30/03/2026
Việc tuần hoàn và tái sử dụng nước thải sau xử lý trong khu công nghiệp (KCN) ở Việt Nam ngày càng được quan tâm. Điều này nhằm hướng đến mục tiêu vào năm 2035, ngành công nghiệp của Việt Nam sẽ phát triển theo hướng thân thiện với môi trường, hướng tới một ngành công nghiệp xanh và kết hợp với xu hướng kinh tế tuần hoàn (KTTH). Đồng thời, việc này cũng sẽ góp phần quan trọng vào việc thực hiện cam kết của Chính phủ tại Hội nghị lần thứ 26 các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP 26), với mục tiêu đưa phát thải ròng của Việt Nam về mức “0” vào năm 2050. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, Chính phủ Việt Nam đã xây dựng hệ thống các quy định pháp lý về quản lý tài nguyên nước trong đó có tái sử dụng và tái chế nước cũng như các qui định về quản lý KCN. Mặc dù Việt Nam đã có một số văn bản pháp lý liên quan đến tái sử dụng nước, song việc triển khai tái sử dụng nước đặc biệt tại các KCN trên thực tế còn gặp nhiều khó khăn. Do vậy, đề xuất giải pháp tăng tái sử dụng nước trong các KCN nói chung và KCN sinh thái nói riêng tại Việt Nam có ý nghĩa quan trọng.
1. Giới thiệu chung
Việc tái sử dụng nước thải sau khi xử lý đã được đề cập và khuyến khích trong các văn bản Luật, Nghị định. Luật Tài nguyên nước đã được điều chỉnh và thông qua vào tháng 11/2023 và có hiệu lực từ 1/7/2024 (Điều 58,59,60 tại Chương IV, mục 4: Sử dụng nước tiết kiệm hiệu quả) [1]. Luật BVMT năm 2020 đã đề cập đến vấn đề tái sử dụng chất thải trong các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tại Điều 53; Nước thải được khuyến khích tái sử dụng khi đáp ứng yêu cầu về BVMT và mục đích sử dụng nước tại Điều 72 [2]. Luật Giá năm 2023 có quy định giá bán nước sạch thuộc danh mục hàng hóa do Nhà nước định giá, do vậy, cũng sẽ ảnh hưởng đến việc chuyển giao nước đã qua xử lý giữa các doanh nghiệp [3].
Nghị định số 08/2022/NĐ- CP quy định chi tiết một số điều của Luật BVMT năm 2020, trong đó có quy định yêu cầu chung về quản lý nước thải (được bổ sung bởi Nghị định số 05/2025/NĐ-CP ngày 6/1/2025) tại Điều 57. Điều 138 quy định chung về KTTH, trong đó nêu rõ cần ưu tiên tái sử dụng nước thải cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ [4]. Theo Nghị định số 05/2025/NĐ-CP tại mục 31 có sửa đổi bổ sung khoản 4 Điều 74: Các trường hợp đặc thù quản lý nước thải, khí thải. Trong đó yêu cầu về BVMT đối với một số hoạt động chuyển giao nước thải đặc thù trong đó có tái sử dụng nước thải tưới cho cây trồng [5]. Bên cạnh đó, Nghị định số 05/2025/NĐ-CP cũng bổ sung thêm điều khoản quy định Bộ và cơ quan ngang Bộ ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, hướng dẫn kỹ thuật hoặc quy định khi tuần hoàn, tái sử dụng nước thải cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vu thuộc phạm vi quản lý. Nghị định số 35/2022/NĐ-CP xác định rõ vai trò và trách nhiệm UBND tỉnh hỗ trợ chính sách và kiểm soát tổng thể, đặc biệt liên quan đến tái sử dụng nước. Trong đó, Điều 36-45 nêu rõ vai trò của UBND tỉnh về xây dựng chính sách, hỗ trợ khoa học, kỹ thuật, chuyển giao công nghệ để cải thiện quy trình quản lý và vận hành đổi mới công nghệ sản xuất trong đó có tái sử dụng các loại tài nguyên [6]…
Tuy nhiên, Thông tư số 02/2022/TT-BTNMT của Bộ TN&MT (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật BVMT năm 2020 [12] và Thông tư số 03/2024/TT-BTNMT của Bộ TN&MT: Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước năm 2023 [13] chưa có quy định điểm nào liên quan đến vẫn đề tái sử dụng nước thải. Các quy định về tái sử dụng nước thải về cơ bản vẫn dừng ở nguyên tắc chung. Do đó, các doanh nghiệp gặp khó khăn khi thực hiện các hoạt động liên quan đến tái sử dụng nước thải. Vì vậy, việc phân tích các khía cạnh tái sử dụng nước trong các văn bản pháp lý và đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động tái sử dụng nước cho các mục đích khác nhau đối với các KCN nói chung và KCN sinh thái nói riêng là hết sức cần thiết [14].
