30/03/2026
1. Đặt vấn đề
Trong giai đoạn 2000-2025, Việt Nam đã đạt được sự phát triển kinh tế rất ấn tượng, chủ yếu nhờ vào sự tăng trưởng rộng khắp trong các ngành chế biến và sản xuất [1]. Tuy nhiên, sự phát triển công nghiệp tại Việt Nam cũng mang lại những thay đổi bất lợi về chỉ số môi trường và thâm hụt sử dụng tài nguyên thiên nhiên [2]. Mặc dù luật pháp môi trường cơ bản đã được ban hành, nhưng các công cụ và thực tiễn vẫn chưa được cung cấp đầy đủ để giảm thiểu tác động của sản xuất công nghiệp đến môi trường. Bên cạnh đó Việt Nam ngày càng hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu nên hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam phải đối mặt với những yêu cầu ngày càng khắt khe từ thị trường đối với hàng tiêu dùng, không chỉ có chất lượng tốt, giá cả cạnh tranh mà còn được sản xuất theo cách thân thiện với xã hội và môi trường.
Trong bối cảnh đó, Việt Nam đang đẩy mạnh thực hiện Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2050 [3], Chiến lược quốc gia về Kinh tế tuần hoàn (KTTH) đến năm 2030 [4], Chương trình hành động quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững giai đoạn 2021-2030 [5]. Trong đó, mô hình khu công nghiệp sinh thái (KCNST) được xác định là một hướng đi trọng tâm trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng, gắn phát triển kinh tế với sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường. KCNST không chỉ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp, mà còn góp phần quan trọng giúp hiện thực hóa các mục tiêu quốc gia về giảm phát thải khí nhà kính, sử dụng tuần hoàn tài nguyên và phát triển bền vững.
Với xu thế đó, việc triển khai Hiệu quả tài nguyên - Sản xuất sạch hơn (Resource Efficiency and Cleaner Production – RECP) đóng vai trò như bước đi nền tảng cho quá trình chuyển đổi của từng doanh nghiệp (DN). Thông qua các giải pháp tiết kiệm năng lượng, nước, nguyên vật liệu và giảm phát thải, RECP không chỉ giúp DN cải thiện hiệu quả vận hành và năng lực cạnh tranh, mà còn tạo ra tiền đề kỹ thuật và dữ liệu đầu vào để hình thành các mối cộng sinh công nghiệp (IS) giữa các cơ sở sản xuất. Theo Điều 37 Nghị định số 35/2022/NĐ-CP về quản lý khu công nghiệp (KCN) và khu kinh tế, việc áp dụng RECP được quy định là điều kiện bắt buộc đối với DN trong KCNST, đồng thời IS cũng là điều kiện bắt buộc để KCN được công nhận là KCNST [6].
2. Vai trò của việc áp dụng Hiệu quả tài nguyên - Sản xuất sạch hơn trong doanh nghiệp
RECP là sự áp dụng liên tục một chiến lược quản lý môi trường mang tính phòng ngừa tổng hợp vào quá trình sản xuất, sản phẩm và dịch vụ nhằm nâng cao hiệu quả tổng thể, giảm thiểu rủi ro cho con người và môi trường. Đây là tiếp cận hay cách tư duy mới, sáng tạo về sản phẩm và quá trình sản xuất trong quản lý môi trường. RECP có thể đạt được bằng nhiều cách trong đó có ba cách quan trọng nhất là: Thay đổi cách ứng xử với tài nguyên và môi trường, áp dụng các bí quyết công nghệ (know-how), cải tiến công nghệ hiện có, đổi mới công nghệ theo hướng tốt hơn và sạch hơn. Các kỹ thuật RECP có thể được chia thành 3 nhóm chính: ngăn ngừa tại nguồn, tuần hoàn, tạo ra sản phẩm phụ hữu ích và cải tiến sản phẩm (Hình 1) [7].

