Banner trang chủ
Thứ Năm, ngày 02/04/2026

Kết quả triển khai giải pháp cộng sinh công nghiệp tại một số khu công nghiệp ở Việt Nam

31/03/2026

    Bài báo trình bày kết quả triển khai các giải pháp cộng sinh công nghiệp (CSCN) tại 6 khu công nghiệp (KCN) thí điểm ở Việt Nam, bao gồm Khánh Phú (Ninh Bình), Hòa Khánh (Đà Nẵng), Hiệp Phước (TP. Hồ Chí Minh), Amata (Đồng Nai), Trà Nóc (Cần Thơ) và DEEP C (Hải Phòng). Đây là những KCN được lựa chọn trong khuôn khổ Dự án “Triển khai khu công nghiệp sinh thái (KCNST), hướng tới mô hình KCN bền vững tại Việt Nam (từ năm 2014 - 2019) và “Chương trình KCNST toàn cầu pha I, II - GEIPP (từ năm 2020 đến nay) để triển khai cách tiếp cận KCNST cũng như dần chuyển đổi sang KCNST nếu có thể. Dự án và Chương trình này được Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư (cũ) thực hiện. Tác giả tập trung phân tích hiệu quả thực tế so với tiềm năng dự kiến của các mô hình CSCN; đánh giá yếu tố thành công, rào cản, đề xuất khuyến nghị chính sách nhằm thúc đẩy nhân rộng mô hình này tại Việt Nam. Kết quả cho thấy, các mô hình CSCN không chỉ mang lại lợi ích về kinh tế, môi trường vượt dự kiến, mà còn góp phần cụ thể hóa mục tiêu phát triển bền vững và phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.

    1. Giới thiệu

    Trong xu thế toàn cầu hướng tới PTBV và mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, Việt Nam đang đẩy mạnh các chính sách chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn (KTTH) trong công nghiệp. Việc chuyển đổi các KCN truyền thống sang KCNST được xem là một giải pháp chiến lược, giúp nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, giảm phát thải, tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp (DN). Cộng sinh công nghiệp (CSCN) được xác định là trụ cột cốt lõi của KCNST và được quy định cụ thể trong Nghị định số 35/2022/NĐ-CP về quản lý KCN và khu kinh tế. Đây là hoạt động hợp tác giữa các DN trong một KCN hoặc nhiều KCN khác nhau để tối ưu hóa việc sử dụng/tái sử dụng yếu tố đầu vào, đầu ra như nguyên liệu, vật liệu, nước, năng lượng, chất thải, phế liệu và yếu tố khác trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Khái niệm CSCN này cũng tương đồng với định nghĩa về CSCN của Tổ chức Công nghiệp phát triển Liên hợp quốc (UNIDO) và Ngân hàng thế giới (World Bank) dưa ra. Gắn với nội dung này, CSCN không chỉ giúp giảm chi phí và phát thải, mà còn hình thành mối liên kết kinh tế - kỹ thuật chặt chẽ giữa các DN, góp phần thúc đẩy KTTH.

    Dự án “Triển khai KCNST hướng tới mô hình KCN bền vững tại Việt Nam” giai đoạn từ năm 2014 - 2019 (Dự án) và Chương trình KCNST toàn cầu (GEIPP) do UNIDO triển khai, với sự tài trợ của Chính phủ Thụy Sỹ (SECO), đã chọn Việt Nam là một trong 7 quốc gia thực hiện thí điểm giai đoạn 2019 - 2027. Dự án cũng như giai đoạn I của GEIPP Việt Nam với mục tiêu phổ biến cách tiếp cập KCNST trong các KCN đã tạo ra nền tảng cho việc triển khai KCNST, trong khi giai đoạn II (2023 - 2027) hướng tới nhân rộng mô hình KCNST nhằm thúc đẩy KTTH tại các KCN lớn hơn.