2. Tiềm năng tái sử dụng nước tại các khu công nghiệp
Tại Việt Nam, tái sử dụng nước và KTTH tài nguyên nước có thể được thực hiện ở 3 cấp độ: (i) Cấp độ vi mô (doanh nghiệp, nhà máy); (ii) cấp độ trung bình (các nhóm cộng sinh, KCN) và (iii) cấp độ vĩ mô (thành phố, tỉnh và vùng) trong một số lĩnh vực trọng tâm như các hệ thống công nghiệp, môi trường xây dựng, cơ sở hạ tầng đô thị và sinh thái.
2.1. Cấp độ vi mô
Tái sử dụng nước và KTTH tài nguyên nước ở cấp độ vi mô là cách tiếp cận tái sử dụng nước trực tiếp phục vụ cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể tái sử dụng trực tiếp nước thải đủ sạch hoặc nước thải đã qua xử lý đạt quy chuẩn cho các mục đích sử dụng khác nhau. Nước sử dụng trong quá trình làm mát thường chứa ít chất gây ô nhiễm, nên có thể tái sử dụng cho công đoạn sản xuất. Nước thải sau xử lý có thể được sử dụng để rửa thiết bị, tưới cây, rửa đường. Nước mưa có thể được tái sử dụng cho các mục đích tưới cây, rửa đường, phòng cháy chữa cháy,… [12].
Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc (UNEP) đưa ra cách tiếp cận sản xuất sạch hơn (SXSH). SXSH tập trung vào việc phòng ngừa chất thải ngay tại nguồn bằng cách tác động vào quá trình sản xuất. Ngoài ra, các giải pháp liên quan đến tuần hoàn, tận thu, tái sử dụng chất thải hay cải tiến sản phẩm cũng là các giải pháp của SXSH. Các kỹ thuật chính trong SXSH bao gồm: (i) Giảm thiểu tại nguồn; (ii) Tuần hoàn và tái sử dụng; (iii) Cải tiến sản phẩm. Như vậy, SXSH có nhiều điểm tương đồng với quan điểm về KTTH tài nguyên nước và một trong những phương pháp tiếp cận và thực hiện của SXSH là tái sử dụng nước [14].
2.2. Cấp độ trung bình
KCN sinh thái (KCNST) là một “cộng đồng” các doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ có mối liên hệ mật thiết trên cùng một lợi ích, trên cùng một địa điểm hướng tới một hoạt động mang tính xã hội, kinh tế và môi trường chất lượng cao, thông qua sự hợp tác trong quản lý các các vấn đề môi trường và tài nguyên [6]. Bằng các hoạt động hợp tác chặt chẽ với nhau, “cộng đồng” KCNST có thể đạt được một hiệu quả tổng thể lớn hơn so với hoạt động của từng doanh nghiệp. Một KCNST là một hệ thống công nghiệp trao đổi năng lượng và nguyên liệu nhằm đạt được mục tiêu giảm thiểu tối đa sử dụng năng lượng và nguyên liệu thô, giảm thiểu tối đa chất thải, và tạo sự bền vững giữa các mối quan hệ kinh tế, sinh thái và xã hội. Mục tiêu của KCNST và KTTH đều hướng đến giảm tiêu thụ năng lượng, nguyên liệu thô và giảm thiểu tối đa chất thải. KCNST tạo ra chu trình sản xuất tuần hoàn giữa các doanh nghiệp trong KCN trong khi KTTH bao quát hơn, sát hơn với hệ sinh thái công nghiệp là kết nối không chỉ các doanh nghiệp trong KCN mà còn với các doanh nghiệp hay các khu vực chức năng khác ở bên ngoài.