Hình 1. Các kỹ thuật RECP
Việc áp dụng RECP trong DN đóng vai trò then chốt trong tiến trình hướng tới KCNST. RECP không chỉ là một công cụ kỹ thuật mà còn là phương pháp tiếp cận quản lý tổng thể giúp DN nhận diện, kiểm soát và tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên - năng lượng, đồng thời giảm thiểu phát thải tại nguồn. Ở khía cạnh kinh tế, RECP giúp DN giảm chi phí sản xuất thông qua tiết kiệm năng lượng, nước, nguyên liệu, hóa chất và vật tư phụ trợ, từ đó nâng cao năng suất và lợi nhuận. Ở khía cạnh kỹ thuật, RECP hỗ trợ cải tiến quy trình công nghệ, kéo dài vòng đời thiết bị, giảm hao hụt vật liệu, đồng thời khuyến khích áp dụng các giải pháp đổi mới sáng tạo như tuần hoàn nước, thu hồi nhiệt thải, tái sử dụng phụ phẩm. Ở khía cạnh môi trường, RECP góp phần trực tiếp vào việc giảm ô nhiễm không khí, nước, đất, giảm phát thải khí nhà kính và tăng cường khả năng tuân thủ các quy định pháp luật, tiêu chuẩn Môi trường, Xã hội và Quản trị (ESG), cũng như yêu cầu của chuỗi cung ứng toàn cầu.
Hơn thế nữa, áp dụng RECP còn là bước đi cơ bản đầu tiên và quan trọng nhất trong hành trình chuyển đổi của DN trong KCN. Thông qua việc áp dụng RECP, DN được đào tạo nâng cao năng lực, hình thành đội ngũ kỹ thuật nội bộ có khả năng phân tích dòng nguyên vật liệu, năng lượng, nước và chất thải; từ đó xây dựng năng lực tự chủ trong quản lý tài nguyên và môi trường. Quá trình đánh giá RECP giúp xây dựng bộ cơ sở dữ liệu ban đầu về hiệu quả sử dụng tài nguyên và phát thải của từng DN - một yêu cầu tiên quyết cho bất kỳ mô hình IS nào. Bằng các công cụ đơn giản như cân bằng vật chất, cân bằng năng lượng, DN có thể nhận diện các điểm lãng phí, tổn thất, rò rỉ và đề xuất các cơ hội cải tiến từ đơn giản (thay đổi thao tác, vận hành) đến phức tạp (đầu tư công nghệ, tái thiết kế quy trình). Việc thực hiện các cơ hội RECP giúp DN không chỉ giảm chi phí mà còn nâng cao tính sẵn sàng để tham gia vào các hoạt động hợp tác và chia sẻ tài nguyên trong KCN.
3. Mối liên hệ giữa Hiệu quả tài nguyên - Sản xuất sạch hơn và cộng sinh công nghiệp
Thông qua RECP, mỗi DN hiểu rõ “chân dung tài nguyên” của chính mình – biết được hiện trạng tiêu thụ, phát thải, thừa và thiếu ở đâu. Chính hệ thống dữ liệu này giúp DN và các bên liên quan xác định các dòng thải có giá trị có thể trở thành đầu vào cho DN khác, từ đó hình thành các liên kết cộng sinh giữa các cơ sở sản xuất. Đồng thời, quá trình áp dụng RECP còn giúp xây dựng văn hóa sản xuất bền vững, tạo thói quen đo lường, cải tiến liên tục, và củng cố ý thức về lợi ích chung – yếu tố xã hội quan trọng để các DN sẵn sàng chia sẻ thông tin và hợp tác trong mạng lưới cộng sinh.
IS là mô hình hợp tác giữa các DN trong cùng một KCN hoặc DN với KCN, trong đó chất thải, phụ phẩm, năng lượng dư thừa hoặc nguồn nước thải của DN này trở thành đầu vào hữu ích cho DN khác. Mô hình này giúp tối ưu hóa dòng vật chất và năng lượng trong toàn khu, qua đó giảm chi phí nguyên liệu, năng lượng, xử lý chất thải và tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên. Về hiệu quả kinh tế, IS giúp DN tiết kiệm chi phí vận hành, giảm phụ thuộc vào nguyên liệu đầu vào và tạo thêm nguồn doanh thu từ phụ phẩm. Về hiệu quả môi trường, mô hình này góp phần giảm phát thải khí nhà kính, giảm lượng chất thải chôn lấp và giảm khai thác tài nguyên thiên nhiên.