    Bài báo tập trung phân tích kết quả thực hiện CSCN của 6 KCN đại diện là Khánh Phú (Ninh Bình), Hòa Khánh (TP. Đà Nẵng), Hiệp Phước, (TP. Hồ Chí Minh), Amata (Đồng Nai) và DEEP C (TP. Hải Phòng). Những hoạt động hỗ trợ bao gồm phát hiện cơ hội CSCN; đào tạo nâng cao năng lực; lập báo cáo khả thi cũng như hỗ trợ khả năng tiếp cận tài chính. Đây là cơ sở thực tiễn quan trọng để đánh giá tính khả thi, hiệu quả, khả năng nhân rộng của CSCN trong bối cảnh Việt Nam hướng tới chuyển đổi mô hình phát triển công nghiệp xanh và đẩy mạnh áp dụng KTTH.

    2. Kết quả các hoạt động hỗ trợ cộng sinh công nghiệp đã triển khai

    2.1. Tổng quan các hoạt động cộng sinh công nghiệp đã được hỗ trợ thực hiện

    Trong giai đoạn từ năm 2014 - 2024, Dự án và Chương trình GEIPP Việt Nam đã triển khai một loạt hoạt động hỗ trợ kỹ thuật toàn diện nhằm thúc đẩy quá trình hình thành, phát triển các mô hình CSCN tại 6 KCN kể trên. Các hoạt động hỗ trợ được thiết kế theo cách tiếp cận “từ chính sách đến DN”, để vừa tạo khung thể chế thuận lợi, vừa trực tiếp hỗ trợ DN nhận diện, đánh giá, triển khai cơ hội CSCN, bao gồm: Tổ chức khóa đào tạo nâng cao nhận thức về CSCN cho DN, cán bộ quản lý; hỗ trợ xây dựng báo cáo khả thi cho các cơ hội CSCN tiềm năng để xác định cơ hội CSCN khả thi. Cho đến nay đã có 8 mô hình CSCN được triển khai thực tế và vận hành thành công, minh chứng rõ ràng cho hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của hoạt động CSCN. Trong số 8 mô hình CSCN thì 3 mô hình được triển khai ở KCN DEEP C và 5 KCN còn lại mỗi KCN đều triển khai 1 CSCN

    (i) Nghiên cứu, đánh giá tiềm năng cộng sinh công nghiệp trong các khu công nghiệp

    Các nghiên cứu tiềm năng CSCN được thực hiện thông qua phương pháp tiếp cận tích hợp ba cấp độ (Cấp KCN, cấp DN, cấp chuỗi giá trị). Ở cấp KCN, các chuyên gia đã phối hợp với Ban Quản lý và công ty phát triển hạ tầng tiến hành đánh giá dòng nguyên - nhiên - vật liệu (MFA), nhằm xác định dòng thải, phụ phẩm, năng lượng dư, cơ sở hạ tầng có thể chia sẻ. Ở cấp DN, các cuộc khảo sát chi tiết và phỏng vấn kỹ thuật được tiến hành đối với một số DN trong 6 KCN kể trên, tập trung vào việc thu thập số liệu định lượng về tiêu thụ năng lượng, nước, nguyên liệu đầu vào, chất thải đầu ra. Ở cấp chuỗi giá trị, nhóm dự án đã phân tích mối liên kết đầu vào - đầu ra giữa các ngành công nghiệp chính trong khu vực, ví dụ như chế biến thực phẩm, hóa chất, vật liệu xây dựng, năng lượng, tái sử dụng nước thải sau xử lý nhằm nhận diện cơ hội cộng sinh xuyên ngành cũng như giữa KCN và đô thị.