Nhà máy xử lý nước thải KCN AMATA (Biên Hòa, Đồng Nai)
Cộng sinh công nghiệp (CSCN) trong KCN được quy định tại Khoản 7 Điều 2 Nghị định số 35/2022/NĐ-CP quy định về quản lý KCN và khu kinh tế [6]. CSCN trong KCN là hoạt động hợp tác giữa các doanh nghiệp trong một KCN hoặc trong các KCN khác nhau để tối ưu hóa việc sử dụng hoặc tái sử dụng yếu tố đầu vào, đầu ra như nguyên liệu, vật liệu, nước, năng lượng, chất thải, phế liệu và yếu tố khác trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Các doanh nghiệp hình thành mạng lưới trao đổi các yếu tố phục vụ sản xuất, sử dụng chung hạ tầng và các dịch vụ phục vụ sản xuất, cải thiện quy trình công nghệ, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Về bản chất CSCN là doanh nghiệp thực hiện những mô hình tuần hoàn nhỏ trong KCN hoặc với doanh nghiệp đơn lẻ như tuần hoàn sử dụng nước trước khi thải hay thực hiện việc trao đổi sản phẩm phụ, chất thải, phế liệu. CSCN là một trong những mô hình kinh doanh tuần hoàn nhỏ của nền KTTH.
2.3. Cấp độ vĩ mô
Việc thực hiện KTTH và tái sử dụng nước thường được kết hợp giữa các lĩnh vực/khu vực khác nhau như kết hợp lĩnh vực công nghiệp - đô thị, hoặc công nghiệp - nông nghiệp hoặc nông nghiệp - đô thị. Nước thải từ lĩnh vực công nghiệp hoặc đô thị sau xử lý có thể sử dụng với nhiều mục đích khác nhau như cho các hoạt động ở khu vực đô thị (tưới cây bên đường, cây trong công viên, tẩy rửa, vệ sinh,…); tưới tiêu trong nông nghiệp; tái sử dụng trong công nghiệp (tẩy rửa, làm mát,…); hoàn lại hệ sinh thái (bù vào các nguồn nước bị thiếu như tránh khô hạn, cấp nước cho hồ, ao,...) [6, 12].
3. Thực trạng chính sách hiện nay liên quan đến hoạt động tái sử dụng nước
Bộ TN&MT (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đã có Công văn số 1774/BTNMT-TCMT, ngày 18/4/2019 về việc hướng dẫn việc thực hiện tái sử dụng nước thải sau xử lý để tưới cây, rửa đường: Việc giảm thiểu, tái sử dụng nước thải của các cá nhân, tổ chức trong quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ là hoạt động được khuyến khích thực hiện theo quy định tại Luật BVMT năm 2014 và Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu [14]. Công văn số 1774/BTNMT-TCMT (ngày 18/4/2019, của Bộ TN&MT đã hướng dẫn việc thực hiện tái sử dụng nước thải sau xử lý để tưới cây, rửa đường như sau: Việc giảm thiểu, tái sử dụng nước thải của các cá nhân, tổ chức trong quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ là hoạt động được khuyến khích thực hiện theo quy định tại Luật BVMT năm 2014.