Mối quan hệ giữa RECP và IS mang tính kế thừa và bổ trợ chặt chẽ, trong đó RECP là nền tảng kỹ thuật, dữ liệu để hình thành và triển khai các cơ hội cộng sinh giữa các DN. Khi DN áp dụng RECP, quá trình đánh giá hiện trạng sử dụng năng lượng, nước, nguyên vật liệu và phát sinh chất thải sẽ giúp xác định rõ các dòng vào - dòng ra của từng công đoạn sản xuất. Việc này không chỉ giúp DN nhận diện những điểm lãng phí nội bộ và các cơ hội cải thiện hiệu suất mà còn tạo lập một cơ sở dữ liệu chi tiết về mức tiêu thụ tài nguyên và phát thải. Khi tổng hợp dữ liệu RECP của nhiều DN trong cùng một KCN, bức tranh tổng thể về dòng vật chất, năng lượng và chất thải của toàn khu được hình thành – chỉ ra nơi nào có nguồn phụ phẩm, nước thải, nhiệt thừa hoặc năng lượng dư, và nơi nào có nhu cầu tương ứng để tái sử dụng. Chính từ những thông tin này, các cơ hội IS được phát hiện và kết nối, chẳng hạn như việc DN A tận dụng hơi nóng, nước thải hoặc bùn thải hữu cơ của DN B làm đầu vào cho quá trình sản xuất của mình. Như vậy, RECP không chỉ giúp tối ưu hóa hoạt động của từng DN riêng lẻ mà còn tạo nền dữ liệu, tư duy và niềm tin hợp tác, là điều kiện tiên quyết để triển khai hiệu quả các mô hình IS trong KCNST.

Hình 2. Mối liên hệ giữa RECP và IS
Xét về cách tiếp cận, RECP tập trung ở cấp DN đơn lẻ, hướng đến cải tiến quy trình và công nghệ để tiết kiệm tài nguyên, giảm ô nhiễm và nâng cao hiệu quả sản xuất. Trong khi đó, IS vận hành ở cấp cộng đồng DN hoặc KCN, nhấn mạnh sự hợp tác trao đổi năng lượng, nước, nguyên – nhiên liệu và phụ phẩm giữa các nhà máy. RECP thường là bước khởi đầu cần thiết, giúp từng DN tối ưu nội tại trước khi tham gia vào mạng lưới cộng sinh. Ngược lại, IS mở rộng phạm vi của RECP bằng cách kết nối nhiều đơn vị, tạo hiệu ứng lan tỏa và tăng lợi ích tổng thể cho toàn KCN hoặc vùng kinh tế [8]. Về lợi ích, cả hai đều góp phần tiết kiệm chi phí, giảm phát thải, gia tăng lợi nhuận và nâng cao sức cạnh tranh, nhưng IS còn có thêm giá trị cộng đồng và tính bền vững ở quy mô hệ thống.
Bảng 1. So sánh RECP và IS
|
Tiêu chí |
Hiệu quả tài nguyên – Sản xuất sạch hơn (RECP) |
Công nghiệp cộng sinh (IS) |
|
Cấp độ áp dụng |
DN đơn lẻ |
Nhiều DN trong KCN/vùng |
|
Trọng tâm |
Tiết kiệm năng lượng, nước, nguyên liệu, hóa chất; giảm phát thải trong nội bộ DN |
Trao đổi, tái sử dụng phụ phẩm, chất thải, năng lượng giữa các DN |
|
Vai trò |
Tối ưu hóa nội bộ DN, là nền tảng ban đầu |
Mở rộng quy mô tối ưu ra toàn hệ thống DN |
|
Lợi ích chính |
Giảm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, giảm ô nhiễm |
Tạo giá trị kinh tế từ chất thải, hình thành chuỗi giá trị tuần hoàn, gia tăng tính cạnh tranh khu vực |
Ở Việt Nam, mô hình KCNST đã được cụ thể hóa trong Nghị định số 35/2022/NĐ-CP và Thông tư số 05/2025/TT-BKHĐT, với sự hỗ trợ kỹ thuật từ UNIDO và Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính) trong khuôn khổ dự án “Nhân rộng KCNST nhằm thúc đẩy KTTH và tăng trưởng xanh tại Việt Nam” (GEIPP). Thực tiễn triển khai tại 4 KCN thí điểm Trà Nóc (Cần Thơ), Hòa Khánh (Đà Nẵng), Khánh Phú và Gián Khẩu (Ninh Bình) cho thấy 72 DN đã triển khai các giải pháp RECP và đạt được các kết quả: Tiết kiệm hơn 22.000 MWh điện, 600.000 m³ nước, gần 3.600 tấn hóa chất và chất thải, giá trị tiết kiệm đạt trên 76 tỷ đồng/năm, và giảm khoảng 32.000 tấn CO2/năm. Ngoài ra, trong khuôn khổ mở rộng, Dự án cũng đã đề xuất 62 cơ hội IS cho các KCN (bao gồm Trà Nóc, Hòa Khánh) với khoảng 18 trường hợp có tính khả thi cao, nhằm tối ưu hóa tái sử dụng chất thải trong KCN và thúc đẩy mô hình KTTH.
