--%>
Giáo dục môi trường cho sự phát triển bền vững các cộng đồng dân tộc thiểu số ở huyện Simacai, tỉnh Lào Cai
Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá các vấn đề môi trường, nhận thức về môi trường và ảnh hưởng của môi trường đến sinh kế của họ ở huyện Simacai, tỉnh Lào Cai. Kết quả nghiên cứu cho thấy, đã xuất hiện nhiều vấn đề môi trường khá nghiêm trọng và diễn biến phức tạp ở các vùng dân tộc thiểu số như suy thoái rừng, thoái hóa đất và nước. Đặc biệt, những vấn đề cấp bách nổi lên trong những năm gần đây là ô nhiễm môi trường do quản lý chăn nuôi và chất thải sinh hoạt, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp. Nghiên cứu cũng đề cập đến nhận thức và những hành vi môi trường của người Mông và nhu cầu giáo dục môi trường cho cộng đồng dân tộc thiểu số ở Lào Cai nói riêng và vùng núi phía Bắc nói chung. Từ đó, đề xuất khung tiếp cận trong giáo dục môi trường cho phát triển bền vững với nguyên tắc lấy con người làm trung tâm, kết hợp giữa kiến ​​thức khoa học và kiến thức bản địa phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội (KT-XH) của người dân tộc thiểu số, thúc đẩy trách nhiệm của các tổ chức xã hội và vai trò của người có uy tín trong cộng đồng.
Giải pháp quản lý, tái chế và sử dụng chất thải rắn của Tổng Công ty Thép Việt Nam
Tổng Công ty Thép Việt Nam - CTCP (TCT Thép) là một trong những doanh nghiệp hàng đầu của ngành thép Việt Nam, hoạt động trong các lĩnh vực: Khai thác quặng sắt, than mỡ và mỏ nguyên liệu khác cho sản xuất gang, thép; Sản xuất và kinh doanh gang, thép, vật liệu chịu lửa, thiết bị luyện kim, sản phẩm thép cán (thép thanh, dây, thép tấm, tôn mạ mầu) và vật liệu xây dựng (gạch ốp lát, gạch granit); Tư vấn thiết kế, chế tạo, thi công xây lắp các công trình sản xuất thép, các công trình công nghiệp và dân dụng… Bằng những nỗ lực không ngừng trong 60 năm qua (1960-2020), TCT Thép đã đạt nhiều kết quả trong khai thác, tuyển, chế biến khoáng sản (quặng sắt, than mỡ luyện Cốc, nguyên liệu mỏ trợ dung khác), sản xuất đủ gang, thép cho nhu cầu của Việt Nam và BVMT một cách bền vững.
Nghiên cứu thu nhận nano CaCO3 từ chất thải thạch cao phốt pho nhà máy phân bón DAP
Nghiên cứu đã sử dụng chất thải thạch cao phốt pho (PG) quá trình phân huỷ quặng apatit của nhà máy phân bón DAP, bã thải PG qua công đoạn loại bỏ photpho đồng kết tủa, photpho hoà tan và các tạp chất với tác nhân axit axit sulfuric 10%, phản ứng tỷ lệ L/R là 3, rửa nước và phản ứng với NaOH, sục khí CO2thu nhận nano CaCO3. Phản ứng chuyển hóa PGđãloại bỏ tạp chất thành nano CaCO3 được thực hiện với tỷ lệ NaOH/thạch cao sạchđã xử lý là 0,429 (kl/kl), thời gian khuấy 3giờ, tốc độ khuấy 350 vòng/phút ở nhiệt độ phòng, sục khí CO2 tiếp 2,58 phút, tốc độ sục khí 40ml/phút ở 1atm, nghiên cứu đã thu nhậnở quy mô phòng thí nghiệm nanoCaCO3kích thước cỡ50 nm bằng hiển vi điện tử quét và phù hợp với xác định kích thước tinh thể đạt51,9 nm theo phương pháp nhiễu xạ tia Xmở ra triển vọng tái sử dụng bã thải thạch cao cho nhiều mục đích khác nhau đem lại hiệu quả kinh tế và môi trường
Xây dựng mô hình ủ kị khí thành phân hữu cơ trong chất thải rắn sinh hoạt