    Kết quả của quá trình này đã xác định được 18 cơ hội CSCN tiềm năng trong giai đoạn từ năm 2014 - 2019 và 31 cơ hội CSCN tiềm năng từ năm 2019 - 2024. Các cơ hội CSCN được phân loại thành 5 nhóm chính: Trao đổi sản phẩm phụ; (2) Tái sử dụng và tuần hoàn nước; (3) Chia sẻ hạ tầng và dịch vụ; (4) Tận dụng năng lượng dư và nhiệt thải và (5) Hợp tác dịch vụ năng lượng theo mô hình công ty dịch vụ năng lượng (ESCO). Các cơ hội này được đánh giá về mặt kỹ thuật, tài chính, môi trường và pháp lý, đồng thời được xếp hạng ưu tiên để lựa chọn các trường hợp phù hợp xây dựng báo cáo khả thi.

    Đáng chú ý là quá trình đánh giá tiềm năng CSCN ở các KCN kể trên còn giúp tạo ra khả năng hình thành cơ sở dữ liệu nền về dòng vật chất và năng lượng tại mỗi KCN - một công cụ quan trọng để tìm kiếm các cơ hội CSCN cũng như hỗ trợ quản lý và quy hoạch KCNST trong tương lai.

    (ii) Tổ chức tập huấn và nâng cao nhận thức cho doanh nghiệp và Ban Quản lý khu công nghiệp

    Nhằm đảm bảo tính bền vững và lan tỏa của các hoạt động cộng sinh, GEIPP Việt Nam đã triển khai chương trình đào tạo và nâng cao năng lực quy mô lớn trong giai đoạn từ năm 2020 đến năm 2025 với khoảng 30 khóa tập huấn tổ chức tại bốn địa phương thí điểm là Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai thu hút khoảng 500 lượt học viên từ Ban Quản lý KCN, công ty phát triển hạ tầng và các DN trong KCN.

Mô hình cộng sinh công nghiệp tại KCN Hiệp Phước (Nhà Bè, TP.Hồ Chí Minh) nhận được sự quan tâm lớn của các nhà đầu tư thứ cấp

    Nội dung tập huấn được xây dựng theo cấu trúc ba cấp độ năng lực: Nhận thức cơ bản về mô hình KCNST và CSCN - giới thiệu khung quốc tế của UNIDO về KCNST, Nghị định số 35/2022/NĐ-CP và các tiêu chí về KCNST; Kỹ năng nhận diện cơ hội CSCN - hướng dẫn DN cách lập sơ đồ dòng nguyên vật liệu, nhận diện dòng thải có thể tái sử dụng và tái chế,  sử dụng công cụ nhận dạng các cơ hội cộng sinh của UNIDO; Xây dựng và vận hành dự án CSCN nhằm cung cấp kiến thức về lập hồ sơ kỹ thuật, tính toán hiệu quả tài chính, đánh giá tác động môi trường, và các thủ tục pháp lý liên quan. Các khóa học được giảng dạy bởi chuyên gia quốc tế của UNIDO và chuyên gia trong nước, đồng thời lồng ghép các buổi thực hành mô phỏng cộng sinh  để người tham dự trực tiếp thử nghiệm kết nối cơ hội giữa các DN. Các khóa đào tạo này được thiết kế nhằm nâng cao nhận thức về CSCN của các DN trong KCN cũng như giúp họ tham gia và tìm kiếm sự hợp tác trong các cơ hội cộng sinh của KCN. Đây là tiền đề quan trọng để hình thành “văn hóa cộng sinh” - yếu tố nền tảng cho sự thành công của KCNST.

    (iii) Hỗ trợ lập báo cáo khả thi (FS) cho các giải pháp cộng sinh công nghiệp

    Trên cơ sở kết quả nghiên cứu và đào tạo, GEIPP Việt Nam đã hỗ trợ các DN xây dựng các báo cáo khả thi (Feasibility Study - FS) cho các cơ hội CSCN có tiềm năng triển khai cao, thuộc bốn nhóm giải pháp chính:

    Trao đổi sản phẩm phụ và chất thải: Các hoạt động CSCN này là phổ biến ở hầu hết các KCN trên với nguyên tắc là tập trung vào việc tận dụng phụ phẩm/chất thải trong một quá trình sản xuất này để tạo ra ra sản phẩm có giá trị trong một quy trình sản xuất khác. ví dụ như tận dụng khí thải từ nhà máy sản xuất phân đạm để sản xuất CO2 hóa lỏng; tro bay từ nhà máy nhiệt điện, cát phế liệu, bùn thải cũng như ximăng, cát và thạch cao rơi vãi được xem xét làm nguyên liệu đầu vào trong sản xuất gạch không nung; sắt thép phế liệu được thu gom làm nguyên liệu cho nhà máy sản xuất thép; nhựa phế thải và giấy vụn được thu gom để tái chế trong KCN; gỗ vụn làm nhiên liệu cho nồi hơi và gỗ thải được tái sử dụng làm đồ chơi trẻ em;  bùn thải có hàm lượng hữu cơ cao và các tạp chất ở ngưỡng cho phép được nghiên cứu làm nguyên liệu sản xuất phân compost; bột mài kính làm vật liệu đắp hoặc phụ gia cho kết cấu đường.

    Tái sử dụng và tuần hoàn nước: Một số KCN như  Amata, DEEP C và Hiệp Phước đưa ra  khả năng tái sử dụng nước thải đã qua xử lý để tưới cây xanh, vệ sinh công nghiệp,làm nước cấp cho hệ thống làm mát hoặc sử dụng cho mục đích phòng cháy chữa cháy ở cộng đồng lân cận. Hoạt động CSCN này sẽ góp phần giảm phụ thuộc của nhu cầu của nước sản xuất vào nguồn nước sạch và giảm áp lực đối với hạ tầng cấp nước sạch đô thị.

    Tận dụng năng lượng dư và nhiệt thải: Các cơ hội CSCN bằng việc tận dụng năng lượng dư và nhiệt thải được phát hiện ở hầu hết các KCN kể trên ví dụ như  thu hồi biogas làm nhiên liệu cho nồi hơi (KCN Hòa Khánh); thu hồi nhiệt dư từ lò hơi và khí thải để sấy sản phẩm hoặc phát điện nội bộ, (KCN Amata và Khánh Phú); sử dụng nhiệt dư của quá trình sản xuất thép để sản xuất hơi cho các DN có nhu cầu trong KCN như nhà máy chế biến thưc ăn gia súc và sử dụng hơi dư từ nhà máy sản xuất kính cung cấp cho nhà máy chế biến lốp xe (KCN DEEP C); Họat động CSCN này góp phần tiết kiệm đáng kể năng lượng tiêu thụ trong các KCN, dẫn đến giảm lượng phát thải khí nhà kính.

    Chia sẻ cơ sở vật chất và dịch vụ: Hoạt động CSCN này cũng được phát hiện ở đa số các KCN đã nêu, ví dụ  như chia sẻ lò hơi trung tâm hoặc cùng sử dụng kho lạnh (KCN Amata, KCN Trà Nóc), công ty dịch vụ năng lượng cung cấp thợ vận hành nồi hơi bậc cao cho các công ty sử dụng nồi hơi công suất lớn và cung cấp dịch vụ  như xử lý nước thải, xử lý sự cố tràn dầu (KCN DEEP C)) và dịch vụ phòng cháy chữa cháy cho cộng đồng dân cư lân cận (KCN Amata, DEEP C và Hiệp Phước). Các dịch vụ logistics trong nội khu KCN đã được phân tích chi tiết về chi phí đầu tư, mô hình quản lý vận hành, phân chia lợi ích và rủi ro kỹ thuật để tạo ra các dịch vụ chia xẻ phù hợp.

