--%>
Xây dựng chương trình khoa học và công nghệ thích ứng với biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đến năm 2025, tầm nhìn 2050
Biến đổi khí hậu (BĐKH) mà trước hết là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng, đã và đang là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại. Trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, việc xây dựng chương trình khoa học và công nghệ (KHCN) thích ứng với BĐKH là mục tiêu trọng tâm, ưu tiên hàng đầu cho giai đoạn 2015 - 2020.
Ứng dụng khoa học, công nghệ trong điều tra, đánh giá, cảnh báo nguy cơ tràn dầu trên biển nhằm mục tiêu phòng ngừa, ứng phó và khắc phục ô nhiễm môi trường
Trong bài viết này, các tác giả giới thiệu một số phương pháp phổ biến về điều tra, đánh giá, cảnh báo nguy cơ tràn dầu tại Việt Nam cùng với kết quả được ghi nhận trong điều kiện tại Việt Nam. Trên cơ sở đánh giá các kết quả này, các tác giả của bài viết đã đưa ra kiến nghị về việc lựa chọn phương pháp điều tra, đánh giá, cảnh báo sự cố tràn dầu (SCTD) phù hợp tại Việt Nam, bên cạnh đó, kiến nghị các cơ quan liên quan cần sớm nghiên cứu, ban hành các hướng dẫn kỹ thuật hỗ trợ cho các địa phương thực hiện công tác điều tra, đánh giá, ứng phó SCTD, đầu tư hệ thống quan trắc phát hiện SCTD cũng như triển khai diễn tập ứng phó SCTD trên biển và ven biển tại Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu công nghệ ủ hiếu khí thụ động bùn sinh học với chất độn cao su tại Bình Dương
Phương pháp ủ hiếu khí thụ động với chất độn là cao su phế thải được đề xuất áp dụng cho loại bùn sinh học không chứa các thành phần nguy hại, có hàm lượng hữu cơ cao và dinh dưỡng phù hợp, phát sinh từ các hệ thống xử lý nước thải đô thị, Khu/Cụm công nghiệp (K/CCN), ngành chế biến thực phẩm. Quy trình ủ đơn giản, dễ áp dụng, chi phí đầu tư và vận hành thấp, thực hiện ngay tại nơi phát sinh nên giảm chi phí vận chuyển và tiết kiệm chi phí phân bón cho cây xanh.
Diễn biến chất lượng nước tại các trạm quan trắc môi trường biển phía Nam trong 5 năm gần đây
Trạm quan trắc và phân tích môi trường biển miền Nam được thiết lập từ năm 1996 và hoạt động liên tục cho đến nay. Chất lượng nước biển ven bờ được quan trắc tại 3 vị trí thuộc vịnh Nha Trang (Khánh Hòa), vịnh Gành Rái (Bà Rịa - Vũng Tàu) và vịnh Rạch Giá (Kiên Giang), đây là những trạm được quan trắc liên tục theo tần suất 2 lần/năm kể từ năm 1996 đến nay. Các thông số môi trường quan trắc trong nước biển khá phong phú: các thông số cơ bản, các muối dinh dưỡng và hữu cơ, các kim loại nặng, dầu mỡ, chlorophyll-a, mật độ coliform...
Công nghệ xử lý bùn thải hệ thống thoát nước đô thị
Bùn thải hệ thống thoát nước đô thị có khối lượng lớn và thành phần phức tạp, dễ gây ô nhiễm môi trường trong quá trình vận chuyển và chôn lấp, đồng thời cũng là nguồn tài nguyên có thể tái sử dụng được. Kết quả nghiên cứu của đề tài MT13-09 đã đề xuất một số công nghệ xử lý và tái sử dụng phù hợp cho các loại bùn thải thu gom từ mạng lưới đường cống và công trình thoát nước đô thị.
Xử lý nước rỉ rác sau quá trình keo tụ và ôzôn bằng bùn hoạt tính theo mẻ (SBR)
Bài báo này trình bày kết quả thí nghiệm xử lý nước rỉ rác sau quá trình ôzôn hóa bằng quá trình bùn hoạt tính theo mẻ (SBR). Kết quả cho thấy, quá trình bùn hoạt tính theo mẻ (SBR) đã mang lại hiệu quả tương đối cao, khi kết hợp hai chu kỳ hiếu khí/thiếu khí trong hệ SBR đạt hiệu suất xử lý COD 59%. Amôni đã giảm đáng kể, sau xử lý amôni bằng SBR với chu kỳ hiếu khí/thiếu khí đạt 63%. Tuy nhiên, quá trình xử lý SBR này chưa xử lý được hoàn toàn amoni mà mới chỉ chuyển hóa amôni thành nitrat và nitrit. Sau quá trình xử lý, nồng độ nitrat và nitrit cao hơn so với trước xử lý. Kết quả cũng cho thấy tỉ lệ thời gian hiếu khí/thiếu khí (2:1 và 3:1) không có nhiều ảnh hưởng đến hiệu quả xử lý.
