29/03/2026
Khu công nghiệp (KCN) Hiệp Phước được thành lập vào năm 1996, tại huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã Hiệp Phước, TP. HCM) với quy mô được quy hoạch hơn 2.300 ha gồm phát triển KCN theo 3 giai đoạn cùng cụm cảng biển, cảng sông dọc sông Soài Rạp, dự án kết nối các trục giao thông liên kết vùng (hàng không, đường bộ, đường sắt trên cao, đường sông, đường biển) ngay trong nội khu hoặc chỉ cách tối đa 2 cây số. Đây là KCN được quy hoạch bài bản, đầy đủ tiện ích hướng đến là một trong những động lực tăng trưởng, thúc đẩy chuyển đổi kinh tế - xã hội (KT-XH) tại khu vực phía Nam TP. HCM, hướng đến mục tiêu trở thành trung tâm công nghiệp - dịch vụ - cảng biển chiến lược.
1. Quá trình hình thành và phát triển KCN Hiệp Phước
Với đặc điểm KCN nằm ở hạ lưu sông Nhà Bè và giáp với cửa biển Soài Rạp, KCN Hiệp Phước có nền đất yếu, từ đó dẫn đến chi phí đầu tư hạ tầng cao do san lấp và các cầu lớn bắc qua kênh, rạch. KCN còn 40,42 ha chưa bồi thường giải phóng mặt bằng nên chưa hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Do nằm gần cửa biển nên KCN chịu tác động nhiều từ thủy triều và nguy cơ nước biển dâng. Là KCN duy nhất có cảng biển tại TP. HCM, Hiệp Phước có khả năng đón tàu 30.000 DWT hoạt động.
Định hướng phát triển thành phố về hướng Nam, tiến ra biển Đông, UBND TP. HCM ban hành Quyết định số 4948/QĐ-UBND ngày 2/11/2009 phê duyệt Nhiệm vụ Quy hoạch chung xây dựng Khu đô thị Cảng Hiệp Phước. Theo đó, Khu đô thị Cảng Hiệp Phước được chia thành hai khu: Khu đô thị Hiệp Phước (1.354 ha), KCN - Cảng Hiệp Phước (1.740,66 ha), gồm: KCN Hiệp Phước giai đoạn 1 (311,4 ha), giai đoạn 2 (596,93 ha), giai đoạn 3 (500 ha); Dự án cảng Sài Gòn Hiệp Phước (54,66 ha); Khu cảng hạ lưu Hiệp Phước (384,71 ha).
Suốt 30 năm qua, với sự phát triển KT-XH của cả đất nước nói chung và TP. HCM nói riêng, các thế hệ đội ngũ lãnh đạo, nhân viên, người lao động tại KCN Hiệp Phước đã nỗ lực lao động, sản xuất, kinh doanh sáng tạo phát triển doanh nghiệp, mang lại nguồn thu cho doanh nghiệp (DN) và lợi ích cho xã hội, cộng đồng. Hoạt động phát triển và lớn mạnh của KCN Hiệp Phước đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của khu vực Nhà Bè theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Trong bối cảnh đó, định hướng phát triển của KCN Hiệp Phước luôn chú trọng, hướng tới sự phát triển bền vững, tạo nên môi trường làm việc thân thiện với người lao động. Định hướng này phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới và Việt Nam, hướng tới mô hình kinh tế tuần hoàn và kinh tế xanh.
Kế hoạch thí điểm chuyển đổi một số KCN sang các mô hình tiên tiến nhằm đúc kết kinh nghiệm và nhân rộng mô hình các KCN tập trung hiệu quả trên địa bàn Thành phố cũng dần được định hình bởi các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch TP Hồ Chí Minh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến 2045 cũng như Quyết định điều chỉnh bổ sung đồ án quy hoạch Thành phố đến năm 2040, tầm nhìn đến 2060. Bên cạnh những cơ hội mới cho phát triển KT-XH, cũng là thách thức, không gian TP. HCM trong quá trình triển khai thực hiện kế hoạch đã rộng lớn hơn so với thời điểm ban hành, với diện tích tăng hơn 3 lần so với trước, định hướng phát triển công nghiệp và phân khu, thu hút ngành nghề đầu tư cũng sẽ có nhiều thay đổi phù hợp với tình hình mới.