    Đặc biệt trong thời gian qua mô hình CSCN về chia xẻ cơ sở vật chất là nhà xưởng để lắp đặt điện măt trời áp mái (KCN DEEP C và Hiệp Phước) đang nhận được sự quan tâm lớn của các nhà đầu tư thứ cấp. Trong thời gian tới khi thủ tục liên quan đến mô hình đầu tư này được đơn giản hóa thì các mô hình này sẽ được nhân rộng, góp phân tăng tỷ lệ sản xuất/sử dụng năng lượng tái tạo của các KCN, góp phần đẩy mạnh hoạt động KTTH và đóng góp vào mục tiêu Net Zero của Việt Nam.  

    (iv) Hỗ trợ tiếp cận tài chính đối với các dự án khả thi

    Một trong những rào cản chính đối với CSCN tại Việt Nam là thiếu cơ chế tài chính và nguồn vốn phù hợp để đầu tư vào các hạng mục cần thiết phát sinh khi thực hiện CSCN. Nhằm tháo gỡ vấn đề này, GEIPP Việt Nam đã tìm cơ hội kết nối với các tổ chức tài chính trong nước và quốc tế để hỗ trợ DN tiếp cận nguồn vốn ưu đãi.

    Cụ thể, dự án đã làm việc với Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) và Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) để giới thiệu các kênh tài trợ như: Tín dụng xanh dành cho DN thực hiện dự án tiết kiệm năng lượng hoặc giảm phát thải; Cơ chế ESCO (Energy Service Company), trong đó nhà cung cấp dịch vụ năng lượng đầu tư thiết bị và được hoàn vốn thông qua phần tiết kiệm chi phí năng lượng của khách hàng; Hỗ trợ kỹ thuật và tư vấn tài chính, bao gồm lập hồ sơ vay vốn, phân tích dòng tiền và rủi ro đầu tư. Hoạt động hỗ trợ tài chính này không chỉ giúp DN vượt qua rào cản đầu tư ban đầu, mà còn tạo tiền lệ cho việc hình thành thị trường tài chính xanh trong lĩnh vực công nghiệp - một hướng đi chiến lược nhằm duy trì bền vững các mô hình CSCN trong tương lai.

    2.2. Đánh giá hiệu quả thực tế so với tiềm năng dự kiến

    Cho đến nay, việc triển khai thành công 8 giải pháp CSCN trong khuôn khổ Dự án “Triển khai KCNST hướng tới mô hình KCN bền vững tại Việt Nam” giai đoạn từ 2014 - 2019 và Chương trình GEIPP Việt Nam đã cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa tiềm năng dự kiến và kết quả đạt được trong thực tế. Sau giai đoạn đầu tập trung vào nhận diện và sàng lọc cơ hội CSCN, 8 mô hình đã được chuyển sang giai đoạn vận hành và một số mô hình khác đang được chuẩn bị đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đánh giá các kết quả thực nghiệm, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tính bền vững lâu dài của CSCN trong điều kiện Việt Nam.

    Hiệu quả kỹ thuật và vận hành

    Trong số 49 cơ hội CSCN có tiềm năng cao được xác định tại 6 KCN kể trên, phần lớn các giải pháp đều hướng đến tận dụng năng lượng dư, tái sử dụng nước thải và chia sẻ cơ sở vật chất - dịch vụ trong nội bộ KCN. 8 mô hình CSCN đã triển khai chỉ có mô hình CSCN ở KCN Khánh Phú là ở dạng trao đổi chất thải/sản phẩm phụ. Thực tiễn triển khai cho thấy, các mô hình vận hành thực tế tại các KCN thí điểm (Hòa Khánh, Khánh Phú, Amata, Hiệp Phước, DEEP C và Trà Nóc) đã đạt hiệu quả kỹ thuật tương đương hoặc cao hơn so với mức dự kiến ban đầu. Cụ thể, việc triển khai cơ hội CSCN ở KCN Khánh Phú đã tạo ra doanh thu hàng triệu USD mối năm cho nhà máy sản xuất CO2 hóa lỏng đồng thời tạo ra lợi nhuận đáng kể cho nhà máy phân đạm Ninh Bình. Đặc biệt, các giải pháp tận dụng nhiệt dư, thu hồi năng lượng và chia sẻ hơi bão hòa giữa các DN tại KCN Amata, Hiệp Phước và Hòa Khánh ghi nhận mức tiết kiệm năng lượng đáng kể như việc thu hồi biogas để sản xuất hơi ở KCN Hòa Khánh đã giúp giảm khoảng 33% lượng biomass tiêu thụ; giải pháp CSCN sử dụng chung lò hơi thực hiện ở KCN Trà Nóc đã giúp tiết kiệm tổng cộng khoảng 286.000 USD mỗi năm và tiết kiệm được 2/3 giá trị đầu tư và chi phí khấu hao hàng năm ở KCN Hiệp Phước. Các giải pháp này không chỉ giảm chi phí năng lượng tiêu thụ mà còn giúp ổn định quá trình sản xuất, giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và tăng tính linh hoạt trong vận hành.