Lượng chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam cũng như trên thế giới đang tăng lên nhanh chóng, tạo áp lực môi trường cho các đô thị nếu không xử lý tốt nhưng cũng là một nguồn tài nguyên rất dồi dào nếu tận dụng tốt. Xu hướng xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên thế giới hiện nay là giảm tỉ lệ chôn lấp, tăng tỷ lệ tái chế và ủ sinh học.Hàng loạt các nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt bằng phương pháp kị khíở các nước Châu Âu và các khu vực khác đã được xây dựng. Phương pháp ủ sinh học kị khí phù hợp với điều kiện Việt Nam vì: Thành phần CTR hữu cơ chiếm tỷ lệ cao trong CTRSH tại Việt Nam; Điều kiện khí hậu Việt nam có độ ẩm cao nên phù hợp với các quá trình ủ sinh học; Chi phí xử lý bằng công nghệ ủ sinh học khá thấp so với các công nghệ khác; Giảm được lượng CTR cần chôn lấp; Giảm được lượng khí nhà kính gây biến đổi khí hậu; Tạo được sản phẩm mùn hữu cơ tốt cho đất; Thu hồi được sản phẩm khí có giá trị cao.
Đánh giá chất lượng nguồn sử dụng và chất lượng nước ngọt phục vụ nhu cầu của người dân tại ba xã đảo (Việt Hải, Nhơn Châu, Nam Du)
Xu thế khai thác cạn kiệt các nguồn nước ngọt (bao gồm nước ngầm và nước mặt) để phát triển kinh tế hiện tại của các xã đảo là vấn đề đáng báo động. Chính vì vậy trong khuôn khổ bài viết, nhóm tác giả đưa ra một số đánh giá trữ lượng nguồn nước và chất lượng nước ngọt tại ba xã đảo là xã Việt Hải (huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng), xã Nhơn Châu (thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định) và xã Nam Du (huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang).
Giải pháp xây dựng bể tự hoại hộ gia đình để phòng ngừa ô nhiễm nước dưới đất trên địa bàn tỉnh Phú Yên
Bài viết trình bày thực trạng các loại bể tự hoại hộ gia đình đã, đang xây dựng phổ biến ở tỉnh Phú Yên. Nhìn chung, bể tự hoại phổ biến nhất là loại bể 3 ngăn, gồm 1 ngăn chứa và 2 ngăn lắng. Nhóm tác giả đã phân tích những ưu và nhược điểm của bể tự hoại 3 ngăn, từ đó đề xuất giải pháp đấu nối hiệu quả nước thải của bể tự hoại 3 ngăn vào hệ thống thu gom nước thải tập trung. Đặc biệt, bài viết đề xuất giải pháp xây dựng một dạng bể tự hoại mới ở những khu dân cư đang chờ đấu nối vào hệ thống thu gom nước thải tập trung nhằm phòng ngừa ô nhiễm nước dưới đất và thuận lợi đấu nối trong tương lai.
Nghiên cứu thái độ của người dân thành phố Hạ Long đối với việc sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần
Ô nhiễm chất thải nhựa (CTN) ở biển là một trong những đe dọa lớn nhất của đại dương thế giới, đã và đang phá hoại các hoạt động kinh tế - xã hội tại các vùng biển và vùng bờ biển. Vấn đề giảm thiểu ô nhiễm môi trường do CTN rất khó được thực hiện bằng cách thay thế các sản phẩm nhựa (SPN) dùng một lần, mà phải nghiên cứu giải pháp để người dân giảm thiểu sử dụng, tái sử dụng, tái chế và sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường. Để mô hình này hiệu quả, cần phải nghiên cứu, xây dựng các giải pháp tuyên truyền nhằm thay đổi thái độ của người dân đối với việc sử dụng các SPN dùng một lần.
