02/03/2026
Trải qua hơn 80 năm đồng hành cùng lịch sử dân tộc, nông nghiệp Việt Nam luôn giữ vai trò trụ cột trong phát triển kinh tế, ổn định xã hội và bảo vệ đất nước. Từ một nền sản xuất nhỏ lẻ, lạc hậu, nông nghiệp đã vươn lên trở thành một trong những ngành xuất khẩu chủ lực, góp phần nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Tuy nhiên, ngành Nông nghiệp cũng đứng trước yêu cầu chuyển đổi toàn diện sang mô hình kinh tế nông nghiệp hiện đại, sinh thái và bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu, đáp ứng tiêu chuẩn khắt khe của thị trường quốc tế, đồng thời bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. Trong bối cảnh đó, xu hướng nông nghiệp đa chức năng nổi lên như một hướng đi chiến lược, không chỉ tập trung vào sản xuất nông sản mà còn chú trọng đến việc cung cấp các hàng hóa công cộng và dịch vụ môi trường, văn hóa, xã hội khác [1]. Bài viết phân tích kinh nghiệm phát triển nông nghiệp đa chức năng của một số quốc gia trên thế giới, trên cơ sở đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, định hướng phát triển trong bối cảnh mới, khi ngành Nông nghiệp đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi sang mô hình xanh, sinh thái và có trách nhiệm hơn.
1. Đặt vấn đề
Theo Van Huylenbroeck & Durand, nông nghiệp đa chức năng là một hệ thống tích hợp, trong đó các chức năng kinh tế, xã hội và sinh thái được thực hiện đồng thời, tạo ra một nền nông nghiệp toàn diện hơn [2]. Còn theo Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), nông nghiệp đa chức năng được hiểu là “mô hình nông nghiệp không chỉ cung cấp thực phẩm và nguyên liệu thô mà còn đóng góp vào các giá trị phi hàng hóa, bao gồm BVMT, duy trì cảnh quan và hỗ trợ phát triển bền vững của cộng đồng nông thôn”. Hay Đỗ Kim Chung cho rằng, nông nghiệp đa chức năng là hệ thống sản xuất tích hợp, tạo ra hàng hóa nông sản và đảm nhận các vai trò quan trọng khác: kinh tế (tạo việc làm, thu nhập, thúc đẩy tăng trưởng và thị trường), xã hội (bảo tồn văn hóa, duy trì cộng đồng nông thôn, nâng cao đời sống nông dân), môi trường (bảo vệ tài nguyên, duy trì đa dạng sinh học, giảm thiểu tác động biến đổi khí hậu qua canh tác bền vững), phát triển bền vững (cân bằng sản xuất và bảo tồn, thích ứng với xu hướng hiện đại như nông nghiệp hữu cơ, thông minh) [14]. Các khái niệm trên đều nhấn mạnh sự tương tác giữa các mục tiêu khác nhau thay vì chỉ tập trung vào tối đa hóa sản lượng như các mô hình trước đây. Tóm lại, có thể hiểu nông nghiệp đa chức năng là quá trình nâng cao năng lực của nông nghiệp nhằm đồng thời đáp ứng nhiều mục tiêu phát triển bền vững, gồm đảm bảo an ninh lương thực, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, cải thiện sinh kế, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội khu vực nông thôn [3].