Như vậy, riêng về công nghiệp, Thành phố đã quy hoạch xây dựng và phát triển KCN Hiệp Phước với tổng diện tích cả 3 giai đoạn KCN là 1.300 ha; gắn liền với KCN là xây dựng cảng biển tập trung lớn nhất của Thành phố; coi đây là khâu đột phá trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển KT-XH tại khu vực phía Nam Thành phố và những khu vực khác; đồng thời, gắn Khu đô thị hiện đại với đầy đủ hạ tầng xã hội và các dịch vụ phục vụ KCN và công nghiệp cảng.
Chặng đường 30 năm hình thành và phát triển của KCN Hiệp Phước là kết quả của quá trình nâng cao hiệu quả sử dụng vùng đất hoang hóa, kém phát triển, từng bước chuyển hóa nơi đây thành khu vực động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển toàn diện KT-XH. Sự phát triển này thể hiện rõ qua cơ cấu ngành nghề, hệ thống giao thông quy hoạch đồng bộ, cũng như sự tiến bộ trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, thương mại và dịch vụ - công nghiệp. Trong giai đoạn tiếp theo, yêu cầu đặt ra cho KCN Hiệp Phước là cần tối ưu hóa và nâng cao hiệu quả các nguồn lực hiện có nhằm phục vụ sự phát triển bền vững của TP. HCM và cả nước trong 30 -50 năm tới, phù hợp với kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Từ năm 2015, KCN Hiệp Phước được đưa vào các chương trình nghiên cứu môi trường để tái sử dụng tài nguyên, giảm phát thải theo chương trình nghiên cứu học thuật của trường Đại học Văn Lang phối hợp cùng Đại học Wageningen (Hà Lan).
2. Hướng tới khu công nghiệp sinh thái xanh và bền vững
Năm 2020, trong khuôn khổ “Triển khai KCN sinh thái tại Việt Nam theo hướng tiếp cận từ Chương trình KCN sinh thái toàn cầu” do Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI) và Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) đồng thực hiện với sự tài trợ của Chính phủ Thụy Sỹ, KCN Hiệp Phước được chọn là đơn vị duy nhất của TP. HCM tham gia Dự án và tiếp tục đồng hành trong giai đoạn 2 ( từ năm 2024 đến năm 2028), trong đó KCN Hiệp Phước được tiếp tục hỗ trợ để thực hiện và giám sát các cơ hội KCNST(RECP/CSCN) đã được xác định trong khuôn khổ Dự án KCNST giai đoạn 2022 - 2024. Đồng thời, Dự án cũng sẽ tiếp tục cung cấp hỗ trợ kỹ thuật để triển khai các nghiên cứu khả thi hoặc cơ hội đầu tư đối với những giải pháp can thiệp về RECP, cộng sinh công nghiệp (CSCN), kinh tế tuần hoàn (KTTH). Được sự giúp đỡ của đội ngũ cán bộ Dự án cùng với đội ngũ chuyên gia kỹ thuật của Dự án từ các Viện, trường Đại học cùng nhân viên Trung tâm sản xuất sạch hơn đã vận động, hỗ trợ được 31 DN trong KCN đăng ký và cùng tham gia.
Trong quá trình 5 năm tham gia dự án, từ vai trò là thành viên, kết nối giữa đội ngũ chuyên gia UNIDO với các DN đang có nhu cầu chuyển đổi, KCN Hiệp Phước đã dần xác định rõ hướng đi phù hợp. Đối với các doanh nghiệp trong KCN, kể cả các đơn vị chưa tham gia dự án, là quá trình chuyển đổi nhận thức sâu sắc, từ chưa biết và e ngại đến nhận thức rõ, thấy được những tác động thuận lợi từ thị trường trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt để có đến 74% đơn vị trong KCN khi khảo sát đầu năm 2025 đã sẵn sàng tham gia.