Đánh giá hiệu quả xử lý nước thải chăn nuôi sau biogas quy mô hộ gia đình khu vực đồng bằng sông Cửu Long bằng phương pháp hấp phụ biochar kết hợp oxy hóa bậc cao (ozon)
Bài viết đánh giá hiệu quả xử lý nước thải chăn nuôi sau biogas dành cho hộ nông dân có sinh kế là chăn nuôi bò ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Công nghệ được đề xuất trong nghiên cứu là kết hợp giữa phương pháp hấp phụ than sinh học (biochar được sản xuất từ rác vườn của hộ dân) với phương pháp oxy hóa bậc cao (khử trùng bằng ozon). Công nghệ được áp dụng cho hộ ông Nguyễn Văn Hai (nuôi bò) tại xã Lê Trì, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang và hộ bà Huỳnh Thị Tốt (nuôi heo) ở xã Bình Phước Xuân, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang với quy trình nước thải chuồng trại được xử lý sơ bộ bằng hệ thống biogas, sau đó được dẫn qua ngăn lọc với vật liệu lọc là biochar, tiếp theo cho qua bể chứa có bố trí hệ thống sục khí ozon và cuối cùng sau xử lý được lưu chứa trong ao thực vật thủy sinh để dùng cho việc tưới cây trồng.
Đánh giá mức độ ô nhiễm bụi mịn (PM10 và PM2,5) trong nhà tại các căn hộ ở Hà Nội
Kể từ cuộc cách mạng công nghiệp, các hoạt động của con người đã làm tăng đáng kể nồng độ các chất khí gây ô nhiễm trong không khí và bụi mịn (PM2,5, PM10) ở cả khu vực thành thị và nông thôn. Các nghiên cứu dịch tễ học đã chỉ ra rằng PM2.5 và PM10 có ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe con người, bao gồm cả tử vong sớm. Kết quả đo lường bụi PM2,5 và bụi PM10 bên trong nhà tại các căn hộ chung cư của nghiên cứu này cho thấy sự tương quan giữa nồng độ bụi trong nhà, hoạt động hàng ngày và chất lượng không khí ngoài nhà. Ngoài ra vị trí căn hộ theo chiều cao và giải pháp thông gió cũng ảnh hưởng đến nồng độ bụi PM2,5 và PM10 trong phòng. Nồng độ bụi PM2,5 trong các phòng đều vượt so với quy định của Tiêu chuẩn ASHREA và Singapore từ 1,5 đến 2,4 lần. Nồng độ bụi PM10 nằm trong khoảng chấp nhận được.
Dự báo ảnh hưởng đến môi trường do hoạt động nuôi trồng thủy sản tập trung ở Cần Giờ
Trong những năm gần đây, hoạt động nuôi trồng thủy sản (NTTS) ở TP. Hồ Chí Minh ngày càng tăng, nhất là ở khu vực Cần Giờ do kết hợp được lợi thế rừng ngập mặn (RNM) tự nhiên. Bên cạnh các lợi ích kinh tế mang lại, việc NTTS có nguy cơ làm ảnh hưởng đến nguồn nước và hệ sinh thái. Bài viết này trình bày kết quả dự báo ảnh hưởng của hoạt động nuôi tôm tập trung tại 4 vùng quy hoạch thuộc huyện Cần Giờ là Tam Thôn Hiệp, Bình Khánh, An Thới Đông, Lý Nhơn, thông qua việc sử dụng mô hình MIKE21. Kết quả cho thấy, nếu không được kiểm soát tốt, thì hoạt động NTTS có thể ảnh hưởng xấu đến chất lượng nước của 2 lưu vực sông Đồng Tranh và Lòng Tàu.