Tại Việt Nam, nông nghiệp tiếp tục khẳng định vai trò “trụ đỡ” của nền kinh tế, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia trong mọi tình huống, giữ ổn định đời sống nhân dân, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế thế giới còn tiềm ẩn nhiều biến động. Chương trình xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững đạt kết quả toàn diện, hoàn thành sớm các mục tiêu đề ra, góp phần quan trọng thay đổi diện mạo nông thôn, nâng cao thu nhập, đời sống vật chất và tinh thần cho người dân. Cùng với đó, công tác BVMT có nhiều chuyển biến tích cực; ý thức, trách nhiệm của các cấp chính quyền, doanh nghiệp và người dân được nâng cao. Bộ đã chỉ đạo triển khai các giải pháp đồng bộ nhằm kiểm soát ô nhiễm, cải thiện chất lượng môi trường, thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; tăng cường hợp tác quốc tế, huy động nguồn lực xã hội cho BVMT và ứng phó biến đổi khí hậu, qua đó góp phần nâng cao hình ảnh, uy tín của Việt Nam trong các sáng kiến toàn cầu về phát triển bền vững. Tuy nhiên, quá trình phát triển Ngành còn một số yếu tố thiếu bền vững, tăng trưởng khá cao nhưng chưa ổn định. Chất lượng và khả năng cạnh tranh của một số sản phẩm chưa cao. Công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản chưa phát triển mạnh; tổn thất sau thu hoạch còn cao… [15]. Thực trạng trên cho thấy rất cần thiết phải chuyển đổi sang nông nghiệp đa chức năng nhằm phát huy hết được các tiềm năng sẵn có, khắc phục hạn chế, yếu kém. Từ kinh nghiệm của các nước trên thế giới, bài viết chỉ ra rằng phát triển nông nghiệp đa chức năng ở hầu hết các nước trên thế giới góp phần khai thác giá trị nhiều mặt của nông nghiệp, không chỉ giới hạn ở cung cấp lương thực thực phẩm mà còn tạo ra các dịch vụ hệ sinh thái, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội nông thôn.
2. Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam
Quy hoạch vùng phát triển nông nghiệp đa chức năng một cách linh hoạt
Quy hoạch có vai trò rất quan trọng trong phát triển đất nước nói chung và được xác định như là một trong những động lực cho tăng trưởng. Chính vì vậy, để tạo được động lực tăng trưởng mới, khai thác hết tiềm năng cho phát triển, quy hoạch cần phải dài hơi và đi trước một bước. Quy hoạch vùng phát triển nông nghiệp đa chức năng được hiểu là quá trình phân bổ và sắp xếp không gian cho các hoạt động sản xuất nông nghiệp nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và BVMT trong một khoảng thời gian nhất định [4]. Quy hoạch cần dựa trên điều kiện đất đai, khí hậu và đặc điểm kinh tế - xã hội của từng vùng, hướng đến xây dựng nên nông nghiệp hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa quy mô lớn, đồng thời phát huy lợi thế so sánh và ứng dụng khoa học công nghệ.
Hàn Quốc là hình mẫu về quy hoạch nông nghiệp đa chức năng, kết hợp nông nghiệp thông minh với làng sinh thái. Các vùng được phân bổ chức năng sản xuất nông sản chất lượng cao kết hợp phát triển các làng nông nghiệp sinh thái phục vụ du lịch và giáo dục. Chính phủ hỗ trợ qua chương trình trợ cấp mua máy móc, đào tạo công nghệ và xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn (đường giao thông, thủy lợi) [5]. Suncheon (Hàn Quốc) là một trong những thành phố hiếm hoi trên thế giới có quy hoạch chiến lược sinh thái (ecological strategic planning). Nằm ở ven biển phía Nam Hàn Quốc, Suncheon được bao bọc bởi núi và hướng ra biển. Vịnh Suncheon trước đây từng là một khu vực ven biển ô nhiễm và hoang tàn, không có giá trị sinh thái. Tuy nhiên, nhờ việc áp dụng quy hoạch chiến lược sinh thái bài bản, tập trung vào bảo vệ và phục hồi thiên nhiên, thành phố đã biến vùng đất ngập nước ven biển từ một nơi ô nhiễm, thành một hệ sinh thái đầy sức sống, hàng năm đón hàng trăm ngàn cá thể chim di cư và hàng triệu du khách. Du lịch sinh thái trở thành nguồn đóng góp 60% GDP, thay thế ngành công nghiệp, mang lại nguồn thu nhập lớn. Đây là minh chứng cho thấy đầu tư vào thiên nhiên và quy hoạch sinh thái có thể mang lại lợi ích kinh tế và xã hội bền vững.
