao đổi phụ phẩm trong thực hiện cộng sinh công nghiệp (CSCN).

    Trên thế giới, mô hình KCN sinh thái (KCNST) hướng tới phát triển bền vững đã được triển khai từ những năm 1990 và đạt được nhiều kết quả tích cực. Tại Đan Mạch, KCN Kalundborg là điển hình trong phát triển KCNST khép kín với 20 mạng lưới CSCN nội khu, phát triển từ các trao đổi sản phẩm độc lập dần dần phát triển thành một mạng lưới phức hợp của các tương tác cộng sinh của các công ty trong khu vực và hệ thống đô thị địa phương [6, 7].

    KCNST mang lại nhiều lợi ích từ sự hợp tác chặt chẽ giữa các công ty trong KCN, nhà cung cấp dịch vụ và cộng đồng địa phương, cho phép các bên tận dụng mọi dịch vụ và cơ sở hạ tầng chung. KCNST tăng cường sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên quan trọng trong sản xuất công nghiệp (nước, năng lượng, vật liệu, chất thải...) qua đó giảm đáng kể sự phụ thuộc vào những nguồn tài nguyên dần cạn kiệt như nhiên liệu hóa thạch. KCNST còn thúc đẩy việc tái chế, tái sử dụng tài nguyên và chất thải, cũng như CSCN. Trong KCNST, các nhà đầu tư thứ cấp có thể đạt được mô hình sản xuất có chi phí hiệu quả hơn, có khả năng chống chịu trước trước biến động giá cả và sự khan hiếm tài nguyên. KCNST tích hợp các tiêu chuẩn xã hội vào trong các KCN - điều mà đang ngày càng trở nên quan trọng nhằm chủ động giải quyết xung đột tiềm tàng giữa cộng đồng dân cư và KCN liên quan đến vấn đề xây dựng, phát triển công nghiệp. Ngoài ra, các KCNST cũng thực hiện quy hoạch cẩn thận ngay từ đầu để chủ động giải quyết một số vấn đề lưu tâm của xã hội như lao động địa phương, nguồn lực từ cộng đồng, hạ tầng xã hội xung quanh về nhà ở và các dịch vụ xã hội rộng hơn. Thực tiễn và kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các KCNST tạo ra nhiều lợi ích cả về về kinh tế, môi trường lẫn xã hội. Thực chất các lợi ích này có thể vượt xa lợi ích thông thường riêng của DN [8].

    KCNST giúp giảm lượng khí thải CO2 từ hoạt động công nghiệp, nhờ đó, tác động của các ngành công nghiệp đến biến đổi khí hậu (BĐKH) có thể được giảm bớt. Những lợi ích này không dừng lại ở phạm vi DN mà còn có ý nghĩa chiến lược to lớn, KCNST không chỉ giúp giảm rủi ro trong khai thác tài nguyên hay giảm áp lực lên khí hậu mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy phát triển DN và xây dựng hình ảnh uy tín với đối tác, cộng đồng [8].

    Phương pháp tiếp cận KCNST không những giảm thiểu tác động môi trường mà còn thúc đẩy kinh tế bền vững, đồng thời hỗ trợ DN đạt được các mục tiêu về phát triển bền vững (SDGs) [8]. Nhờ vậy, mô hình này mở ra giải pháp để các ngành công nghiệp ứng phó hiệu quả với thách thức mang tính toàn cầu của thế kỷ 21 hiện nay, kể cả vấn đề BĐKH lẫn vấn đề khủng hoảng tài nguyên.