Đối với KCN đang hoạt động mà các giấy phép (phê duyệt ĐTM, giấy phép môi trường) chưa đề cập đến nội dung tái sử dụng nước và/hoặc chưa được cấp phép thì các KCN cần phải xin cấp lại giấy phép cập nhật theo hướng dẫn. Theo đó, các KCN này sẽ được cấp lại giấy phép môi trường tích hợp với các hướng dẫn và yêu cầu liên quan đến tái sử dụng nước. Đối với các KCN đang ở giai đoạn xây dựng, chưa đi vào vận hành thì chủ đầu tư và các đơn vị tư vấn phải đưa nội dung liên quan đến tái sử dụng nước vào các báo cáo liên quan để được cấp phép hoạt động. Tất các các hoạt động liên quan đến tái sử dụng nước cần thể hiện rõ trong quy trình công nghệ trang thiết bị, các mục đích tái sử dụng nước, lượng nước có thể tái sử dụng. Các quy trình chi tiết về phân tích tiêu hao điện năng, hóa chất cần đảm bảo đồng bộ với các biện pháp BVMT khác và bám sát các yêu cầu về điều kiện vận hành thể hiện rõ trong các Điều 9,10 của Nghị định số 45/2022/NĐ-CP ngày 7/7/2022 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT [7].
Các phân tích nêu trên cho thấy, các văn bản pháp luật có sự khuyến khích hỗ trợ, nghiên cứu, phát triển,…, tuy nhiên hiện nay chưa có một quy chuẩn nào cụ thể, thể hiện rõ yêu cầu về chất lượng nước tái sử dụng. Việc tái sử dụng nước thải sau xử lý sẽ giúp cải thiện nguồn nước, đem lại hiệu quả kinh tế cao… Vì vậy, cần những quy chuẩn/tiêu chuẩn Việt Nam về vấn đề tái sử dụng nước, để các doanh nghiệp cũng như người sử dụng có thể dễ dàng tiếp cận cũng như thực hiện.
4. Kinh nghiệm quốc tế và các giải pháp thúc đẩy tuần hoàn tái sử dụng nước tại khu công nghiệp
4.1. Bài học quốc tế
Các nỗ lực về tái sử dụng nước của Liên minh châu Âu (EU) tập trung vào tái sử dụng nước thải công nghiệp và nước thải đô thị. Nhằm hiện thực hóa mục tiêu này, EU ban hành các chính sách như Chỉ thị phát thải công nghiệp (Industrial Emissions Directive 2010/75/EU), Chỉ thị Khung về nước (Water Framework Directive - WFD 2000/60/EC), các tài liệu tham khảo về các kỹ thuật tốt nhất hiện có (Best Available Techniques Reference) (BREFs) cũng như các kế hoạch hành động cho nền KTTH. Quy định (2020/741) của Nghị viện và Hội đồng châu Âu về yêu cầu tối thiểu đối với tái sử dụng nước cho tưới tiêu nông nghiệp có hiệu lực từ tháng 6/2020. Một điểm quan trọng trong chính sách của EU là ban hành các tiêu chuẩn giới hạn về nồng độ đối với các chất ô nhiễm trong nước thải. Nước thải sau xử lý đạt tiêu chuẩn giới hạn được sử dụng trong lĩnh vực nông nghiệp. Yêu cầu tiêu chuẩn được xây dựng theo 4 mức, trên cơ sở xem xét các yếu tố như loại cây trồng, phương thức tưới [15].
Để quản lý hoạt động tái sử dụng nước thải từ năm 2005, Nhật Bản đã ban hành tiêu chuẩn kỹ thuật về tái sử dụng nước thải với bảy thông số ô nhiễm cần kiểm soát ứng với các mục đích tái sử dụng nước thải khác nhau. Bộ Đất đai, giao thông, hạ tầng kỹ thuật và du lịch của Nhật Bản cũng đã xây dựng, ban hành các hướng dẫn kỹ thuật liên quan đến tái sử dụng nước thải như hướng dẫn về hệ thống tái sử dụng nước thải có sử dụng công nghệ lọc màng UF và khử trùng bằng tia UV. Đối với yêu cầu về kỹ thuật, Nhật Bản cũng quy định về mức độ xử lý nước thải ứng với các mục đích tái sử dụng nước. Cụ thể, nước tái sử dụng cho mục đích xả rửa vệ sinh, phun tưới và tạo cảnh quan phải được lọc bằng cát hoặc xử lý cấp tương đương hoặc cao cấp hơn; nước tái sử dụng cho mục đích giải trí phải được xử lý bằng keo tụ kết hợp lọc cát hoặc xử lý cao cấp hơn [16].