    Đối với nhóm giải pháp tái sử dụng và tuần hoàn nước, đánh giá đưa ra kết quả dự kiến tại DEEP C và Hiệp Phước cho thấy tiềm năng lượng tiết kiệm nước là lớn. Các hệ thống tái sử dụng nước thải sau xử lý đảm bảo sẽ vận hành ổn định, đáp ứng tiêu chuẩn môi trường và đồng thời giúp giảm tải cho hệ thống xử lý tập trung của KCN. Hiện nay, nước thải qua xử lý tại 2 KCN này đã được tái sử dụng để tưới cây trong KCN. Bên cạnh đó, các sáng kiến chia sẻ cơ sở hạ tầng như kho chứa, trạm cân, hoặc dịch vụ logistics chung sẽ giúp giảm chi phí vận hành của DN đồng thời tăng hiệu suất sử dụng đất công nghiệp và giảm phát thải gián tiếp từ hoạt động vận chuyển. Các kết quả này cho thấy mức độ hài hòa cao giữa lợi ích kinh tế, kỹ thuật và môi trường là nền tảng quan trọng để nhân rộng mô hình CSCN trong giai đoạn tiếp theo.

    Hiệu quả kinh tế - xã hội

    Về mặt kinh tế, nhiều mô hình CSCN đã chứng minh tính khả thi tài chính trong thực tế. Các dự án đầu tư vào thu hồi năng lượng và tái sử dụng phụ phẩm cho thấy thời gian hoàn vốn được rút ngắn (ví dụ như dự án thu hồi biogas để sản xuất hơi ở KCN Hòa Khánh có thời gian hoàn vốn rất nhanh, chỉ khoảng 3 tháng) trung bình so với ước tính ban đầu nhờ chi phí đầu tư hợp lý và giá năng lượng, vật liệu tái chế tăng nhẹ trong giai đoạn 2023 - 2024. Các dự án CSCK khác cũng cho thấy hiệu quả kinh tế rõ rệt như  dự án CSCN đã thực hiện ở KCN Khánh Phú, KCN Trà Nóc và Hiệp Phước đã nêu ở trên. Một số dự án được hỗ trợ kết nối tài chính đã huy động thành công nguồn vốn từ các ngân hàng thương mại và quỹ môi trường, thể hiện sự tin cậy của hệ thống tài chính trong việc tham gia vào các mô hình KTTH.

    Tác động xã hội cũng thể hiện rõ qua quá trình tham gia của DN và người lao động. Các DN tham gia dự án ghi nhận mức độ chấp nhận và gắn kết cao hơn với mục tiêu phát triển bền vững của KCN. Nhiều DN nhỏ và vừa, vốn trước đây chưa có điều kiện đầu tư cải thiện công nghệ, nay đã được tiếp cận với các mô hình chia sẻ chi phí hoặc  hạ tầng, giúp nâng cao năng lực cạnh tranh. Đồng thời, việc triển khai CSCN cũng góp phần tăng tính minh bạch và hợp tác giữa các DN, tạo môi trường tin cậy cho hoạt động trao đổi tài nguyên và sản phẩm phụ.