Tại Lào, mô hình du lịch cộng đồng tại Làng sinh thái Vang Vieng với những tiềm năng, điều kiện tự nhiên sẵn có, chính quyền và người dân biết cách xây dựng thành làng sinh thái mà điểm nhấn là mô hình du lịch cộng đồng. Nhờ quy hoạch làng không khách sạn cao tầng, không có tòa nhà văn phòng lớn, chỉ xây dựng những những căn nhà gỗ hoặc nhà tre hai bên bờ sông, hệ thống cây xanh bao phủ, tạo nên một một sự hài hòa với thiên nhiên, đậm nét hoang sơ. Chính quyền luôn khuyến khích và tạo điều kiện cho người dân phát triển du lịch, vì vậy, mỗi người dân ở Vang Vieng đều có thể làm du lịch, con người thân thiện, hiền hòa và đậm văn hóa bản địa. Bên cạnh đó, chính quyền cũng đưa ra các quy định chặt chẽ và chi tiết về tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường trong xây dựng nhà hàng, nhà nghỉ, khách sạn… Các địa điểm du lịch tại thị trấn đều gắn với nhân dân, người dân có cổ phần ngay từ đầu khi có dự án, bằng hình thức góp đất cá nhân, góp đất của bản hoặc góp công lao động. Chính quyền chỉ đưa ra các quy chuẩn quản lý, hướng dẫn vấn đề kỹ thuật, chuyên môn, cách thức làm du lịch và giao cho người dân trực tiếp thực hiện, về lâu dài, việc quản lý khu du lịch sẽ thuộc về trưởng bản. Ngoài ra, chính quyền và người dân Vang Vieng tận dụng thiên nhiên để thiết kế rất nhiều trò chơi thu hút khách du lịch cũng như phục vụ nhu cầu đa dạng. Với cách tổ chức, thiết kế hợp lý, mục tiêu bảo tồn cảnh quan tự nhiên, phát huy bản sắc văn hóa bản địa và đặc biệt là thực hiện tốt mô hình du lịch cộng đồng, sau gần 20 năm, Vang Vieng đã trở thành điểm du lịch sinh thái, với “không gian xanh”, “tăng trưởng xanh” và “việc làm xanh”.
Nhật Bản lại tập trung quy hoạch nông nghiệp đa chức năng để bảo tồn văn hóa nông thôn và môi trường thông qua sáng kiến “Satoyama”. Đây là một nỗ lực toàn cầu nhằm bảo tồn và phát huy các cảnh quan nông thôn truyền thống, nơi con người sống hài hòa với thiên nhiên, kết hợp nông nghiệp bền vững (ruộng lúa, đồng cỏ, rừng) để duy trì đa dạng sinh học và phúc lợi con người. Khởi xướng năm 2009 dưới sự bảo trợ của UNESCO, sáng kiến này thúc đẩy việc sử dụng bền vững tài nguyên và coi các khu vực satochi-satoyama (vùng đồng quê và núi) là tài sản thiên nhiên quý giá cần truyền lại cho tương lai, thông qua các dự án hợp tác và nâng cao nhận thức trên toàn thế giới. Theo sáng kiến này, các vùng nông nghiệp được phân bổ chức năng kết hợp sản xuất (lúa gạo, rau củ), bảo tồn đa dạng sinh học và du lịch văn hóa (lễ hội truyền thống, homestay). Chính phủ hỗ trợ nông dân thông qua hỗ trợ kỹ thuật và xây dựng nông sản địa phương, đồng thời khuyến khích cộng đồng tham gia quản lý tài nguyên [6].