Đánh giá dòng nước thải và hiện trạng xử lý tại một số cơ sở chăn nuôi lợn
Nước thải chăn nuôi (NTCN) thường chứa nhiều thành phần ô nhiễm đã và đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường. Thực tế cho thấy, NTCN phát sinh với lưu lượng lớn, hàm lượng các chất ô nhiễm cao, đặc biệt là thành phần chất hữu cơ. Ngoài ra, ở nhiều hiện NTCN cũng chưa được xử lý đầy đủ và hiệu quả.
Mô hình phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường ở Khe Mây (xã Hương Đô, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh)
Năm 1992, tỉnh Hà Tĩnh được tái thành lập. Mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng Lãnh đạo tỉnh quyết tâm đầu tư xây dựng một số vùng kinh tế mới (KTM) với mục tiêu: khai thác tiềm năng vùng gò đồi, góp phần giải quyết việc làm, nâng cao đời sống, phân bố lại dân cư và BVMT.
Một số thay đổi môi trường đại dương toàn cầu và các đề xuất nghiên cứu phục vụ phát triển bền vững biển Việt Nam
Trong những thập kỷ gần đây, kinh tế thế giới phát triển mạnh, bên cạnh đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của con người, đã làm tăng gần 50% lượng khí nhà kính so với thời kỳ tiền công nghiệp trước năm 1900. Đại dương hấp thụ lượng lớn các bon do các hoạt động của con người, khiến cho đại dương ấm lên, đại dương bị axít hóa, đại dương bị mất ôxy, sự đột biến của chu trình dinh dưỡng và năng suất sinh học sơ cấp. Đồng thời, đại dương nóng lên đã tác động mạnh đến sinh trưởng của sinh vật biển, nghề khai thác hải sản, đến nguồn cung thực phẩm và sinh kế của ngư dân. Bên cạnh đó là sự gia tăng rác thải nhựa (RTN) trên đại dương, gây ra ô nhiễm môi trường và tác động xấu đến biển, đại dương.
Những cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đối với phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay
Trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, phát triển bền vững (PTBV) được xem là xu thế tất yếu, là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa phát triển kinh tế, xã hội và BVMT. PTBV đang là nhu cầu cấp bách, là mục tiêu hướng tới của nhiều quốc gia trên thế giới và mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa... để hoạch định chiến lược phù hợp với quốc gia đó. Trong thời đại có nhiều tiến bộ và thay đổi hiện nay do cuộc cách mạng công nghiệp (CMCN) lần thứ tư (4.0) tạo ra, việc thực hiện mục tiêu PTBV đối với mỗi quốc gia có nhiều cơ hội nhưng cũng gặp phải không ít thách thức.
Phát triển kinh tế tuần hoàn trong bảo vệ tài nguyên và môi trường ở Việt Nam
Kinh tế tuần hoàn (KTTH) là xu hướng tất yếu trong bối cảnh phát triển hiện đại. Đó là nền kinh tế mà giá trị của sản phẩm, vật liệu và tài nguyên được duy trì lâu nhất có thể và sự phát thải được giảm thiểu. KTTH dựa trên triết lý và nguyên lý mới, theo đó tài nguyên thiên nhiên là hữu hạn và mọi thứ lấy từ tự nhiên cần được sử dụng hợp lý, thông minh, được tuần hoàn tái chế để duy trì lâu dài nền tảng tự nhiên cho tất cả mọi thế hệ phát triển.
Đánh giá thực trạng tác động của các loại hình du lịch đến môi trường tại huyện Văng Viêng, tỉnh Viêng Chăn, Lào - Kinh nghiệm cho một số vùng nông thôn của Việt Nam
Văng Viêng là một khu du lịch (KDL) thiên nhiên kết hợp nghỉ dưỡng và phiêu lưu mạo hiểm thu hút khá nhiều du khách, đặc biệt là các du khách Châu Âu bởi Văng Viêng hội tụ đủ các yếu tố: du lịch thiên nhiên sinh thái, khám phá gắn liền với truyền thống văn hóa tự nhiên... Bài viết nhằm đánh giá thực trạng tác động của các hoạt động du lịch đến môi trường tại huyện Văng Viêng, tỉnh Viêng Chăn, Lào và đề xuất một số giải pháp định hướng phát triển các loại hình du lịch bền vững tại huyện Văng Viêng, Lào.Đây là kinh nghiệm có thể góp phần vào đánh giá tác động tại các huyện vùng nông thôn của Việt Nam, đặc biệt tại các huyện lấy du lịch thiên nhiên môi trường làm động lực cho phát triển kinh tế - xã hộinhư Ninh Bình, Bắc Kạn, Thái Nguyên...