Chiến lược an ninh nước dài hạn của Singapore bắt đầu được hình thành vào năm 1965 do khan hiếm tài nguyên nước. Singapore đã phát triển hệ thống quản lý tài nguyên nước toàn diện bao gồm quản lý lưu vực, phát triển cơ sở hạ tầng, xử lý, lưu trữ địa phương và nguồn nước nhập khẩu, xây dựng cơ chế định giá, phi định giá cho mục đích bảo tồn tài nguyên nước, quản lý, xử nước thải, sản xuất nước tái sử dụng từ nguồn nước thải đô thị từ năm 2003 (Dự án NEWater) và khử muối trong nước từ năm 2005. Singapore là quốc gia đi đầu trong đổi mới và tiết kiệm nước, tận dụng tối đa việc tái chế nước, không chỉ tái chế sử dụng cho nông nghiệp, công nghiệp mà còn dùng để uống. Bên cạnh việc áp dụng các giải pháp công nghệ, Singapore tăng cường áp dụng các thể chế chính trị và giáo dục ý thức về bảo vệ tài nguyên nước [17].

Công trình Nhà máy xử lý nước thải trong khuôn viên KCN Nam Cầu Kiền
thiết kế theo mô hình vườn Nhật đầu tiên tại Việt Nam
Hướng dẫn tái chế nước của Ôxtrâylia được thông qua vào năm 2006 và nêu ra các yêu cầu cụ thể đối với việc tưới tiêu nông nghiệp, làm vườn, sử dụng cho đô thị. Ôxtrâylia cũng đã ban hành hướng dẫn tái sử dụng nước uống được vào năm 2008. Những hướng dẫn này được xây dựng dựa trên khung quản lý rủi ro của Tổ chức y tế thế giới (WHO), cung cấp một nguồn thông tin có giá trị cho các nhà quy hoạch cũng như các tiện ích liên quan đến việc thực hiện các dự án tái sử dụng nước [18].
4.2. Đề xuất giải pháp cho Việt Nam
Ở Việt Nam, theo Điều 86, mục 5, Chương 6, Luật BVMT năm 2020 thể hiện rõ các yêu cầu về thu gom, xử lý nước thải sản xuất [2]. Trong đó, yêu cầu các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung, cụm công nghiệp phải có hệ thống thu gom, xử lý nước thải riêng biệt với hệ thống thoát nước mưa. Nước thải phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong đô thị phải được thu gom, xử lý sơ bộ trước khi đấu nối vào hệ thống thu gom, xử lý nước thải đô thị; nước thải sau khi xử lý sơ bộ phải đáp ứng quy định của khu đô thị, khu dân cư tập trung hoặc quy định của chính quyền địa phương. Nước thải phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong đô thị chưa có công trình xử lý nước thải tập trung phải được thu gom, xử lý đáp ứng yêu cầu về BVMT trước khi thải vào nguồn tiếp nhận. Quản lý nước thải từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ được quy định cụ thể, bao gồm: (1) Nước thải của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung, cụm công nghiệp được thu gom và xử lý sơ bộ trước khi đấu nối vào hệ thống thu gom, xử lý nước thải công nghiệp theo yêu cầu của chủ đầu tư xây dựng khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung, cụm công nghiệp bảo đảm nước thải phải được xử lý đáp ứng yêu cầu về BVMT; (2) Nước thải của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nằm ngoài khu đô thị, khu dân cư tập trung, khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung, cụm công nghiệp không kết nối được vào hệ thống thu gom, xử lý nước thải phải được thu gom và xử lý đáp ứng yêu cầu về BVMT trước khi thải vào nguồn tiếp nhận.