Chuyển đổi KCN Hiệp Phước theo định hướng KCN sinh thái giai đoạn 2026 - 2030 và tầm nhìn đến 2045 đáp ứng các yêu cầu của pháp luật về KCN sinh thái theo quy định tại Nghị định số 35/2022/NĐ-CP về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế, đồng thời tăng cường hiệu quả hoạt động của KCN Hiệp Phước theo khung quốc tế về KCN sinh thái do UNIDO, World Bank và GIZ ban hành năm 2021, đáp ứng chỉ đạo của UBND TP. HCM tại Quyết định số1353/QĐ-UBND về việc phê duyệt Đề án “Định hướng phát triển các khu chế xuất, khu công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2023 - 2030 và tầm nhìn đến năm 2045”.
Theo đó, việc phát triển KCN sinh thái tại KCN Hiệp Phước phải đảm bảo hài hòa lợi ích của các bên tham gia: Nhà nước, Công ty hạ tầng, Nhà đầu tư thứ cấp, người lao động, bảo đảm việc phát triển KCN thuận lợi hơn, uy tín DN và sản phẩm được nâng cao, góp phần gia tăng lợi ích cụ thể cho các bên tham gia.
Mục tiêu tổng quát của Dự án là cải thiện hiệu quả về môi trường, KT-XH của các ngành công nghiệp tại Việt Nam thông qua việc triển khai phương pháp tiếp cận KCN sinh thái tại các KCN thí điểm, đồng thời nâng cao vai trò của KCN sinh thái trong các chính sách quốc gia. Các mục tiêu cụ thể của Dự án tập trung vào việc hoàn thiện thể chế, chính sách liên quan đến KCN sinh thái cũng như xác định và triển khai các cơ hội KCN sinh thái nhằm mang lại lợi ích thiết thực về môi trường, KT-XH cho các DN tham gia.
Dựa trên cách tiếp cận theo Khung quốc tế về KCN sinh thái, đánh giá ban đầu đối với KCN Hiệp Phước khi bắt đầu thực hiện Dự án vào năm 2020 cho thấy, KCN Hiệp Phước đã đạt 44% các chỉ số trong khung KCN sinh thái quốc tế. Với các sáng kiến cho KCN sinh thái trong hiện tại và tương lai, KCN Hiệp Phước dự kiến sẽ đáp ứng 88% các chỉ số theo khung KCN sinh thái Quốc tế.
Theo đánh giá so với Khung KCN sinh thái Quốc tế, các hạng mục mà KCN Hiệp Phước cần được cải thiện theo 2 vấn đề chính: (1) Vấn đề môi trường bao gồm: Năng lượng, chất thải, sử dụng chất thải và vật liệu, biến đổi khí hậu và môi trường tự nhiên, quản lý nước; (2) Vấn đề xã hội gồm: Cơ sở hạ tầng xã hội, tiếp cận cộng đồng địa phương, tạo giá trị kinh tế.
Để chuyển đổi sang mô hình KCN sinh thái, KCN Hiệp Phước cần:
Tập trung phát triển công nghệ sạch, thân thiện với môi trường, hệ thống thu gom và xử lý chất thải hiệu quả, thực hiện RECP, cũng như phát triển các cơ hội cộng sinh công nghiệp để sử dụng hiệu quả tài nguyên và giảm phát thải ra môi trường.
Tăng cường nhận thức và trách nhiệm: Nâng cao nhận thức của doanh nghiệp, người lao động, và cộng đồng về phát triển bền vững và khái niệm KCN sinh thái và thực hiện các hoạt động nhằm giảm ảnh hưởng môi trường.
Hỗ trợ DN và cộng đồng: Tăng cường các biện pháp để hỗ trợ DN và cộng đồng trong việc thực hiện các hoạt động phát triển bền vững.