    2. Kết quả chuyển đổi mô hình khu công nghiệp sinh thái

    Nhằm giải quyết những thách thức nói trên, từ năm 2014, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI) đã phối hợp với Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) triển khai Dự án thí điểm “ Triển khai KCNST hướng tới mô hình KCN bền vững tại Việt Nam”, với sự tài trợ của Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF), Cục Kinh tế Liên bang Thụy Sỹ (SECO) và Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP). Dự án thí điểm giai đoạn 2014 - 2019 đã đạt được nhiều thành tựu, kết quả đáng ghi nhận như: Hỗ trợ xây dựng và ban hành quy định về KCNST trong Nghị định 82/2018/NĐ-CP - nền tảng pháp lý đầu tiên cho mô hình này, sau đó được kế thừa, mở rộng tại Nghị định số 35/2022/NĐ-CP, giúp các DN tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải và tăng sức cạnh tranh, đồng thời nâng cao hình ảnh của Việt Nam trong thu hút đầu tư xanh. Dự án cũng hỗ trợ 4 KCN, bao gồm Khánh Phú, Gián Khẩu (Ninh Bình), Hòa Khánh (Đà Nẵng) và Trà Nóc 1 & 2 (Cần Thơ) thực hiện chuyển đổi sang KCNST. Kết quả, 57 DN đã được hỗ trợ trực tiếp để áp dụng RECP, với tổng cộng 640 giải pháp được xác định, trong đó 546 giải pháp đã được triển khai thành công. Qua đó, mỗi năm, các DN này đã tiết kiệm được 19.247 MWh điện, 142.000 GJ nhiên liệu hóa thạch, 606.816 m³ nước, giảm thiểu sử dụng 4.225 tấn vật liệu và hóa chất, giảm phát thải 30.600 tấn CO₂ tương đương, mang lại 3,3 triệu USD/năm lợi nhuận vận hành [10].

    Kế thừa thành quả từ giai đoạn thí điểm, Dự án “Triển khai KCNST tại Việt Nam theo hướng tiếp cận từ Chương trình KCNST toàn cầu” (GEIPP Việt Nam) do Chính phủ Thụy Sỹ thông qua SECO tài trợ, UNIDO phối hợp cùng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính) tiếp tục được khởi động nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - môi trường - xã hội của các ngành công nghiệp thông qua việc triển khai, nhân rộng mô hình KCNST. Dự án được thực hiện tại Hà Nội và 5 địa phương trọng điểm gồm: Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Đồng Nai, TP. Hồ Chí Minh. Các KCN thí điểm bao gồm KCN Deep C/Đình Vũ (Hải Phòng); KCN Amata Biên Hòa (Đồng Nai); KCN Hiệp Phước (TP. Hồ Chí Minh); KCN Hòa Khánh (Đà Nẵng) và KCN Trà Nóc 1 & 2 (Cần Thơ).  Trọng tâm của Dự án là chuyển đổi các KCN hiện hữu sang mô hình KCNST, giúp DN giảm chi phí sản xuất, cải thiện hiệu quả tài nguyên, hướng tới phát triển công nghiệp bền vững.

    Sự ra đời của Dự án GEIPP tại Việt Nam thể hiện cam kết mạnh mẽ của Chính phủ, UNIDO và SECO trong việc thúc đẩy chuyển đổi sang nền công nghiệp xanh, có trách nhiệm và thích ứng với BĐKH. Không chỉ là bước kế thừa từ những thành quả trước đó, GEIPP Việt Nam còn được xem như bước tiến chiến lược góp phần hiện thực hóa cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) vào năm 2050, phù hợp với định hướng phát triển xanh và bền vững mà Việt Nam đang kiên định theo đuổi.

    Trong giai đoạn 2020 - 2024, Dự án GEIPP Việt Nam do Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính) chủ trì và UNIDO thực hiện, với sự tài trợ của Chính phủ Thụy Sỹ thông qua Cục Kinh tế Liên bang Thụy Sỹ (SECO) đã tạo dựng nền tảng vững chắc cho quá trình chuyển đổi sang mô hình KCNST trên cả nước.

    Đối với lĩnh vực chính sách, Dự án đã hỗ trợ kỹ thuật cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư hoàn thiện khung pháp lý thông qua quá trình rà soát, cập nhật, xây dựng Nghị định số 35/2022/NĐ-CP, thay thế Nghị định 82/2018/NĐ-CP. Qua đó, lần đầu tiên, các tiêu chí xác định KCNST, DN sinh thái được quy định rõ ràng, tạo cơ sở pháp lý quan trọng để khuyến khích các KCN áp dụng mô hình và được hưởng ưu đãi đầu tư. Hỗ trợ cụ thể bao gồm việc đưa vào các tiêu chuẩn quốc tế như Khung KCNST toàn cầu của UNIDO, World Bank, GIZ; quy định về cơ chế giám sát và chứng nhận; yêu cầu về thực hành sản xuất sạch hơn, CSCN… Bên cạnh đó, Dự án còn hỗ trợ xây dựng Thông tư số 05/2025/TT-BKHDT hướng dẫn thực hiện Nghị định số 35/2022/NĐ-CP, trong đó, các quy trình thủ tục và biểu mẫu đăng ký, báo cáo được chi tiết hóa, làm căn cứ để địa phương và chủ đầu tư áp dụng thống nhất, đảm bảo tính minh bạch, hiệu quả.