    Hiệu quả môi trường

    Đánh giá về tác động môi trường cho thấy, các giải pháp CSCN đã góp phần đáng kể trong việc giảm phát thải khí nhà kính, giảm phát thải và sử dụng hiệu quả tài nguyên (ví dụ như chỉ riêng hoạt động CSCN ở KCN Khánh Phú đã giúp giảm được 90.000 tấn khí CO₂eq mỗi năm). Ngoài ra, việc áp dụng CSCN giúp cải thiện hình ảnh và đáp ứng các yêu cầu về môi trường quốc tế của DN, đặc biệt là các yêu cầu mới của thị trường châu Âu liên quan đến cơ chế CBAM (Cơ chế điều chỉnh các-bon xuyên biên giới) và Hộ chiếu điện tử của sản phẩm DPP (Digital Product Passport).

    2.3. Khoảng cách và nguyên nhân chênh lệch giữa tiềm năng và thực tế

    Mặc dù việc triển khai 8 cơ hội CSCK ở các KCN kể trên đã mang lại kết quả đáng kể nhưng nhìn chung vẫn tồn tại một số chênh lệch giữa tiềm năng dự kiến và hiệu quả thực tế ở một số mô hình mà nguyên nhân chủ yếu là do: Khó khăn trong phối hợp kỹ thuật giữa các DN có quy mô và quy trình sản xuất khác nhau; Khó khăn trong việc chia sẻ chi phí vận hành và phân bổ lợi ích giữa các bên; Một số giải pháp cộng sinh phụ thuộc vào điều kiện hạ tầng và thủ tục liên quan đến  điều chỉnh hạ tầng còn tương đối mất thời gian…

    3. Bài học kinh nghiệm và khuyến nghị

    Thực tiễn triển khai các mô hình CSCN Việt Nam cho thấy, động lực kinh tế rõ ràng là yếu tố quyết định sự thành công. Các dự án mang lại lợi ích cụ thể như tiết kiệm chi phí đầu tư - vận hành, hoặc tạo nguồn doanh thu mới từ chất thải và năng lượng thải/dư đều dễ dàng thu hút DN tham gia. Bên cạnh đó, sự chủ động của DN và mối quan hệ tin cậy giữa các bên (đặc biệt trong cùng tập đoàn hoặc chuỗi cung ứng) là chất xúc tác mạnh mẽ thúc đẩy các sáng kiến CSCN thành hiện thực. Vai trò của bên thứ ba chuyên nghiệp - các đơn vị cung cấp dịch vụ năng lượng, xử lý chất thải hay logistics cũng được khẳng định trong việc hỗ trợ kỹ thuật, chia sẻ rủi ro và bảo đảm hiệu quả vận hành.

    Tuy nhiên, một số rào cản thể chế và kỹ thuật vẫn tồn tại. Thủ tục pháp lý phức tạp, đặc biệt liên quan đến giấy phép môi trường, đánh giá tác đông môi trường (ĐTM) và định danh chất thải, làm chậm tiến độ triển khai. Ngoài ra, thiếu hành lang hạ tầng kỹ thuật dùng chung, rủi ro tài chính ban đầu và sự thiếu thông tin giữa các DN vẫn là những hạn chế lớn. Trên cơ sở đó, một số khuyến nghị chính được đề xuất như sau:

    Một là, hoàn thiện khung pháp lý theo hướng đơn giản hóa thủ tục và ban hành hướng dẫn kỹ thuật rõ ràng về phân loại, chuyển giao và tái sử dụng chất thải.

    Hai là, xây dựng cơ chế khuyến khích đầu tư, bao gồm ưu đãi thuế, tín dụng xanh và hỗ trợ hạ tầng cho các dự án CSCN.