Sức chịu tải môi trường du lịch của bản Lác và những vấn đề đặt ra đối với quản lý phát triển du lịch cộng đồng
Bản Lác, xã Chiềng Châu, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình là một trong những điểm du lịch cộng đồng nổi tiếng ở Việt Nam. Sự phát triển của hoạt động du lịch đã góp phần tạo việc làm và nâng cao đời sống của người dân địa phương. Hiện nay, lượng khách du lịch đến bản trung bình khoảng 20.000 lượt/ năm. Việc gia tăng các hoạt động du lịch tại bản đã gây ra nhiều hệ luỵ nhất định, đặc biệt sức ép đến môi trường tự nhiên và xã hội. Thông qua việc tính toán sức chịu tải môi trường ở bản Lác, bài báo đã chỉ ra các yếu tố đã quá tải trong phát triển du lịch ở bản Lác, đặc biệt vào những ngày cao điểm. Các kết quả này là căn cứ giúp các nhà quản lý đề ra các giải pháp về quản lý môi trường nói riêng và phát triển du lịch cộng đồng bền vững tại điểm du lịch này nói chung.
Tái sử dụng nước xám cho tưới: Một giải pháp cho vùng khan hiếm nước
Tổng quan về tiềm năng tái sử dụng nước xám thay thế nước cấp sinh hoạt cho tưới ở những vùng khan hiếm nước được tổng hợp từ các nghiên cứu về nước xám đã xuất bản trên các tạp chí chuyên ngành. Nội dung của nghiên cứu cho thấy, nước xám có tiềm năng sử dụng cho tưới trong vườn nhà ở hộ gia đình với lượng nước và chất lượng nước phù hợp. Tuy nhiên, để đảm bảo không ảnh hưởng đến môi trường đất trồng và an toàn, nước xám cần được xử lý sơ bộ trước khi tái sử dụng. Bài viết nghiên cứu và đề ra một số giải pháp trong thời gian tới nhằm giảm bớt những ảnh hưởng khan hiếm nước.
Triển khai nhiệm vụ lập quy hoạch tổng thể quan trắc môi trường quốc gia giai đoạn 2020 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050
Ngày 14/2/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 259/QĐ-TTg Về việc phê duyệt nhiệm vụ lập Quy hoạch tổng thể quan trắc môi trường (QTMT) quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Nhiệm vụ này sẽ được triển khai thực hiện trong thời gian 2 năm với sản phẩm là bản Quy hoạch tổng thể QTMT quốc gia được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Đây là một trong những văn bản quan trọng trong lĩnh vực quan trắc, môi trường góp phần hoàn thiện mạng lưới QTMT quốc gia trên cơ sở các mạng lưới quy hoạch đã được xây dựng trước đây; thực hiện bổ sung, cập nhật để phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội. Mạng lưới QTMT quốc gia được xây dựng trong quy hoạch sẽ nhằm góp phần định hướng cho các chương trình QTMT nhằm triển khai hoạt động quan trắc môi trường, cung cấp số liệu tổng thể hiện trạng môi trường quốc gia hiện nay.