Đồng bằng sông Cửu Long có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển mô hình nuôi tôm kết hợp trồng lúa
Từ kinh nghiệm của các nước cho thấy, bài học cho Việt Nam là cần quy hoạch dựa trên lợi thế địa phương. Đây là phương pháp phát triển vùng/địa phương bằng cách khai thác tối đa tiềm năng, thế mạnh đặc trưng (tài nguyên thiên nhiên, văn hóa, kinh tế) để hình thành lợi thế cạnh tranh, tạo ra chuỗi giá trị bền vững, gắn kết với hệ thống quy hoạch chung quốc gia, vùng và kết nối liên tỉnh, nhằm sử dụng hiệu quả nguồn lực, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo hướng hiện đại, mang bản sắc riêng. Đồng bằng sông Cửu Long hiện là một trong 4 đồng bằng trên thế giới bị tác động mạnh nhất do biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Nếu không thích ứng sẽ ảnh hưởng tới an ninh lương thực, đời sống người dân không chỉ trong vùng mà còn trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên, những người dân tại đồng bằng sông Cửu Long vốn đã có những tập tính sản xuất linh hoạt và thích ứng với điều kiện tự nhiên. Mô hình “Con tôm ôm cây lúa” (trồng lúa kết hợp nuôi tôm) là một trong những phương án thích ứng đã được người dân đồng bằng sông Cửu Long áp dụng trong nhiều năm qua, ban đầu chỉ là những mô hình nhỏ lẻ, đơn độc, nhưng hiện nay đã trở thành một trong những phương pháp sản xuất hiệu quả. Mô hình này hội đủ 3 yếu tố: kinh tế, xã hội và môi trường - vốn được xác định là 3 “trụ cột” quan trọng cho phát triển bền vững, vừa giúp nông dân tạo ra sản phẩm chất lượng an toàn, vừa giúp cho môi trường sản xuất được bảo toàn, tránh được những ô nhiễm do quá trình sử dụng vật tư nông nghiệp, thuốc trừ sâu. Tuy nhiên, để có thể phát triển bền vững cách thức sản xuất, cũng như phát triển sản phẩm luân canh tôm lúa này, cả người sản xuất lẫn doanh nghiệp tiêu thụ cần có một sự liên kết chặt chẽ để đảm bảo sản lượng cũng như chất lượng hạt lúa, con tôm.
Tây Bắc không chỉ là vùng đất có cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, tươi đẹp, mà còn đa dạng bản sắc văn hóa dân tộc. Những năm qua, nhiều tỉnh trong vùng Tây Bắc đã tận dụng tiềm năng, lợi thế của địa phương để thúc đẩy phát triển du lịch nông thôn, mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần tạo thu nhập, nâng cao đời sống cho người dân. Tại huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, địa phương có diện tích trồng mận hậu lớn nhất cả nước với hơn 3.200 ha, trong đó diện tích đang cho thu hoạch khoảng 2.400 ha. Vào mùa hoa mận nở và mùa mận chín, các chủ vườn mận mở cửa đón du khách vào tham quan với giá vé dao động từ 30.000 - 40.000 đồng/khách. Lên Mộc Châu, du khách được trải nghiệm nhiều mô hình nông nghiệp hấp dẫn như: Hái mận, hái dâu tây, tham quan đồi chè, trải nghiệm tại các trang trại bò sữa… Còn tại tỉnh Lai Châu cũng có một điểm sáng du lịch sinh thái - cộng đồng, mỗi năm thu hút hàng ngàn du khách trong nước và quốc tế đến tham quan, trải nghiệm tại bản Sin Suối Hồ, huyện Phong Thổ. Các mô hình nông nghiệp sinh thái, tuần hoàn (trồng trọt kết hợp chăn nuôi, đa canh) được khuyến khích, tích hợp du lịch cộng đồng, giúp bảo tồn văn hóa bản địa và tạo sản phẩm du lịch độc đáo, hấp dẫn du khách khám phá. Ngoài La Pán Tẩn, Mộc Châu, Sin Suối Hồ, vùng Tây Bắc còn có nhiều địa phương khai thác hiệu quả du lịch nông thôn như: Mai Châu, Hang Kia, Pà Cò, tỉnh Hòa Bình; Vịnh Pá Khôm, bản Vàng Pheo, đồi chè Tân Uyên, tỉnh Lai Châu; Nghĩa Lộ, Trạm Tấu, Yên Bình, tỉnh Yên Bái. Tận dụng tiềm năng, lợi thế nông nghiệp, các địa phương đã tập trung phát triển các vùng trồng cây chuyên canh; phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp theo hướng hữu cơ, sản phẩm sạch và an toàn cho người tiêu dùng… Xây dựng các mô hình du lịch nông nghiệp giúp người nông dân chuyển đổi từ nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp kết hợp du lịch trải nghiệm, mang lại hiệu quả cao cho cả hai ngành Nông nghiệp và Du lịch.