    Ba là, Ban Quản lý KCN nên đóng vai trò “nhạc trưởng” kết nối DN, xây dựng cơ sở dữ liệu dòng thải và hỗ trợ pháp lý trong quá trình thực hiện.

    Bốn là, chủ đầu tư hạ tầng nên tích hợp quy hoạch cho CSCN ngay từ đầu, dành quỹ đất và hành lang kỹ thuật cho các hoạt động cộng sinh, đồng thời đầu tư vào hệ thống hạ tầng dùng chung cho các hoạt động CSCN.

    Năm là, DN cần thay đổi tư duy, coi chất thải là tài nguyên, tăng cường hợp tác, minh bạch thông tin và thúc đẩy các giải pháp sản xuất sạch hơn (RECP) tạo điều kiện mở rộng cơ hội cộng sinh.

    Kết luận

    Việc triển khai thành công các dự án CSCN tại một số KCN đã chứng minh rằng cộng sinh công nghiệp là hướng đi khả thi và hiệu quả để thúc đẩy KTTH trong các KCN Việt Nam. Các mô hình thành công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế trực tiếp mà còn góp phần đáng kể vào mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính, tiết kiệm tài nguyên và nâng cao năng lực cạnh tranh của DN. Tuy vậy, để mở rộng quy mô và duy trì các hoạt động CSCN, cần có sự đồng bộ giữa chính sách, cơ sở hạ tầng và hành động của DN. Việc thể chế hóa CSCN trong quy hoạch phát triển KCN, hoàn thiện tiêu chuẩn kỹ thuật, tăng cường hỗ trợ tài chính và đẩy mạnh hợp tác công - tư sẽ là chìa khóa để nhân rộng mô hình. Với cách tiếp cận đúng đắn và khung chính sách thuận lợi, CSCN có thể trở thành nền tảng thực thi hiệu quả chiến lược tăng trưởng xanh và cam kết phát thải ròng bằng “0” của Việt Nam đến năm 2050.

Nguyễn Thị Kim Liên, Nguyễn Trâm Anh

UNIDO

(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường, số 2/2026)

    Tài liệu tham khảo

    1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2022). Nghị định số 35/2022/NĐ-CP về quản lý KCN và khu kinh tế. Hà Nội.

    2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2025). Thông tư số 05/2025/BKHĐT về hướng dẫn xây dựng khu công nghiêp sinh thái, Hà Nội.

  3. UNIDO (2016). KCNST tạo nên thịnh vượng chung và BVMT, p.6: https://downloads.unido.org/ot/42/49/4249024/UNIDO_EIP-brochure_high-res_15June.pdf.

    4. GEIPP Việt Nam (5/2024). Báo cáo tổng hợp kết quả triển khai cộng sinh công nghiệp tại các KCN thí điểm - Series Bài học kinh nghiệm 5. UNIDO - Bộ Kế hoạch và Đầu tư. p. 55.

    5. GEIPP Việt Nam (5/2024). Báo cáo tổng hợp kết quả triển khai CSCN tại các KCN thí điểm - Series Bài học kinh nghiệm 6. UNIDO - Bộ Kế hoạch và Đầu tư. p. 198; p 204; p 208.

    6. UNIDO (2023). Thu hồi và tái sử dụng nhiệt dư trong các KCNST - Những thực tiễn tốt nhất p.5.

    7. UNIDO (2019). Báo cáo Dự án “Triển khai KCNST hướng tới mô hình KCN bền vững tại Việt Nam”.

  8. Sai Gon Giai Phong News April 22, 2024: https://en.sggp.org.vn/industrial-symbiosis-solutions-to-realize-a-circular-economy-post109506.html.

    9. UNIDO, WB (2021). An International Framework for Eco-Industrial Parks.

    10. https://congthuong.vn/san-xuat-cong-nghiep-ben-vung-nhin-tu-khu-cong-nghiep-deep-c-326385.html.

Ý kiến của bạn