Dự báo mức độ thiệt hại do sự cố xả nước thải các khu công nghiệp dọc sông Thị Vải và đề xuất giải pháp ứng phó
Sự cố môi trường do xả thải nước thải, đặc biệt xảy ra ở khu vực ven biển đang ngày càng trở thành một vấn đề nghiêm trọng tại các nước có ngành kinh tế biển phát triển như Việt Nam. Sông Thị Vải - đoạn qua tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có chiều dài chỉ hơn 25 km, nhưng lại là nơi tập trung khá nhiều hoạt động công nghiệp, có phát sinh nước thải với tải lượng ô nhiễm lớn. Bài viết mô phỏng quá trình lan truyền ô nhiễm tại khu công nghiệp (KCN) Mỹ Xuân A2 và KCN Cái Mép bằng mô hình MIKE21 khi xảy ra sự cố của các trạm xử lý nước thải. Bằng phương pháp lượng hóa thiệt hại đã xác định phạm vi ô nhiễm và mức độ thiệt hại khi có sự cố, từ đó để xuất các giải pháp phòng ngừa và ứng phó thích hợp.
Nhãn các bon: Kinh nghiệm quốc tế và đề xuất áp dụng ở Việt Nam
Chương trình nhãn các bon đã được một số quốc gia trên thế giới triển khai từ năm 2006 với sự tham gia của nhiều doanh nghiệp sản xuất, đặc biệt là các hệ thống siêu thị ở châu Âu. Lợi ích của nhãn các bon cũng được nhiều nghiên cứu chỉ ra như hạn chế tình trạng “rò rỉ” hay “chuyển dịch” phát thải từ quốc gia này sang quốc gia khác; việc áp dụng cách tiếp cận đánh giá vòng đời sản phẩm (LCA) trong quá trình tính toán lượng phát thải các bon giúp tính toán đầy đủ lượng khí nhà kính (KNK) phát thải trong từng giai đoạn của sản phẩm (nguyên liệu thô, sản xuất, vận chuyển, tiêu dung, thải bỏ) và giúp cho doanh nghiệp biết được công đoạn nào phát thải nhiều (thường đi cùng với tiêu hao năng lượng), đề từ đó có các biện pháp cắt giảm phù hợp.
Nghiên cứu phân cấp mức độ nhạy cảm của tai biến trượt lở đất khu vực đảo Trà Bản, vịnh Bái Tử Long, tỉnh Quảng Ninh
Là phần ngăn cách với đất liền, đảo là khu vực luôn chịu các tác động lớn của tai biến thiên nhiên, đặc biệt là tai biến trượt lở đất trong bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH) ngày càng gia tăng. Trong nghiên cứu này, bằng phương pháp đánh giá tích hợp đa biến theo chỉ số độ nhạy cảm trượt lở đất (Landslide Susceptibility Index – LSI) trên cơ sở đánh giá các trọng số của các nhân tố (W), giá trị tỷ số tần suất (FR) và ma trận Saaty tác giả đã phân cấp mức độ nhạy cảm của tai biến trượt lở đất từ đó thành lập được các bản đồ tương ứng.
Phát huy vai trò thanh niên trong thực hiện tiêu chí môi trường, xây dựng nông thôn mới
Hiện nay, thanh niên chiếm 25,2% dân số cả nước, là lực lượng quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, BVMT và xây dựng nông thôn mới (NTM). Từ năm 2011, thực hiện phong trào “Tuổi trẻ chung tay xây dựng NTM” do Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phát động, với 6 nội dung, trong đó, xây dựng cảnh quan nông thôn là nội dung quan trọng đã được Đoàn thanh niên triển khai đạt nhiều kết quả nổi bật, với nhiều mô hình tiêu biểu, góp phần tích cực trong thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng NTM.
Mô hình xử lý nước thải sinh hoạt kết hợp tạo cảnh quan sinh thái tại thành phố Sông Công - Thái Nguyên
Hiện nay ở nước ta, phần lớn nước thải sinh hoạt ở các khu dân cư đô thị, ven đô và nông thôn đều chưa được xử lý đúng quy cách. Nước thải sinh hoạt, nước thải từ nhà vệ sinh chỉ được xử lý sơ bộ tại các bể tự hoại, chất lượng chưa đạt yêu cầu xả ra môi trường, gây ô nhiễm, lây lan bệnh tật, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng.