4. Một số ví dụ thực tiễn
Hiệu quả tài nguyên - Sản xuất sạch hơn
Trong giai đoạn 2021-2024, Trung tâm Sản xuất sạch hơn đã triển khai đánh giá Hiệu quả tài nguyên – Sản xuất sạch hơn cho một KCN có nhiều các DN sản xuất công nghiệp, trên cơ sở đó tìm kiếm phát hiện và đề xuất các giải pháp IS nhằm hướng tới chuyển đổi thành KCNST.
Kết quả sơ bộ từ việc triển khai các giải pháp RECP tại 23 nhà máy cho thấy mức cải thiện đáng kể về hiệu quả sử dụng tài nguyên và giảm phát thải. Cụ thể, các giải pháp đã giúp cắt giảm khoảng 14.714.925 kWh điện mỗi năm, 1.767.789 m³ nước/năm, 16.390,64 tấn than/năm, 624,18 tấn củi/năm và 20.426 Sm³ khí CNG/năm, đồng thời giảm khoảng 50.380 tấn CO₂ mỗi năm. Tổng giá trị làm lợi kinh tế đạt khoảng 1.180.014 USD/năm, trong khi chi phí đầu tư ban đầu cho các giải pháp chỉ ở mức 293.591 USD, cho thấy hiệu quả kinh tế – môi trường rõ rệt của việc áp dụng RECP trong DN công nghiệp.

Hình 3. Tổng kết kết quả đánh giá RECP tại DN
Công nghiệp cộng sinh
Sau khi thực hiện đánh giá RECP, các giải pháp IS cũng đã được nghiên cứu và đề xuất thực hiện. Các giải pháp điển hình theo cấp độ cộng sinh như sau:
Tuần hoàn nước trong DN dệt nhuộm
Nước thải của DN dệt nhuộm có lưu lượng 50 m3/giờ sau khi xử lý đạt chuẩn có thể thải ra môi trường. Tuy nhiên DN đã nghiên cứu lắp đặt hệ thống xử lý nhằm tuần hoàn lượng nước thải này bổ sung quay trở lại sản xuất. Dây chuyền tái chế gồm: bồn lọc 2 lớp ® lọc UF ® lọc RO ® quay về trộn với nước cấp cho sản xuất. Tổng tiêu thụ nước của DN năm 2024: 222.820 m3 trong đó nước tái chế: 59.715 m3 chiếm 26,7%.
Cộng sinh giữa DN với DN
Tại KCN X, một DN sản xuất hóa chất công nghiệp có hệ thống lò hơi đốt than và sinh ra lượng lớn tro bay và xỉ than sau quá trình đốt. Nếu xử lý như chất thải thông thường thì chi phí vận chuyển và xử lý rất cao, đồng thời gây áp lực môi trường. Tuy nhiên, trong cùng KCN lại có một DN chuyên sản xuất vật liệu xây dựng (gạch không nung, xi măng, bê tông đúc sẵn), có nhu cầu sử dụng tro bay và xỉ than làm phụ gia khoáng trong phối trộn nguyên liệu.
Thông qua cơ chế IS, tro bay/xỉ than từ DN A được thu gom và cung cấp cho DN B để thay thế một phần nguyên liệu đất sét, xi măng clinker.
Cộng sinh giữa DN với DN đạt được những lợi ích: DN A giảm chi phí xử lý chất thải rắn, đồng thời giảm diện tích bãi chứa xỉ, hạn chế bụi và ô nhiễm đất; DN B giảm chi phí mua nguyên liệu, cải thiện chất lượng sản phẩm (tăng độ bền của xi măng khi sử dụng tro bay); toàn KCN giảm lượng phát thải CO₂ từ việc khai thác nguyên liệu mới, đồng thời đóng góp vào mục tiêu KTTH và KCNST.
Cộng sinh giữa DN với KCN
Tại KCN Y, Công ty hạ tầng vận hành một nhà máy xử lý nước thải tập trung cho toàn khu. Thông thường, nước sau xử lý đạt QCVN sẽ xả thẳng ra môi trường, gây lãng phí nguồn tài nguyên nước. Tuy nhiên, thông qua cơ chế IS, nước sau xử lý của nhà máy được DN phối hợp với Ban quản lý KCN và một số nhà máy trong khu để tái sử dụng cho các mục đích như: Cung cấp nước sản xuất cho các DN với những nhu cầu không đòi hỏi chất lượng cao, như vệ sinh, rửa vật liệu; cung cấp nước làm mát cho các xưởng sản xuất cơ khí, hóa chất, nhà máy lên men; tưới cây xanh và rửa đường trong toàn khu; bổ sung cho các bể chứa nước phòng cháy, chữa cháy của KCN.