Đầu tư nguồn lực cho phát triển nông nghiệp đa chức năng
Nguồn lực là yếu tố cốt lõi để triển khai nông nghiệp đa chức năng. Để thực hiện nông nghiệp đa chức năng, nông dân và các nhà sản xuất cần có đủ các nguồn lực như nhân lực (lao động, tri thức), vật lực (tài nguyên thiên nhiên như đất đai, khí hậu; kết cấu hạ tầng như thủy lợi, giao thông), tài lực (vốn ngân sách, đầu tư tư nhân) và đặc biệt là khoa học - công nghệ (giống cây trồng/vật nuôi, máy móc, ứng dụng số hóa) để tạo ra nông nghiệp hiện đại, bền vững, cạnh tranh. Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng và sự kết hợp hài hòa giữa các yếu tố này.
Đức ưu tiên phát triển nông nghiệp hữu cơ và nông nghiệp đa chức năng, kết hợp các hoạt động như du lịch nông thôn, bảo tồn đa dạng sinh học. Nguồn lực tài chính được huy động từ ngân sách nhà nước, Liên minh châu Âu và khu vực tư nhân. Đức nhận khoảng 8 tỷ EUR mỗi năm để hỗ trợ các dự án như trang trại hữu cơ và nông trại trải nghiệm tại Bavaria [7]. Các ngân hàng như KfW cung cấp khoản vay lãi suất thấp, còn quỹ “German Climate Fund” tài trợ cho các mô hình kết hợp nông nghiệp với năng lượng tái tạo, ví dụ như điện mặt trời trên đất nông nghiệp. Nhờ vậy, quốc gia này dẫn đầu EU về nông nghiệp hữu cơ với hơn 10% diện tích đất được chứng nhận, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ du lịch nông thôn [8].
Nếu như Đức huy động nguồn lực từ ngân sách nhà nước, Liên minh châu Âu và khu vực tư nhân thì Ấn Độ lại đẩy mạnh phát triển nông nghiệp đa chức năng thông qua việc cải tạo cơ sở hạ tầng nông thôn như hệ thống thủy lợi, kho bảo quản và tận dụng sự hỗ trợ từ quốc tế thông qua chương trình “PM-Kisan”. Chương trình này hỗ trợ hơn 120 triệu nông dân với khoản trợ cấp 6.000 INR mỗi năm để đầu tư vào giống cây, phân bón và công nghệ hiện đại [9]. Bên cạnh đó, các tổ chức như IFAD và World bank đã tài trợ 1 tỷ USD cho hệ thống tưới nhỏ giọt tại Maharashtra [10]. Nhờ vậy, Ấn Độ có điều kiện để phát triển nông nghiệp đa chức năng, kết quả là sản xuất nông nghiệp tăng 15% trong 5 năm qua, với các sản phẩm như gia vị hữu cơ và du lịch nông thôn phát triển mạnh mẽ [8].
Đối với Việt Nam, trong bối cảnh các động lực tăng trưởng truyền thống dần suy giảm, nước ta đang chuyển đổi phát triển theo hướng dựa vào khoa học công nghệ, chuyển đổi số, phát triển kinh tế xanh, tuần hoàn và carbon thấp, tiến tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Về nguồn nhân lực, phát triển đồng bộ đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên gia, kỹ thuật viên và lao động sản xuất trực tiếp, đặc biệt chú trọng tri thức hóa nông dân để trở thành những nông dân chuyên nghiệp, chuyển từ tư duy sản xuất sang kinh tế nông nghiệp. Về nguồn vật lực, quản lý chặt chẽ, sử dụng hiệu quả đất, nước, rừng, khoáng sản theo nguyên tắc thị trường. Hoàn thiện pháp luật, cơ chế, chính sách để vốn hóa tài nguyên, phân bổ hợp lý và công khai minh bạch. Về nguồn tài lực, tập trung tăng đầu tư ngân sách, thực hiện chủ trương đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn 5 năm sau gấp đôi 5 năm trước theo Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Ưu tiên hạ tầng thủy lợi quy mô vùng, hạ tầng giao thông kết nối vùng sản xuất, phòng chống thiên tai, bảo tồn cảnh quan, phục hồi rừng ngập mặn và đầu nguồn, phát triển “hạ tầng xanh”. Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp bền vững, phát triển dịch vụ logistics, hạ tầng chế biến sâu, cụm công nghiệp - dịch vụ tại vùng chuyên canh. Huy động vốn tín dụng theo chuỗi giá trị, lấy ngân sách làm “vốn mồi” để thu hút tư nhân. Đầu tư sẽ tập trung cả vào bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, điều tra tài nguyên biển, phòng chống hạn hán, xâm nhập mặn, sạt lở, ngập úng tại đồng bằng sông Cửu Long, Trung du và miền núi phía Bắc. Bên cạnh các nguồn lực truyền thống, để đáp ứng được các mục tiêu đặt ra, Việt Nam cũng cần phải phát huy các nguồn lực mới, trong đó khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo được xem là động lực đột phá với các mô hình nông nghiệp công nghệ cao, cụm liên kết ngành, công viên nông nghiệp, vườn ươm sáng tạo…
Phát triển cơ sở hạ tầng đồng bộ
Cơ sở hạ tầng đóng vai trò nền tảng quan trọng cho nông nghiệp đa chức năng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bằng cách tạo điều kiện sản xuất hiệu quả, lưu thông hàng hóa dễ dàng, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng (qua giáo dục, y tế), nâng cao chất lượng sống và kết nối giao thương, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thu hút đầu tư và phát triển đô thị bền vững. Cơ sở hạ tầng trong nông nghiệp bao gồm: Hạ tầng kỹ thuật và công nghệ; Hạ tầng giao thông, thủy lợi; Hạ tầng chợ, cơ sở chế biến…
Tại Hà Lan, hệ thống giám sát cây trồng sử dụng cảm biến IoT đã giúp nông dân giảm 20-30% lượng nước và phân bón, đồng thời tăng năng suất cây trồng lên 15% [8]. Bên cạnh đó, Hà Lan đã triển khai mô hình hợp tác xã nông nghiệp kết hợp với các nền tảng số để quảng bá sản phẩm hoa tulip và các tour tham quan nông trại, tạo ra doanh thu 2,5 tỷ EUR từ du lịch nông nghiệp trong năm 2023 [11].
Israel cũng đã thành công trong việc sử dụng công nghệ tưới nhỏ giọt và giống cây tròng biến đổi gen để tăng năng suất trên diện tích đất hạn chế, đồng thời phát triển các tour du lịch nông nghiệp giới thiệu công nghệ tiên tiến, thu hút hàng triệu du khách mỗi năm [12].
Thái Lan là một ví dụ điển hình, với các nhà máy chế biến nông sản hiện đại đã giúp chuyển đổi trái cây địa phương thành các sản phẩm xuất khẩu như nước ép, đồ khô và mỹ phẩm, đồng thời hỗ trợ các tour du lịch nông nghiệp giới thiệu quy trình sản xuất [13]. Hiện Thái Lan đã xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm như gạo Hom Mali và xoài Nam Dok Mai, kết hợp với các chương trình du lịch nông nghiệp như tham quan vườn trái cây, giúp tăng thu nhập cho nông dân lên 25% trong giai đoạn 2020-2023 [13].
Như vậy, cở sở hạ tầng đồng bộ là nền tảng cho sự phát triển của nông nghiệp đa chức năng, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, mở rộng giá trị hàng hóa thông qua các chức năng phụ trợ như du lịch và bảo vệ môi trường. Kinh nghiệm từ các quốc gia như Israel, Hà Lan, Thái Lan… cho thấy, đầu tư đồng bộ cơ sở hạ tầng kết hợp đổi mới công nghệ và dịch vụ hỗ trợ có thể tạo ra nhiều đột phá trong phát triển nông nghiệp đa chức năng.
Tại Việt Nam, đầu tư cơ sở hạ tầng cho ngành nông nghiệp bao gồm các hạng mục, như: Đầu tư cho thủy lợi, đê điều, hệ thống điện, đường giao thông nội đồng, kho tàng, bến bãi... Việc đầu tư cơ sở hạ tầng nông nghiệp được xem là có tác động kép, không chỉ là động lực để chuyển dịch sản xuất nông nghiệp theo hướng thâm canh, tập trung, quy mô lớn, mà còn kéo theo sự thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp. Thực tế cho thấy, những địa phương nào mà cơ sở hạ tầng yếu kém thì khó thu hút các nhà đầu tư, ngược lại, những địa phương, khu vực nào có hệ thống cơ sở hạ tầng được đầu tư đồng bộ thì sẽ thu hút được nhiều tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân đầu tư, mở rộng phát triển sản xuất.