Kinh nghiệm thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
Đồng Nai có tổng diện tích tự nhiên hơn 5.900 km2, với dân số trên 3 triệu người trong đó hơn 60% dân cư sống vùng nông thôn, có 37 dân tộc và 10 tôn giáo. Tỉnh có 11 đơn vị hành chính cấp huyện (9 huyện, 2 thành phố); 171 đơn vị hành chính cấp xã (có 133 xã xây dựng nông thôn mới - NTM).
Vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong thực hiện tiêu chí môi trường góp phần xây dựng nông thôn mới
Trong những năm qua, Hội LHPN Việt Nam đã phối hợp với với các Bộ, ngành, địa phương vận động hội viên, phụ nữ chủ động, tích cực tham gia BVMT trong xây dựng nông thôn mới (NTM) với nhiều hoạt động thiết thực, hiệu quả.
Đánh giá diễn biến theo mùa của lắng đọng axit (lắng đọng ướt) tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Đánh giá xu thế thành phần trong khí quyển thông qua nghiên cứu những thay đổi trong thành phần hóa học của nước mưa là căn cứ quan trọng để đánh giá sự thay đổi của môi trường không khí. Bằng phương pháp kiểm nghiệm phi tham số Seasonal Mann-Kendal và áp dụng công thức tính toán của Mạng lưới giám sát lắng đọng axit Đông Á (EANET), thông qua số liệu quan trắc nước mưa của 23 trạm quan trắc môi trường không khí thuộc Tổng cục Khí tượng thủy văn để đánh giá diễn biến theo mùa, theo năm của lắng đọng axit ướt từ năm 2005 đến năm 2017, đánh giá cho ion NO3- và nss-SO42-.
Giữ rừng là điều kiện tiên quyết để phát triển du lịch tại Kon Tum
Phát triển lâm nghiệp theo hướng bền vững là một trong những nhiệm vụ trọng tâm đã được tỉnh Kon Tum xác định, tập trung các nguồn lực để thực hiện nhằm giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội gắn với đảm bảo quốc phòng - an ninh. Những năm qua, nỗ lực giữ rừng và khai thác, phát huy thế mạnh của rừng đã góp phần từng bước phát triển du lịch sinh thái, đưa du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn theo định hướng.
Một số kết quả và bài học kinh nghiệm từ việc thực hiện mô hình tuyên truyền viên bảo vệ môi trường trong xây dựng nông thôn mới
Thực hiện Quyết định số 712/QĐ-TTg ngày 26/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định số 2986/QĐ-BNN-VPĐP ngày 12/7/2017 của Bộ NN&PTNT về việc ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Đề án thí điểm hoàn thiện và nhân rộng mô hình BVMT trong xây dựng nông thôn mới (NTM) tại các xã khó khăn, biên giới, hải đảo theo hướng xã hội hóa giai đoạn 2017 - 2020, Trung ương Hội Cựu Chiến binh (CCB) Việt Nam được giao thực hiện Đề án thí điểm mô hình tuyên truyền viên (TTV) BVMT cấp xã trong xây dựng NTM. Từ năm 2018, Đề án được triển khai tại 3 tỉnh: Lạng Sơn, Hòa Bình, Sơn La và đến nay đã đạt được một số kết quả nổi bật, góp phần vào công cuộc BVMT, xây dựng NTM ở các địa phương.
Thu gom pin và rác thải điện tử vì một môi trường xanh
Trung bình mỗi năm, Việt Nam thải ra môi trường khoảng 90.000 tấn rác thải điện tử (RTĐT). Phần lớn, số RTĐT này được các cơ sở tư nhân khai thác, thu mua, tái chế thủ công, không đúng kỹ thuật, gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe người dân. Mặt khác, các cơ sở này chỉ tận thu một vài kim loại tái chế thành nguyên liệu, còn số lượng lớn các thành phần khác đều bị thải ra môi trường.
1 2 3 4 5 6 7 8 9 Trang tiếp theo

Thống kê

Lượt truy cập: 844823