27/02/2026
Ngày 27/2/2026, tại Hà Nội, Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường (ISPAE) tổ chức họp đánh giá kết quả sơ bộ Dự án “Con đường cho nông dân tương lai ở Đông Nam Á”. Viện trưởng Trần Công Thắng chỉ trì cuộc họp. Tham dự cuộc họp có đại diện một số đơn vị thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Cục Thống kê, Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế Úc (ACIAR) tại Việt Nam, Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO) tại Việt Nam cùng đông đảo chuyên gia, nhà khoa học.

Viện trưởng Trần Công Thắng phát biểu khai mạc cuộc họp
Phát biểu khai mạc cuộc họp, Viện trưởng Trần Công Thắng cho biết, tại Việt Nam, nông hộ nhỏ vẫn giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với an ninh lương thực quốc gia, duy trì sinh kế cho hàng triệu hộ gia đình và góp phần vận hành các chuỗi giá trị nông sản. Tuy nhiên, nông nghiệp Việt Nam đang chuyển mình mạnh mẽ theo hướng hiện đại hóa, thương mại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng. Trong tiến trình đó, các nông hộ nhỏ đang đứng trước nhiều thách thức mang tính hệ thống: rủi ro khí hậu gia tăng, tình trạng manh mún đất đai, suy thoái tài nguyên và môi trường, hạn chế trong tiếp cận tín dụng, công nghệ và dịch vụ hỗ trợ, cũng như mức độ tham gia chưa đồng đều vào các chuỗi giá trị. Có thể thấy, hệ thống sản xuất của nông hộ nhỏ tại Việt Nam đang ở một điểm chuyển đổi mang tính bước ngoặt. Nếu thiếu các chính sách chiến lược, có tính phối hợp và dài hạn, nhiều nông hộ nhỏ có nguy cơ rơi vào tình trạng trì trệ hoặc bị gạt ra bên lề quá trình phát triển. Ngược lại, với các đầu tư có mục tiêu, cải cách thể chế phù hợp và tăng cường năng lực nội sinh, nông hộ nhỏ hoàn toàn có thể chuyển đổi sang các hệ thống sinh kế có năng suất cao hơn, khả năng chống chịu tốt hơn và bền vững hơn.
Trong bối cảnh đó, ISPAE phối hợp với Trường Đại học Canberra, với sự tài trợ của ACIAR thực hiện Dự án “Con đường cho nông dân tương lai ở Đông Nam Á” (từ tháng 9/2024 - 9/2026). Mục tiêu của Dự án nhằm nghiên cứu thực trạng nông hộ nhỏ, đồng thời xây dựng các kịch bản phát triển và lộ trình chính sách nhằm hỗ trợ nông dân trong tương lai. Cụ thể là đánh giá chung các đặc điểm sinh kế, kỹ năng và hành vi của nông hộ nhỏ hoặc những thay đổi rộng hơn; Các kịch bản quốc gia về nông hộ nhỏ bền vững toàn diện và các con đường, lựa chọn chính sách cho Nông hộ nhỏ tại Việt Nam. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, Viện trưởng Trần Công Thắng kỳ vọng nhận được ý kiến đóng góp của các chuyên gia để làm cơ sở cho nhóm nghiên cứu tiếp tục hoàn thiện, cũng như các kịch bản dự báo và đề xuất các khuyến nghị chính sách có tính thực tiễn và chiến lược cho nông dân Việt Nam trong tương lai.
Tại cuộc họp, đại diện nhóm nghiên cứu Việt Nam cho biết, Dự án được thiết kế trên nền tảng tiếp cận sinh kế, đặt trong tầm nhìn dài hạn đến năm 2050. Thay vì chỉ tập trung vào các giải pháp ứng phó ngắn hạn, dự án hướng tới xây dựng các kịch bản tương lai và đề xuất lộ trình chính sách mang tính dự báo, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, đa dạng hóa sinh kế và phù hợp với mục tiêu phát triển nông thôn, các cam kết khí hậu cũng như các mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam. Bắc Ninh, Hưng Yên, Vĩnh Long và Gia Lai được lựa chọn nhằm phản ánh sự khác biệt về vùng sinh tháim nông nghiệp, thách thức kinh tế - xã hội và các hình thức thích ứng sinh kế. Việc lựa chọn này cho phép ghi nhận các mô hình canh tác có khả năng thích ứng trong những điều kiện môi trường và thị trường đặc thù. Trong đó, Hưng Yên và Bắc Ninh, thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, minh họa sự phát triển nông nghiệp ven đô và các chuỗi giá trị đổi mới hỗ trợ hệ thống thị trường dựa trên chất lượng và tính gần thị trường. Bắc Ninh thể hiện khả năng thích ứng trước quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng thông qua hợp tác của nông dân và cơ giới hóa. Vĩnh Long ở đồng bằng sông Cửu Long hiện có các chiến lược ổn định thu nhập thông qua chuỗi giá trị trái cây và các thực hành thích ứng với điều kiện môi trường. Nông dân tại đây nâng cao năng suất đồng thời ứng phó hiệu quả với rủi ro khí hậu và thị trường. Gia Lai đại diện cho những thách thức của nông nghiệp vùng miền núi, tập trung vào sự đa dạng dân tộc.
Kết quả nghiên cứu sơ bộ cho thấy, nông hộ nhỏ rất đa dạng về quy mô, nguồn lực và mức độ hội nhập thị trường; Quy mô đất nhỏ, manh mún; phụ thuộc lớn vào lao động gia đình và thu nhập nông nghiệp; Già hóa dân số, hạn chế tiếp cận tín dụng - công nghệ - liên kết doanh nghiệp; Sẵn sàng tái cơ cấu và chuyển đổi, đặc biệt ở nhóm trẻ, nhưng cần hệ sinh thái hỗ trợ phù hợp; Cơ hội lớn trong nông nghiệp giá trị cao, chuyển đổi số, công nghệ thích ứng khí hậu và hợp tác xã. Nghiên cứu cũng đề xuất, cần tích hợp phân tích sinh kế - xây dựng kịch bản - lộ trình chính sách trong một khung phân tích; Liên kết tính đa dạng của nông hộ nhỏ với các kịch bản phát triển dài hạn đến 2050; Kết hợp phương pháp sinh kế với kịch bản tham gia, tạo nền tảng chính sách thích ứng trong bối cảnh bất định; Cung cấp công cụ hoạch định chiến lược giúp thiết kế chính sách bao trùm, linh hoạt và dựa trên bằng chứng cho nông hộ nhỏ Việt Nam.

Các đại biểu tham dự cuộc họp chụp ảnh lưu niệm
Góp ý cho nghiên cứu, một số đại biểu cho rằng, cần xây dựng các chính sách chủ động thu hút sự tham gia của phụ nữ, thanh niên và các nhóm dân tộc thiểu số, tạo điều kiện cho họ tham gia bình đẳng vào quá trình ra quyết định và tiếp cận các quyền lợi; Xây dựng các chính sách nông nghiệp đặc thù cho từng vùng, giải quyết các vấn đề dễ bị tổn thương riêng biệt như nhiễm mặn, hạn hán và lũ lụt ở các khu vực như đồng bằng sông Cửu Long. Đồng thời, đẩy mạnh sự phối hợp giữa chính quyền địa phương và các cơ quan quốc gia để phân bổ nguồn lực hợp lý và cung cấp dịch vụ có mục tiêu cho các vùng sâu vùng xa, vùng kém phát triển…
Mai Hương