Dựa theo các đánh giá trên, Dự án “Triển khai KCN sinh thái tại Việt Nam theo hướng tiếp cận từ chương trình KCN sinh thái toàn cầu” đã hỗ trợ KCN Hiệp Phước chuyển đổi sang mô hình KCN sinh thái thông qua các nhóm hoạt động sau:
Nhóm 1: Hoạt động đào tạo tập huấn nâng cao năng lực
Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 (giai đoạn 2020-2021), việc tập huấn, tuyên truyền của Dự án vẫn được tiến hành để đảm bảo tháo gỡ các băn khoăn, vướng mắc, e ngại từ phía các đơn vị DN ngay từ đầu khi triển khai thực hiện, với các chuyên đề: Các hoạt động đào tạo tập huấn tại KCN Hiệp Phước nhằm nâng cao nhận thức và kỹ năng thực hành để đáp ứng khung quốc tế về KCN sinh thái gồm: Hội thảo khởi động dự án "Triển khai KCN sinh thái tại Việt Nam theo hướng tiếp cận từ Chương trình KCN sinh thái toàn cầu"; Giới thiệu mô hình, lợi ích và yêu cầu về KCN sinh thái theo khung quốc tế và Việt Nam; Nâng cao nhận thức về hiệu quả sử dụng tài nguyên và sản xuất sạch hơn và cộng sinh công nghiệp; Hội thảo tham vấn về các chỉ số đề xuất để công nhận và giám sát KCN sinh thái; Xây dựng Khung thể chế chính sách và giải pháp triển khai KCN sinh thái tại Việt Nam; Công cụ tài chính để hỗ trợ các công ty và KCN chuyển đổi sang KCN sinh thái tại Việt Nam; Thảo luận và xác định các cơ hội cộng sinh công nghiệp, cộng sinh công nghiệp - đô thị ưu tiên nghiên cứu tại KCN Hiệp Phước… Cùng với đó, Ban Quản lý Dự án phối hợp cùng KCN bám sát, giải quyết các vấn đề băn khoăn, vướng mắc của DN. Khi có những vấn đề băn khoăn, ngay lập tức đội ngũ chuyên gia cùng cán bộ KCN sẽ trực tiếp tiếp xúc và giải đáp.
|
VẤN ĐỀ DN THAM GIA |
GIẢI PHÁP BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN |
|
- Tâm lý e ngại; không muốn tham gia; - Chi phí đóng góp; đầu tư trang thiết bị máy móc; - Ảnh hưởng đến thương hiệu, hình ảnh Công ty, ảnh hưởng đến thị phần. - Thủ tục công nhận. |
- Đeo bám, phối hợp giữa cán bộ, cơ quan tiếp cận, giải thích kịp thời những lo ngại; - Tổ chức các buổi truyền thông theo module phù hợp, không dồn dập; - Tài liệu được cập nhật trên lên website: http://khucongnghiepsinhthai-vietnam.vn hoặc tiếng Anh http://eipvietnam.org |
Các buổi tập huấn và thảo luận của Dự án trong giai đoạn 2021 - 2022


Nhóm 2: Hoạt động Hỗ trợ kỹ thuật cho các DN trong KCN Hiệp Phước
Dự án đã cung cấp các hỗ trợ kỹ thuật của nhằm hỗ trợ KCN Hiệp Phước thực hiện các giải pháp hiệu quả tài nguyên và sản xuất sạch hơn, nhận diện và triển khai các giải pháp cộng sinh công nghiệp và công nghiệp - đô thị, cải thiện các chỉ số hiệu suất phù hợp với khung KCN sinh thái quốc tế. Dự án đã phân công chuyên gia kỹ thuật đến khảo sát trực tiếp tại nhà máy, làm việc trực tiếp với đội ngũ sản xuất, kỹ thuật của DN để thực hiện tư vấn. Hoạt động tư vấn này luôn đảm bảo đủ các bước từ khảo sát, đánh giá hiện trạng, tư vấn giải pháp, thực hiện giải pháp, đánh giá kết quả thực hiện.