Cộng sinh giữa DN với KCN đạt được những lợi ích: DN vận hành nhà máy xử lý nước thải giảm chi phí xả thải, tăng nguồn thu từ việc bán nước tái sử dụng; các DN trong KCN giảm lượng nước cấp từ hệ thống nước sạch, tiết kiệm chi phí vận hành; toàn KCN giảm khai thác nước ngầm, góp phần bảo vệ tài nguyên nước và hướng đến mô hình KTTH.
Đây là một dạng IS ở cấp độ hạ tầng: một DN chủ chốt thuộc KCN liên kết với toàn bộ KCN để khai thác tối ưu tài nguyên, vừa mang lại lợi ích kinh tế, vừa giảm áp lực môi trường.
5. Kết luận - Kiến nghị
RECP là bước đi không thể thiếu và cần được ưu tiên hàng đầu trong lộ trình chuyển đổi các KCN hiện hữu thành KCNST. RECP giúp DN tối ưu hóa việc sử dụng năng lượng, nước, nguyên vật liệu, giảm phát thải và chi phí sản xuất, đồng thời tạo ra nền dữ liệu và năng lực kỹ thuật cốt lõi để tiến tới IS và hình thành mô hình KTTH ở cấp độ KCN và vùng kinh tế.
Để thúc đẩy quá trình này, cần có chính sách hỗ trợ đồng bộ và dài hạn, bao gồm: (i) cơ chế tài chính ưu đãi và tín dụng xanh cho các dự án đầu tư cải tiến công nghệ RECP, tái sử dụng năng lượng, nước và vật liệu; (ii) chính sách khuyến khích và miễn giảm thuế, phí môi trường cho các DN áp dụng RECP và tham gia mạng lưới IS; (iii) thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu số về dòng vật chất và năng lượng cấp KCN, hỗ trợ Ban quản lý và DN tìm kiếm cơ hội kết nối cộng sinh; (iv) xây dựng chương trình đào tạo, tư vấn kỹ thuật và chuyển giao công nghệ RECP – IS ở quy mô quốc gia.
Việc kết hợp hài hòa giữa chính sách hỗ trợ, công cụ tài chính xanh, chuyển giao công nghệ và phát triển năng lực sẽ giúp các DN Việt Nam từng bước hiện thực hóa mô hình KCN sinh thái, đóng góp tích cực vào Chiến lược Tăng trưởng xanh và KTTH quốc gia, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Lê Xuân Thịnh, Đinh Mạnh Thắng, Vũ Năng Nam, Đỗ Thị Dịu
Trung tâm Sản xuất sạch hơn Việt Nam - VNCPC
(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường, số 2/2026)
Tài liệu tham khảo
1. Những thời cơ, thách thức với phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Báo Nhân dân T11/2024. https://special.nhandan.vn/nhung-thoi-co-thach-thuc-voi-phat-trien-kinh-te-xa-hoi/index.html
2. Nguyễn Thị Miền, cs. Đảm bảo an ninh môi trường để phát triển bền vững kinh tế Việt Nam. Tạp chí cộng sản T10/2023. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/828838/bao-dam-an-ninh-moi-truong-de-phat-trien-ben-vung-kinh-te-viet-nam.aspx#
3. Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 1/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng Xanh giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn đến 2050
4. Quyết định số 687/QĐ-TTg ngày 7/6/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về KTTH đến năm 2030.
5. Quyết định số 889/QĐ-TTg ngày 24/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững giai đoạn 2021-2030.
6. Nghị định Số: 35/2022/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ ngày 28/5/2022 về Quy định về quản lý KCN và KKT.
7. Trung tâm Sản xuất sạch hơn Việt Nam. Tài liệu Hướng dẫn áp dụng Hiệu quả tài nguyên sản xuất sạch hơn. www.vncpc.org
8. Trần Văn Nhân, Lê Xuân Thịnh và cs. Hiệu quả tài nguyên và Sản xuất sạch hơn với phát triển công nghiệp bền vững. Nhà xuất bản KHKT, 2024. ISBN 978-604-67-3132-0.