Hiện nay, cơ quan tiêu chuẩn quốc gia Việt Nam đã chấp nhận các TCVN đầu tiên về tái sử dụng nước và đã được Bộ KH&CN công bố là tiêu chuẩn quốc gia trong lĩnh vực này, trong đó gồm có TCVN 12526:2018 (ISO 20761:2018) về hướng dẫn đánh giá an toàn tái sử dụng nước – Thông số và phương pháp đánh giá; và bộ TCVN 12525:2018 (ISO 20760:2018) (gồm 2 phần) về hướng dẫn cho hệ thống tái sử dụng nước tập trung [12].
Tuy đã có nhiều văn bản khác nhau về vấn đề tái sử dụng nước nhưng vẫn chưa có văn bản ban hành chính thức quy chuẩn kỹ thuật quốc gia việc tái sử dụng nước thải sau xử lý khiến các hoạt động tái sử dụng nước thải do gặp vấn đề trong thủ tục pháp lý. Do vậy, cần ban hành tiêu chuẩn/quy chuẩn cũng như hướng dẫn chi tiết để tái sử dụng nước thải sau xử lý tập trung cho các mục đích khác nhau. Theo khảo sát từ yêu cầu thực tế của các KCN tập trung, trước mắt cần xây dựng các tiêu chuẩn và hướng dẫn tái sử dụng nước cho mục đích tưới cây xanh, thảm cỏ tại KCN [14].
Để thực hiện tái sử dụng cho mục đích tưới cây, rửa đường trong khuôn viên cơ sở, nước thải sau xử lý phải bảo đảm đạt các Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải tương ứng được xác định trong Báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt hoặc Kế hoạch BVMT đã được xác nhận hoặc hồ sơ, giấy tờ tương đương và phải đáp ứng các yêu cầu sau cơ bản như: (i) Trường hợp tái sử dụng nước thải sau xử lý để tưới cây xanh trong khuôn viên cơ sở thì chủ cơ sở có trách nhiệm xử lý nước thải đạt quy chuẩn kỹ thuật theo quy định tại QCVN 08-MT:2015/BTNMT, cột B1 (nay là QCVN 08:2025/BTNMT) trước khi tái sử dụng; (ii) Trường hợp tái sử dụng nước thải sau xử lý để dội nhà vệ sinh, rửa đường trong khuôn viên cơ sở thì chủ cơ sở có trách nhiệm xử lý nước thải đạt quy chuẩn kỹ thuật theo quy định tại QCVN 08-MT:2015/BTNMT, cột A1 (nay là QCVN 08:2025/BTNMT) trước khi tái sử dụng; (iii) Chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phải kê khai, nộp phí BVMT đối với lượng nước thải đã sử dụng cho mục đích tưới cây, dội nhà vệ sinh, rửa đường theo quy định của Nghị định số 154/2016/NĐ-CP ngày 16/11/2016 (nay là Nghị định số 53/2020/NĐ-CP) của Chính phủ về phí BVMT đối với nước thải [7, 14].
5. Kết luận
Việc đề xuất giải pháp tăng cường tái sử dụng nước tại KCN nói chung và KCN sinh thải ở Việt Nam nói riêng là hết sức cần thiết. Xây dựng khung pháp lý về tái chế và tái sử dụng nước thải trong KCN ở Việt Nam là yêu câu cấp thiết đối với các doanh nghiệp và các KCN. Do vậy, việc tháo gỡ các nút thắt pháp lý và kỹ thuật cho việc tái sử dụng nước chính là đòn bẩy quan trọng để thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang KCNST tại Việt Nam một cách thực chất và hiệu quả nhằm hiện thực hóa các mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia. Trong đó, các khung pháp lý cần đáp ứng đầy đủ các quy trình để có thể vận hành có hiệu quả đáp ứng quản lý nguồn nước trong bối cảnh KTTH. Ngoài ra, cần thể hiện rõ mục tiêu của khung pháp lý nhằm thúc đẩy việc tái chế và tái sử dụng nước thải trong KCN, đảm bảo an ninh nguồn nước và BVMT. Phạm vi áp dung của khung pháp lý nên tập trung vào các vấn đề về: (i) Nước thải đã qua xử lý tại trạm xử lý tập trung của các KCN; (ii) Đối tượng tái chế và tái sử dụng nước thải nằm trong phạm vi hàng rào của KCN; (iii) Điều chỉnh quy hoạch hạ tầng, đường dây, đường ống trong KCN để dáp ứng yêu cầu chuyển giao nước qua xử lý.