    Về mặt thực tiễn, Dự án GEIPP Việt Nam đã triển khai các can thiệp kỹ thuật sâu rộng vào hoạt động của 5 KCN thí điểm gồm Deep C (Hải Phòng), Amata (Đồng Nai), Hiệp Phước (TP. Hồ Chí Minh), Hòa Khánh (Đà Nẵng), Trà Nóc 1 & 2 (Cần Thơ). Cụ thể, Dự án đã tiến hành đánh giá hiện trạng; xác định cơ hội cải thiện; lập kế hoạch triển khai các giải pháp RECP và CSCN; đào tạo cho cán bộ quản lý nhà nước, đại diện ban quản lý KCN và DN. Kết quả, hơn 90 DN đã được hỗ trợ trực tiếp để áp dụng RECP, với tổng cộng 889 giải pháp được xác định, trong đó 429 giải pháp đã được triển khai thành công. Qua đó, mỗi năm, các DN này tiết kiệm được khoảng 14.378 MWh điện, 264.127 GJ nhiên liệu hóa thạch, 278.690 m³ nước, giảm thiểu 22.180 tấn hóa chất và nguyên vật liệu, đồng thời giảm phát thải 138.994 tấn CO₂ tương đương, mang lại 2,6 triệu USD lợi nhuận vận hành, với 3,3 triệu USD vốn đầu tư huy động từ tư nhân. Bên cạnh đó, Dự án cũng phát hiện 62 cơ hội CSCN tiềm năng, trong đó 31 cơ hội được đánh giá tiền khả thi và 18 giải pháp đang triển khai hoặc đã sẵn sàng triển khai, hứa hẹn tiết kiệm đáng kể chi phí, tài nguyên và giảm phát thải cho những DN tham gia. Điểm sáng là mô hình hợp tác chia sẻ dịch vụ phòng cháy chữa cháy giữa KCN Deep C và Công an quận Hải An đã chứng minh tính hiệu quả của cộng sinh trong thực tế [9].

    Nhìn chung, những kết quả ấn tượng này cho thấy trong thời gian từ năm 2014 đến nay, hoạt động của các dự án về KCNST do UNIDO thực hiện đã tạo dựng được một nền tảng vững chắc cho việc nhân rộng mô hình KCNST bằng cách: (i) Giúp các nhà hoạch định chính sách xây dựng khung pháp lý phù hợp; (ii) Trang bị cho cơ quan quản lý và DN những công cụ, kiến thức cần thiết; (iii) Hỗ trợ kết nối DN để thực hiện cộng sinh và nâng cao hiệu quả hoạt động. Với sự phối hợp đồng bộ giữa các Bộ, ngành, chính quyền địa phương, khu vực tư nhân, hiện nay mô hình KCNST không chỉ còn là ý tưởng mà đang dần trở thành một hướng đi chủ đạo cho quá trình công nghiệp hóa xanh của Việt Nam.

    3. Thuận lợi, khó khăn và bài học từ quá trình triển khai khu công nghiệp sinh thái ở Việt Nam

    Thuận lợi:

    Hệ thống văn bản pháp lý về KCNST đã được hình thành: KCNST được quy định cụ thể trong Nghị định 35/2022/NĐ-CP ngày 28/5/2022 của Chính phủ quy định về quản lý KCN, khu kinh tế (KKT), thay thế Nghị định 82/2018/NĐ-CP và Thông tư số 05/2025/TT-BKHĐT ngày 24/1/2025 của Bộ Trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư về hướng dẫn xây dựng KCNST; Điều 47, khoản 3, Điều 138 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/1/2022 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ Môi trường; các nhiệm vụ liên quan đến KCNST tại Quyết định số 882/QĐ-TTg ngày 22/7/2022 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược Tăng trưởng xanh (TTX) quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050; Quyết định số 687/QĐ-TTg ngày 7/6/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển kinh tế tuần hoàn (KTTH) ở Việt Nam; Quyết định số 222/QĐ-TTg ngày 23/1/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện KTTH đến năm 2035. Gần đây, Nghị quyết 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới do Bộ Chính trị ban hành đã tái khẳng định ưu tiên phát triển các mô hình KCNST - thông minh của Việt Nam.