Sử dụng mô hình CMAQ đánh giá lắng đọng khô cho khu vực Việt Nam
Lắng đọng axit (bao gồm cả lắng đọng khô và lắng đọng ướt) được tạo thành trong điều kiện khí quyển bị ô nhiễm do sự phát thải quá mức các khí SO2, NOx, CO. Các khí này từ các nguồn thải sẽ ngưng tụ trong khí quyển và phản ứng với hơi nước và các chất khác có trong bầu khí quyển tạo ra các chất lỏng và khí có tính axit, khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ quay ngược trở lại bề mặt đất.
Hiện trạng ô nhiễm mùi từ một số ngành công nghiệp điển hình và đề xuất công nghệ xử lý
Ô nhiễm mùi là dạng ô nhiễm không khí rất phức tạp do mùi được tạo ra từ sự kết hợp hàng trăm hợp chất khác nhau ở nồng độ rất thấp. Ô nhiễm mùi được đặc biệt quan tâm vì đặc trưng mùi hôi của nó, khả năng tác động đến sức khỏe con người, và khả năng phát tán trên diện rất rộng.Việc xác định nguồn gốc và thành phần chất ô nhiễm là rất quan trọng để từ đó đề xuất các công nghệ xử lý phù hợp.
Ðánh giá thiệt hại tài nguyên rừng tại A Lưới do chất diệt cỏ của Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam
Từ kết quả nghiên cứu đề xuất phương pháp lượng giá thiệt hại tài nguyên rừng (cây gỗ) do CDC của Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam của Đề tài cấp Nhà nước thuộc chương trình 33/11-15.
Kết quả tận dụng bùn nước cấp làm gạch nung
Kết quả phân tích thành phần bùn phát sinh từ các nhà máy cấp nước tại tỉnh Bình Dương với nguồn nước sông cho thấy bùn có hàm lượng tương đương đất sét, do đó có thể tận dụng để sản xuất gạch nung. Bùn nước cấp với tỷ lệ thay thế đất sét đến 40% vẫn cho gạch đáp ứng Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 1450:2009 Gạch rỗng đất sét nung (M50) trong đó cường độ nén đạt 7,5MPa; độ hút nước 13,6%; cường độ uốn 1,9 MPa.
Phân tích chi phí - lợi ích khai thác điện gió khu vực Bạc Liêu
Hiện nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nguồn năng lượng nói chung đang ngày càng trở nên cấp thiết nhằm phục vụ hoạt động sống của con người. Những năm gần đây, thay vì sử dụng các nhiên liệu không tái tạo gây tác động tiêu cực cho môi trường, con người đang cố gắng chuyển sang khai thác và sử dụng nhiên liệu sạch như gió, mặt trời, nước…
Nghiên cứu xử lý COD khó phân hủy sinh học nước rỉ rác tại Khu xử lý chất thải rắn Bình Dương bằng quá trình Fenton dị thể sử dụng Fe trên chất mang than hoạt tính (Fe/AC) kết hợp đèn UV
Nghiên cứu này được thực hiện với mục đích nâng cao hiệu quả xử lý COD khó phân hủy sinh học nước rỉ rác (NRR) sau công trình xử lý sinh học nhằm tiếp tục xử lý để đạt quy chuẩn trước khi thải ra môi trường tại Khu xử lý chất thải rắn Bình Dương (KXLCTRBD).
Phương pháp lượng giá thiệt hại tài nguyên rừng do chất diệt cỏ của Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam
Trong những năm chiến tranh tại Việt Nam, quân đội Mỹ đã sử dụng một lượng lớn các chất diệt cỏ (CDC) gây hậu quả nghiêm trọng cho con người và môi trường
Các giải pháp ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm tích hợp cho ngành sản xuất tinh bột
Bài báo này áp dụng phương pháp luận kỹ thuật tốt nhất hiện có (BAT - Best Available Techniques) để đề xuất các giải pháp kiểm soát và ngăn ngừa ô nhiễm tích hợp cho ngành sản xuất tinh bột.
Ðánh giá khả năng xử lý nước thải sản xuất bún bằng tác nhân Fenton (FeSO4 và H2O2)
Nước thải của làng nghề Phú Đô xả thải trực tiếp vào hệ thống mương dẫn thẳng ra sông Nhuệ, gây ô nhiễm cho nguồn nước tưới tiêu và nước ngầm trong khu vực. Mục tiêu của nghiên cứu là áp dụng tác nhân Fenton để xử lý nước thải từ quá trình sản xuất bún trước khi xả ra môi trường.