Năm 2026, các khó khăn và thách thức được dự báo tiếp tục gia tăng, nhất là khi tác động của biến đổi khí hậu ngày càng sâu rộng và phức tạp. Các hiện tượng thời tiết cực đoan như mưa lớn cục bộ, hạn hán kéo dài, xâm nhập mặn, sạt lở đất, bão mạnh có xu hướng tăng cả về tần suất và cường độ, tiềm ẩn nguy cơ gây thiệt hại lớn về người, tài sản và cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp. Tài nguyên đất, nước và rừng tiếp tục suy giảm; chất lượng môi trường có nơi vẫn ô nhiễm nghiêm trọng; đa dạng sinh học suy thoái nhanh; hệ sinh thái tự nhiên bị chia cắt và tổn thương, ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh lương thực, sinh kế của người dân và mục tiêu phát triển nông nghiệp bền vững… Từ bối cảnh đó và dựa trên những phân tích về kinh nghiệm thế giới cho thấy, nông nghiệp phải có sự chuyển đổi sâu sắc trong cách tiếp cận phát triển nông nghiệp, không chỉ giới hạn ở sản xuất đơn thuần mà còn bao gồm các đóng góp quan trọng về môi trường, văn hóa, xã hội. Đây là cơ sở quan trọng để Việt Nam phát huy hiệu quả nguồn lực đất đai, nước, rừng và đa dạng sinh học cho phát triển nông nghiệp bền vững và kinh tế - xã hội của đất nước.
Bùi Văn Hòa
Khoa Kinh tế và Quản lý, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường, số 1/2026)
Tài liệu tham khảo
1. OECD (2001). Multifunctionality: Towards an analytical framework. Retrieved from https://www.oecd.org/agriculture/multifunctionality-towards-an-analytical-framework-9789264192171-en.htm.
2. Van Huylenbroeck G., &Durand G. (2003). Multifunctional agriculture: A new paradigm for European agriculture and rural development. Ashgate Publishing.
3. FAO (2001). The state of food and agriculture: Multifunctional character of agriculture and land. Retrieved from http://www.fao.org/3/x9800e/x9800e.htm.
4. Quốc hội (2013). Luật Đất đai năm 2013: Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp. https://thuvienphapluat.vn/vanban/Bat-dongsan/Luat-Dat-dai-2013-215836.aspx, truy cập ngày 15/1/2026.
5. Kim C.G. & Choe S.C. (2011). Green growth and rural development in Korea. Korea Rural Economic Institute.
6. Takeuchi K., Ichikawa K. & Elmqvist T. (2016). Sustainability of Satoyama landscapes: Challenges and opportunities. Springer. https://doi.org/10.1007/978-981-10-0089-8.
7. European Commission (2023). Common agricultural policy (CAP) 2023-2027. Rural development funding. Retrieved from https://agriculture.ec.europa.eu/ common-agricultural-policy/ capoverview/cap-2023-27_en.
8. FAO (2023). The state of food and agriculture: Leveraging automation in agriculture. Retrieved from http://www.fao.org/publications/sofa/2023/en/.
9. Ministry of Agriculture, India. (2023). Annual report: PM-Kisan and rural infrastructure development. https://agricoop.nic.in/en/Annual-Report.
10. World Bank (2023). India: Agricultural development and irrigation projects. Retrieved from https://www.worldbank.org/en/country/india/brief/agriculture-in-india. on Mar 14, 2025.
11. European Commission. (2024). Rural development programmes: Netherlands agri-tourism. Retrieved from https://agriculture.ec.europa.eu/commonagricultural-policy/rural-development_en.
12. World Bank (2024). Israel: Agricultural innovation and tourism development. Retrieved from https://www.worldbank.org/en/topic/agriculture.
13. ASEAN (2023). ASEAN agricultural development report: Thailand’s agri-tourism and processing. Retrieved from https://asean.org/ourcommunities/economic-community/agricultureand-forestry/.
14. Đỗ Kim Chung (2007). Phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn. Nhà xuất bản Nông nghiệp.
15. Bộ NN&MT: Báo cáo Đánh giá kết quả công tác năm 2025, giai đoạn 2021-2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026 của ngành Nông nghiệp và Môi trường, ngày 30/12/2025.