Cụ thể, Dự án đã hỗ trợ KCN Hiệp Phước trong việc:
(1). Đánh giá hiệu quả tài nguyên và sản xuất sạch hơn (RECP)
Dự án đã hỗ trợ KCN Hiệp Phước trong việc thực hiện đánh giá nhằm xác định các giải pháp hiệu quả tài nguyên và sản xuất sạch hơn (RECP) cho 31 DN tại KCN Hiệp Phước (93% là các DN vừa và nhỏ). Mục tiêu là xác định các cơ hội RECP áp dụng cho các DN nhằm góp phần tiết kiệm tài nguyên, năng lượng, nước, chất thải, và vật liệu cho mỗi DN. Triển khai các giải pháp RECP nhằm hỗ trợ DN sản xuất bền vững hơn và tăng cường khả năng cạnh tranh. Các bước hỗ trợ kỹ thuật để thực hiện đánh giá RECP như sau: Xác định các DN tiềm năng tham gia dự án; Xây dựng chương trình đánh giá nhanh RECP cho các DN; Hỗ trợ thành lập và duy trì đội RECP tại cácDN; Xây dựng năng lực cho nhân viên của các DN triển khai RECP; Thuyết phục DN phát triển kế hoạch triển khai các giải pháp RECP tiềm năng; Cung cấp hỗ trợ kỹ thuật và hướng dẫn triển khai các giải pháp RECP đã lựa chọn; Đánh giá hiệu quả của các giải pháp RECP đã thực hiện; Tiếp tục phát hiện và đề xuất các giải pháp RECP mới tại DN trong quá trình đánh giá.
Kết quả Dự án đã hỗ trợ KCN Hiệp Phước xác định được 305 giải pháp RECP tại 31 doanh nghiệp. Tổng tiết kiệm tiềm năng hàng năm được thể hiện Bảng 1:
Bảng 1. Tổng tiết kiệm hàng năm dự kiến từ các giải pháp RECP tại KCN Hiệp Phước
|
Mức giảm (dự kiến) tại KCN Hiệp Phước |
Đơn vị tính |
Tổng |
|
Giảm tiêu thụ điện |
kWh/năm |
34.052.621 |
|
Chất đốt (LPG, gỗ, dầu diesel, FO, ...) |
GJ/năm |
7.645 |
|
Giảm lượng khí thải CO2 tương đương |
tấn CO2eq /năm |
28.926 |
|
Điện tiết kiệm từ năng lượng tái tạo |
MWh/năm |
12.985 |
|
Giảm tiêu thụ nước |
m³/năm |
575.332 |
|
Giảm tiêu thụ hóa chất |
kg/năm |
36.882 |
|
Lợi ích kinh tế |
triệu VND/năm |
94.669 |
|
Lợi ích kinh tế từ Giải pháp năng lượng tái tạo |
triệu VND/năm |
27.043 |
|
Lợi ích kinh tế từ RECP |
triệu VND/năm |
67.626 |
(Nguồn: 31 DN tham gia dự án UNIDO)
Thực tế theo kết quả đánh giá của UNIDO, tính đến tháng 9 năm 2023 cho thấy, trong tổng số 305 giải pháp được xác định với sự hỗ trợ từ dự án, các DN tại KCN Hiệp Phước đã triển khai 104 giải pháp (35%), 68 giải pháp (23%) đang trong giai đoạn lập kế hoạch. Thông qua việc triển khai những giải pháp này, các DN tại KCN Hiệp Phước đã đạt được những tiết kiệm và lợi ích môi trường như Bảng 2:
Bảng 2. Kết quả thực hiện RECP tại Hiệp Phước
|
Mức giảm (dự kiến) tại KCN Hiệp Phước |
Đơn vị tính |
Tổng |
|
Giảm tiêu thụ điện |
kWh/năm |
7.054.089 |
|
Chất đốt (LPG, gỗ, dầu diesel, FO, ...) |
GJ/năm |
3.869 |
|
Giảm lượng khí thải CO2 tương đương |
tấn CO2eq /năm |
5.977 |
|
Điện tiết kiệm từ năng lượng tái tạo |
MWh/năm |
0,99 |
|
Giảm tiêu thụ nước |
m³/năm |
151.220 |
|
Giảm tiêu thụ hóa chất |
kg/năm |
1.960 |
|
Lợi ích kinh tế |
Tỷ VND/năm |
43,3 |
Có thể nhận thấy, hoạt động hỗ trợ triển khai đánh giá RECP của dự án cho KCN Hiệp Phước đã đạt được những kết quả đáng kể trong việc giảm phát thải khí nhà kính, tiết kiệm nước và hóa chất, cũng như cải thiện môi trường làm việc và an toàn lao động tại KCN Hiệp Phước. Kết quả cho thấy, sự hỗ trợ của dự án đã giúp giảm lượng phát thải CO2 lên đến 5.977 tấn/năm, giảm lượng nước thải là 151.220 m3/năm, lượng hóa chất giảm là 2,0 tấn/năm.