Khả năng tích lũy chì, kẽm trong cây kèo nèo (limnocharis flava) ở giai đoạn trưởng thành
Cây kèo nèo (Limnocharis flava) được xem là thực vật siêu tích lũy kim loại (metal hyperaccumulator). Thí nghiệm gây ô nhiễm Zn, Pb trong đất trồng cây kèo nèo đang ở giai đoạn trưởng thành (2 tháng tuổi, trung bình có 5-7 lá, chiều cao 30,11- 30,68 cm), bao gồm công thức CT0 (đối chứng không bổ sung Zn, Pb), CT1 (80ppm Zn và 80ppm Pb) và CT2 (240ppm Zn và 240ppm Pb).
Nghiên cứu đề xuất giải pháp kiểm soát và ngăn ngừa ô nhiễm tích hợp (IPPC) phù hợp với điều kiện một số làng nghề ở đồng bằng sông Cửu Long
Nghiên cứu đề xuất và triển khai mô hình với tên gọi VACBNXT trên cơ sở khép kín các dòng vật chất và năng lượng của các yếu tố: Vườn (V) - Ao (A) - Chuồng (C) - Biogas/Compost (B) - Nhà (N) - Xưởng (X) - Trạm (T), áp dụng cho 3 làng nghề khác nhau ở khu vực ĐBSCL, có tận dụng tối đa các điều kiện tự nhiên sẵn có tại các làng nghề (V, A), cũng như đặc điểm mặt bằng dùng cho sinh hoạt gia đình (N) và sản xuất nghề (X).
Sử dụng ảnh Landsat đa thời nghiên cứu diễn biến đô thị hóa của thành phố Đà Nẵng phục vụ quy hoạch bảo vệ môi trường đô thị
TP. Đà Nẵng đang trong tiến trình xây dựng quy hoạch BVMT hướng tới hình ảnh TP “thân thiện với môi trường”. Nhằm xây dựng cơ sở khoa học phục vụ công tác quy hoạch môi trường TP, nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu xác định sự phát triển và biến động không gian của đô thị Đà Nẵng từ năm 1990 - 2015 sử dụng ảnh vệ tinh LANDSAT đa thời.
SỬ DỤNG ẢNH LANDSAT ÐA THỜI NGHIÊN CỨU DIỄN BIẾN ÐÔ THỊ HÓA CỦA THÀNH PHỐ ÐÀ NẴNG PHỤC VỤ QUY HOẠCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ÐÔ THỊ
TP. Đà Nẵng đang trong tiến trình xây dựng quy hoạch BVMT hướng tới hình ảnh TP “thân thiện với môi trường”. Nhằm xây dựng cơ sở khoa học phục vụ công tác quy hoạch môi trường TP, nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu xác định sự phát triển và biến động không gian của đô thị Đà Nẵng từ năm 1990 - 2015 sử dụng ảnh vệ tinh LANDSAT đa thời. Bằng phương pháp phân loại có kiểm định dựa vào bản đồ hiện trạng sử dụng đất của TP năm 2010, biến động không gian đô thị và các hợp phần của đô thị trong 6 quận nội thành qua thời gian đã được làm rõ
Một số đề xuất nhằm cải thiện hiệu quả tính toán chỉ số chất lượng nước sông
Thực tế cho thấy, để áp dụng có hiệu quả công cụ xác định chỉ số chất lượng nước sông (Water Quality Index- WQI) cần tiếp tục hoàn thiện và phát triên trong điều kiện cụ thể của mỗi dòng sông. Nghiên cứu đưa ra một số đề xuất cụ thể nhằm cải thiện hiệu quả tính toán chỉ số chất lượng nước sông WQI.
Dự báo biến động trầm tích tầng mặt đầm Thị Nại, tỉnh Bình Ðịnh theo kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng
Nằm trong khu vực trọng điểm kinh tế của Nam Trung bộ là Khu kinh tế (KKT) Nhơn Hội, đầm Thị Nại, tỉnh Bình Định có đặc điểm địa hình thuận lợi để xây dựng và mở rộng cảng biển và các ngành kinh tế biển khác. Trong đó, trầm tích tầng mặt của Đầm Thị Nại có vai trò quan trọng đối với sự tái tạo phân bố tài nguyên khoáng sản
Tác động của vận chuyển trầm tích đến tài nguyên thiên nhiên vùng đồng bằng sông Cửu Long
Trong những năm gần đây, việc phát triển các nguồn năng lượng thủy điện trên các chi lưu, dòng chính của sông Mê Công và phát triển cơ sở hạ tầng, kinh tế - xã hội của các nước tiểu vùng sông Mê Công đã làm thay đổi trầm tích gây tác động tiêu cực tới môi trường sinh thái và các tài nguyên của ĐBSCL. Vì vậy, sử dụng bền vững và BVMT đối với ĐBSCL là nhiệm vụ cần được đặt ra và ưu tiên hàng đầu.