Đỗ Khắc Uẩn, Nguyễn Thị Lan Phương, Hoàng Thị Thu Hương
Trường Hóa và Khoa học sự sống, Đại học Bách khoa Hà Nội
(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường, số 2/2026)
Tài liệu tham khảo
1. Luật Tài nguyên nước 2023. Số ký hiệu, 28/2023/QH15. Ngày ban hành, 27/11/2023. Ngày có hiệu lực, 1/7/2024.
2. Luật BVMT 2020. Số ký hiệu, 72/2020/QH14. Ngày ban hành, 17/11/2020. Ngày có hiệu lực, 1/1/2022.
3. Luật Giá số 16/2023/QH15. Số ký hiệu, 16/2023/QH15. Ngày ban hành, 19/6/2023. Ngày có hiệu lực, 1/7/2024.
4. Nghị định số 08/2022/NĐ- CP, Quy định chi tiết một số điều của Luật BVMT.
5. Nghị định số 05/2025/NĐ-CP, sửa đổi Nghị định số 08/2022/NĐ-CP hướng dẫn Luật BVMT.
6. Nghị định số 35/2022/NĐ-CP, quy định về quản lý KCN và khu kinh tế.
7. Nghị định số 53/2020/NĐ-CP, quy định về phí BVMT đối với nước thải.
8. Nghị định số 45/2022/NĐ-CP, quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT.
9. Nghị định số 80/2014/NĐ-CP, quy định về thoát nước và xử lý nước thải.
10. Nghị định số 98/2019/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định khác thuộc lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật.
11. Thông tư số 02/2022/TT-BTNMT, quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật BVMT.
12. Hoàng Thị Thu Hương, Đỗ Khắc Uẩn, Nguyễn Thị Lan Phương, Đào Hoàng Hải (2023) Tuần hoàn tái sử dụng nước thải sau xử lý trong công nghiệp - Tiềm năng và thách thức. Tạp chí môi trường, Số 3-2023, tr.4-9.
13. Thông tư số 03/2024/TT-BTNMT, quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước 2023.
14. Đỗ Khắc Uẩn, Vũ Ngọc Thủy, Nguyễn Thị Lan Phương, Bùi Hoa Dương, Hoàng Thị Thu Hương (2025) Đánh giá cơ hội và phân tích các vấn đề kỹ thuật trong việc tái sử dụng nước tại các KCN. Tạp chí môi trường, Kỳ 1-2025, tr.85-89.
15. European Commision (2020) Water Framework Directive (WFD) 2000/60/EC: Directive 2000/60/EC.
16. Haruka Takeuchi, Hiroaki Tanaka (2020) Water reuse and recycling in Japan - History, current situation, and future perspectives” Water Cycle, 2020; 1: 1–12.
17. Cecilia Tortajada and Ishaan Bindal (2020) Water Reuse in Singapore: The New Frontier in a Framework of a Circular Economy.55-66. In book: Water reuse within a circular economy context. UNESCO Publishing.
18. Environment Protection and Heritage Council, the Natural Resource Management Ministerial Council and the Australian Health Ministers (2006) Australia Guidelines for Water Recycling: Managing Health and Environmental Risks. ISBN 1921173068.