(2) Hỗ trợ phát triển cộng sinh công nghiệp và cộng sinh công nghiệp - đô thị
Ngoài ra nhằm hỗ trợ KCN Hiệp Phước tăng cường hiệu sử dụng hiệu quả tài nguyên và lợi ích kinh tế, cải thiện môi trường và xã hội của các doanh nghiệp, qua đó đóng góp vào sự phát triển công nghiệp bao trùm và bền vững. Để đạt được mục tiêu này, dự án cũng đã hỗ trợ các DN và KCN nghiên cứu và triển khai các cơ hội cộng sinh công nghiệp và cộng sinh công nghiệp - đô thị.
Dự án đã cung cấp hỗ trợ kỹ thuật cho KCN Hiệp Phước và các DN trong KCN Hiệp Phước tiến hành đánh giá tiền khả thi cho các cơ hội cộng sinh công nghiệp và cộng sinh công nghiệp - đô thị. Kết quả đã xác định được 14 cơ hội cộng sinh công nghiệp và 4 cơ hội hợp tác giữa công nghiệp - đô thị.
Trên cơ sở các cơ hội đã được xác định, KCN Hiệp Phước và các bên liên quan đã tổ chức các cuộc họp để thảo luận về các cơ hội có tiềm năng thực hiện. Tại các cuộc họp, tất cả các bên liên quan đều thống nhất thực hiên nghiên cứu khả thi với 7 cơ hội cộng sinh công nghiệp và 4 cơ hội cộng sinh công nghiệp - đô thị tiềm năng nhất. Cụ thể, đầu tư vào hệ thống RO để tái sử dụng nước thải đã xử lý; Tổ chức các buổi tập huấn tập trung cho các DN trong KCN; Sử dụng bùn từ quá trình nạo vét xung quanh khu vực cảng của KCN cho mục đích san lấp; Tái sử dụng cát thải để sản xuất gạch không nung; Tái sử dụng gỗ vụn làm nhiên liệu cho lò hơi; Thu gom sắt thép phế liệu từ các công ty trong KCN để tái chế tại Công ty Thép Á Châu, Công ty giấy Xuân Mai; Phát triển dịch vụ xe buýt cho công nhân tại KCN Hiệp Phước; Chia sẻ nguồn lực con người và trang thiết bị chữa cháy của KCN Hiệp Phước với huyện Nhà Bè; Sử dụng nước thải đã xử lý để tưới cây tại khuôn viên KCN Hiệp Phước và các khu vực xung quanh; Xây dựng nhà ở xã hội cho công nhân tại KCN Hiệp Phước.
Bảng 3, tóm tắt thông tin về tiết kiệm tiềm năng, lợi ích môi trường và xã hội của mười một cơ hội cộng sinh công nghiệp, cộng sinh công nghiệp - đô thị.
Bảng 3. Tổng tiết kiệm tiềm năng của các cơ hội cộng sinh công nghiệp và cộng sinh công nghiệp – đô thị ở KCN Hiệp Phước
|
Tổng chi phí đầu tư CAPEX |
53.011 Triệu VNĐ/năm |
|
Tổng chi phí vận hành OPEX |
16.181 Triệu VNĐ/năm |
|
Tổng doanh thu |
40.001 Triệu VNĐ/năm |
|
Tổng lợi ích môi trường |
Giảm khí thải GHGs xuống 72.161 tấn CO2 eq/năm |
|
Tổng lợi ích xã hội |
Nâng cao hiểu biết về KCNST và bảo vệ môi trường |
|
Tổng lợi ích kinh tế |
Tiết kiệm 151,72 triệu VND/năm |
Việc thực hiện các cơ hội cộng sinh công nghiệp và công nghiệp - đô thị, vẫn đối mặt với nhiều rào cản, trong đó vấn đề pháp lý liên quan đến quản lý chất thải và nước thải. Hiện tại chưa có cơ hội cộng sinh công nghiệp nào được thực hiện ở KCN Hiệp Phước.