KCN Hòa Khánh (TP. Đà Nẵng) là 1 trong 5 địa phương tham gia Dự án

    Hệ thống Tài liệu hướng dẫn chi tiết cho KCNST đang ngày càng đầy đủ hoàn thiện: Hướng dẫn thành lập KCNST mới ở Việt Nam; Bộ Chỉ số đánh giá hiệu quả KCNST tại Việt Nam; Tài liệu hướng dẫn tái sử dụng chất thải rắn trong KCN; Tài liệu hướng dẫn sử dụng Hệ thống thông tin giám sát các KCNST và DN sinh thái ở Việt Nam; Tài liệu Hướng dẫn kiểm kê KNK cho DN trong các KCN ở Việt Nam; Tài liệu Hướng dẫn huy động tài chính hỗ trợ phát triển KCNST tại Việt Nam; Sổ tay Hướng dẫn tài chính xanh cho các DN trong KCN; Sổ tay hướng dẫn phòng ngừa, chuẩn bị, ứng phó với sự cố môi trường từ các KCN; công cụ hỗ trợ triển khai mô hình KCNST của UNIDO [11].

    Ngoài ra, phát triển KCNST đang nhận được sự quan tâm, hỗ trợ của nhiều tổ chức quốc tế như UNIDO, SECO cũng như cơ hội học tập kinh nghiệm về chuyển đổi KCNST từ một số quốc gia khác trong Chương trình KCNST toàn cầu. Nhận thức và năng lực của các bên liên quan đến KCNST cũng đang ngày càng được nâng cao.

    Khó khăn:

    Mặc dù các KCN có nhu cầu cao trong việc áp dụng giải pháp tuần hoàn để tái sử dụng chất thải, tái sử dụng nước thải sau xử lý và phát triển năng lượng tái tạo để sử dụng, chia sẻ nội bộ nhưng hiện nay, rào cản pháp lý cùng với việc thiếu các tiêu chuẩn, quy chuẩn liên quan đang cản trở việc triển khai hoạt động này tại các KCN.

    Cùng với đó, việc nâng cấp, cải tạo hạ tầng để đáp ứng tiêu chuẩn KCNST đòi hỏi đầu tư lớn, mất nhiều thời gian và công sức, từ đó làm chậm tiến độ chuyển đổi; sự thiếu đồng bộ trong việc kết nối, chia sẻ thông tin giữa các DN trong KCN cũng như giữa DN với cơ quan quản lý và tổ chức tài chính gây khó khăn trong việc triển khai giải pháp CSCN. Nhiều DN cũng còn thiếu sự tin tưởng lẫn nhau trong việc chia sẻ cơ sở hạ tầng để thực hiện CSCN (chia sẻ chất thải, hệ thống xử lý nước…) nên khó thu hút được nhà đầu tư mới hợp tác trong việc thực hiện các cơ hội CSCN.

    Mặt khác, việc ứng dụng công nghệ sạch và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên đòi hỏi DN phải đầu tư vào các hệ thống tự động hóa, số hóa và công nghệ mới. Tuy nhiên, chi phí đầu tư ban đầu cao, khả năng tiếp cận công nghệ tiên tiến còn hạn chế là những rào cản lớn; tài chính xanh cần thiết cho triển khai các cơ hội KCNST vẫn còn gặp nhiều thách thức, khó khăn do lãi suất cao, thời hạn vay ngắn…

    Những khó khăn trên đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền, DN và tổ chức liên quan, nhằm hoàn thiện khung pháp lý, cải thiện thủ tục hành chính và tạo ra chính sách ưu đãi phù hợp để thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang mô hình KCNST một cách hiệu quả, bền vững.