(3) Hỗ trợ kiểm kê khí nhà kính:
Ngoài ra, Dự án đã hỗ trợ thực hiện kiểm kê KNK và và xây dựng chiến lược giảm phát thải KNK cho 03 DN là Công ty Giấy Xuân Mai, Thép Á Châu và Cái Lân ở KCN Hiệp Phước.

Như đã trình bày ở trên, năm 2020, KCN Hiệp Phước đạt 44 % so với yêu cầu của khung quốc tế về KCN sinh thái. Với sự hỗ trợ của Dự án, đến cuối năm 2023 mức độ phát triển của KCN đã tăng lên 76% so với yêu cầu của khung quốc tế về KCN sinh thái và tiềm năng có thể đạt được đến 88% trong những năm tiếp theo.
Biểu đồ bên dưới biểu thị mức độ cải thiện của KCN Hiệp Phước so với khung quốc tế về KCN sinh thái như hình sau.

Tiếp nối thành công của Dự án “Triển khai KCNST tại Việt Nam theo hướng tiếp cận từ chương trình KCNST toàn cầu”, Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên hiệp quốc (UNIDO) với Bộ Kế hoạch Đầu tư đồng thực hiện tiếp tục triển khai Dự án “Nhân rộng phương pháp tiếp cận KCNST để thúc đẩy kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam” từ nguồn tài trợ của Cục kinh tế Liên bang Thụy Sỹ (SECO) thực hiện trong giai đoạn 2024- 2028.

Đường vào KCN Hiệp Phước, TP.Hồ Chí Minh
Trong khuôn khổ Dự án này, KCN Hiệp Phước là KCN tiếp tục được lựa chọn tham gia chương trình. Theo đó, Dự án giai đoạn 2024 - 2028 sẽ tiếp tục hỗ trợ giám sát, đánh giá KCN Hiệp Phước trong việc thực hiện KCN sinh thái, CSCN đã được thực hiện trong khuôn khổ Dự án KCN sinh thái 2020-2024. Đồng thời, Dự án cũng sẽ tiếp tục cung cấp hỗ trợ kỹ thuật để triển khai các nghiên cứu khả thi hoặc cơ hội đầu tư đối với những giải pháp can thiệp về RECP, CSCN, KTTH hoặc tạo ra tín chỉ các-bon đòi hỏi nguồn đầu tư tài chính từ các nhà đầu tư trong KCN Hiệp Phước.
Từ kết quả khảo sát của KCN Hiệp Phước và của Dự án đã triển khai tại KCN Hiệp Phước có thể thấy, việc chuyển đổi KCN Hiệp Phước sang KCN sinh thái là phù hợp, có thể nhận định ban đầu như sau:
Kết luận
Trong điều kiện nguồn lực và tài nguyên giới hạn, các doanh nghiệp và KCN Hiệp Phước, các đơn vị ưu tiên tìm cách giảm chi phí, tiết kiệm nguyên nhiên vật liệu, tăng hiệu quả sử dụng năng lượng để tạo ra sản phẩm có chi phí tối ưu nhất. Chuyển đổi xanh phải đi đôi với hiệu quả kinh tế, đây mới là động lực bền vững. Xu thế chuyển đổi trở thành KCN sinh thái ngày càng trở thành một xu thế tất yếu buộc các KCN phát triển trong giai đoạn đầu tại Việt Nam, trong đó có Hiệp Phước, phải chuyển đổi để nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường bất động sản công nghiệp, bên cạnh đó là góp phần giúp các doanh nghiệp trong KCN cũng thuận lợi hơn khi được công nhận là doanh nghiệp sinh thái đáp ứng nhu cầu ngày càng khắc khe của khách hàng tại châu Âu, Bắc Mỹ, Bắc Á, bằng đồng bộ các giải pháp tiết kiệm tài nguyên và sản xuất sạch hơn, tiết kiệm năng lượng, kiểm soát và giảm phát thải, thông qua nâng cao hiệu quả quản trị sản xuất, máy móc thiết bị và nâng cao chất lượng sống của cộng đồng người lao động và dân cư.
Giang Ngọc Phương - Phó Tổng Giám đốc
Khu công nghiệp Hiệp Phước (HIPC)
(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường, số 2/2026)