    4. Một số khuyến nghị thúc đẩy chuyển đổi mô hình khu công nghiệp sinh thái

    4.1. Các cơ quan, chương trình hỗ trợ cho KCNST

    Bước quan trọng nhất trong việc thúc đẩy nhân rộng mô hình KCNST chính là hình thành một hệ thống các cơ quan có thẩm quyền trong khuôn khổ pháp lý hiện hành, có chức năng, nhiệm vụ rõ ràng, đảm nhiệm việc hoạch định và thực thi chính sách.

    Ở cấp độ quốc gia: Cần thiết có Ban Chỉ đạo quốc gia về phát triển KCNST. Đây sẽ là cơ quan có thẩm quyền để chỉ đạo và tạo sự phối hợp giữa các bộ, ngành Trung ương và UBND cấp tỉnh. Ban Chỉ đạo quốc gia về phát triển KCNST là cơ quan trung tâm, có vai trò quan trọng trong xây dựng, giám sát thực thi chính sách về chuyển đổi và hình thành KCNST mới. Ngoài ra, nên có chương trình hỗ trợ chuyển đổi KCNST ở tầm quốc gia tập trung nguồn lực tài chính, nhân sự và điều phối phân bổ nguồn lực cho các địa phương.  

    Tại cấp địa phương: Ban quản lý KCN/KKT các tỉnh là cơ quan đầu mối tại địa phương thực hiện quản lý nhà nước về KCN. Nên hình thành trung tâm trực thuộc ban quản lý các KCN/KKT để thúc đẩy chuyển đổi KCNST. Trung tâm này có chức năng: (i) Tư vấn cho ban quản lý KCN hoạch định và thực thi chính sách về KCNST; (ii) Hỗ trợ  đánh giá hồ sơ xin công nhận KCNST và giám sát hoạt động KCNST; (iii) Tư vấn hỗ trợ kỹ thuật về KCNST; (iv) Đầu mối kết nối tại địa phương trong hợp tác đầu tư,  xây dựng mạng lưới đối tác tại địa phương và thúc đẩy mối tương tác giữa chính quyền với cộng đồng.

    4.2. Chuyển đổi KCNST

    Trên cơ sở của Nghị định số 35/2022/NĐ-CP, việc chuyển đổi và xây dựng KCNST tại Việt Nam hiện nay tập trung vào 2 nhóm giải pháp: Chuyển đổi mô hình KCN thông thường sang mô hình KCNST; Phát triển và thành lập KCNST mới.

    Đối với chuyển đổi mô hình KCN thông thường sang mô hình KCNST

    Thứ nhất, cần xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu nhằm đánh giá hiện trạng các KCN trên cả nước để xác định cơ hội chuyển đổi. Có thể áp dụng khung quốc tế về KCNST với bộ chỉ số đánh giá đã được UNIDO áp dụng để đánh giá tiềm năng chuyển đổi các KCN.

    Thứ hai, trên cơ sở hệ thống cơ sở dữ liệu đã được điều tra, đánh giá về tiềm năng chuyển đổi đối với hệ thống các KCN đang hoạt động trên cả nước, tiến hành xây dựng lộ trình chuyển đổi đối với từng nhóm KCN theo mức độ phát triển khác nhau, có xét đến yếu tố về nguồn lực (tài chính, con người) của DN, KCN và địa phương. Nên thực hiện chuyển đổi ngay đối với KCN đáp ứng đủ điều kiện.

    Thứ ba, tiếp tục nâng cao nhận thức cho các bên liên quan về mô hình KCNST. Tăng cường truyền thông, xây dựng chính sách quảng bá dưới hình thực hội nghị, hội thảo và thông qua phương tiện truyền thông về ích lợi của mô hình KCNST.

    Thứ tư, xây dựng, chuẩn bị nguồn tài chính phù hợp để hỗ trợ cho quá trình chuyển đổi; xây dựng chính sách hỗ trợ cho các KCN, DN tham gia chương trình chuyển đổi; huy động nguồn tài chính từ các quỹ tài chính trong, ngoài nước có chương trình cho vay ưu đãi phù hợp với nhu cầu chuyển đổi sang mô hình sinh thái của các DN hạ tầng và DN thứ cấp trong KCN.

    Thứ năm, tăng cường nghiên cứu khoa học để đổi mới công nghệ, áp dụng công nghệ sạch, phát thải ít các-bon, phát triển các mô hình CSCN tái sử dụng chất thải, chuyển chất thải thành năng lượng, đồng xử lý chất thải…; chú trọng đào tạo nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ kỹ thuật để áp dụng công nghệ mới.

    Đối với phát triển và thành lập KCNST mới

    Việc xây dựng, phát triển mô hình KCNST mới sẽ khó khăn hơn so với chuyển đổi KCN truyền thống vì yêu cầu nguồn vốn lớn, cần chọn lọc trong thu hút đầu tư và chính sách hỗ trợ cụ thể. Để phát triển mô hình KCNST mới, cần dựa trên cơ sở lợi thế, điều kiện, khả năng thực hiện, do đó việc quy hoạch các KCNST cần chú trọng việc được xây dựng và quản lý dựa trên nguyên tắc sinh thái công nghiệp và CSCN, bao gồm: Quy hoạch phát triển công nghiệp, quy hoạch không gian và quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch đầu tư và nguồn lực tài chính.

    Bên cạnh đó, mô hình KCNST mới cần đón đầu cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 để tạo ra giá trị công nghiệp bền vững. Theo đó, KCNST cần tập trung vào kết nối, tự động hóa, kết hợp sản xuất và vận hành thực tế với công nghệ kỹ thuật số thông minh, dữ liệu lớn để tạo hệ sinh thái được kết nối tốt hơn, tổng thể hơn cho các công ty tập trung vào sản xuất và “quản lý chuỗi cung ứng”. Điều này có thể thực hiện được thông qua quá trình triển khai theo hướng áp dụng mô hình cộng sinh với quản lý cơ sở dữ liệu được số hóa, áp dụng hiệu quả tài nguyên và sản xuất sạch hơn với quy trình ra quyết định ở mức độ số hóa. Đây là sự hợp lực giữa con người, máy móc với mục đích tối ưu hóa sự sử dụng nguồn lực về nguyên vật  liệu, năng lượng và các quá trình ra quyết định trong sản xuất.

TS. Nguyễn Trâm Anh

Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO)

(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường, số 2/2026)

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

 1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Phát triển KCN và mô hình KCNST gắn với TTX, phát triển bền vững, KTTH, 2024. https://www.mpi.gov.vn/portal/Pages/2024-8-23/Phat-trien-khu-cong-nghiep-va-mo-hinh-khu-cong-ngh0qfsuf.aspx.

    2. Bộ Công Thương 2025. Công nghiệp tái chế: Trụ cột mới cho TTX và KTTH.

    3. VNEconomy 2024. Vì sao nhiều KCN chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung?

    4. Bộ Công Thương. Phát động Giải thưởng Hiệu quả năng lượng trong công nghiệp - Công trình xây dựng năm 2024. Available from: https://moit.gov.vn/tin-tuc/su-dung-nang-luong-tiet-kiem-va-hieu-qua/phat-dong-giai-thuong-hieu-qua-nang-luong-trong-cong-nghiep-cong-trinh-xay-dung-nam-2024.html.

    5. NDC - Đóng góp do quốc gia tự quyết định - Cập nhật năm 2022.

    6. Chertow, M.R., “Uncovering” Industrial Symbiosis. 2007.

    7. Chertow, M.R., Industrial symbiosis: Literature and taxonomy. 2000.

    8. UNIDO, Implementation handbook for Eco-industrial parks. 2017.

    9. Anh, N.T., 2024. Báo cáo kết quả thực hiện Dự án năm 2023 và 2024 tại Hội nghị họp Ban Chỉ đạo Dự án "Triển khai KCNST tại việt nam theo hướng tiếp cận từ Chương trình KCNST toàn cầu"..

    10. Jerome.Stucki., 2019. Báo cáo kết quả thực hiện Dự án tại Hội thảo tổng kết Dự án "Triển khai sáng kiến KCNST hướng tới mô hình KCNp bền vững tại Việt Nam".

    11. Eco-Industrial Park Initiative in Viet Nam. 2024; https://eip-vietnam.org/publication.

Ý kiến của bạn