Ðánh giá ảnh hưởng của sản xuất rau hữu cơ đến tính chất hóa học đất tại Thanh Xuân - Sóc Sơn - Hà Nội
Phương thức canh tác hiện nay với việc sử dụng nhiều phân bón hóa học và thuốc trừ sâu đã gây tác động xấu đến môi trường, đặc biệt là đất. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tính chất hóa học đất thay đổi tích cực khi chuyển từ mô hình sản xuất thông thường sang hình thức sản xuất hữu cơ như: Cải thiện hàm lượng chất hữu cơ, NPK dễ tiêu được tăng cường, chất lượng nông sản được đảm bảo…Do đó, nông nghiệp hữu cơ là mô hình cần được nhân rộng và phát triển trong thời gian tới.
Nghiên cứu, đề xuất cơ chế giải quyết tranh chấp môi trường ngoài tòa án ở Việt Nam
Trong thời gian qua, ở Việt Nam đã phát sinh nhiều vụ khiếu nại, tranh chấp về môi trường, điển hình như các vụ Vê-đan, Mi-won, Tung Kuang, Sonadezi, Nicotex Thanh Thái… Tuy nhiên, việc giải quyết, xử lý các tranh chấp môi trường (TCMT) còn mang nặng tính hành chính, dẫn đến trình trạng khiếu nại kéo dài, gây bức xúc trong nhân dân và khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Trên thế giới, do những bất cập về thủ tục xử lý như thu thập chứng cứ chứng minh thiệt hại nên nhiều nước đã sử dụng phương thức thương lượng, hòa giải để xử lý các TCMT thay cho giải quyết bằng Tòa án. Các hình thức xử lý này thường được gọi là “giải quyết tranh chấp lựa chọn” (ADR) hay là giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án. Trong khuôn khổ nghiên cứu của Viện Chiến lược, Chính sách TN&MT (ISPONRE) thực hiện năm 2013 với sự hỗ trợ của Quỹ châu Á, bài viết đề xuất cơ chế giải quyết TCMT ngoài Tòa án ở Việt Nam.
Nghiên cứu xây dựng tiêu chí và phương pháp đánh giá hàng hóa các bon thấp tại Việt Nam
Nghiên cứu nâng cao năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu trong cộng đồng ngư dân nghèo ven biển tỉnh Ninh Bình
Bài viết đánh giá tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) thông qua các hiện tượng: bão, nhiệt độ, xâm mặn và nước biển dâng đến nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, phân tích thực trạng thu nhập và sinh kế, chỉ ra các yếu tố làm giảm năng lực phát triển nghề thủy sản. Khuyến nghị giải pháp tích hợp đồng bộ thích ứng với BĐKH trên các phương diện giáo dục, truyền thông; bảo tồn ĐDSH biển; ứng phó với BĐKH trên phương diện tài chính; dịch vụ khuyến ngư, đào tạo nghề thủy sản; liên kết phòng ngừa rủi ro, hạn chế ảnh hưởng của BĐKH trong cộng đồng ngư dân nghèo ven biển tỉnh Ninh Bình.
Nghiên cứu thực trạng sơ chế cà phê tại lưu vực suối Bó Cá, tỉnh Sơn La
Nguồn nước từ lưu vực suối Bó Cá một phần cung cấp cho Công ty CP cấp nước Sơn La để sản xuất nước sinh hoạt cho khoảng 10.000 hộ gia đình sinh sống tại TP. Sơn La. Trong vài năm gần đây, nguồn nước này bị đe dọa nghiêm trọng bởi hoạt động sơ chế cà phê của người dân vùng đầu nguồn. Trong khuôn khổ bài báo này, nhóm tác giả đề cập đến thực trạng sơ chế cà phê tại lưu vực suối Bó Cá, tỉnh Sơn La.
Nghiên cứu nâng cao tốc độ phân hủy chất thải rắn trong điều kiện bãi chôn lấp bằng phương pháp tuần hoàn nước rỉ rác
Trong thập niên gần đây, tốc độ đô thị hóa phát triển nhanh kéo theo sự gia tăng mật độ dân cư ở các thành phố đã gây ra áp lực đối với hệ thống quản lý CTRSH. Với nhu cầu xử lý toàn bộ lượng CTRSH phát thải, nhiều công nghệ xử lý CTRSH đã được đưa vào vận hành.
Ảnh hưởng của mật rỉ đường lên quá trình khử nitơ sau vùng thiếu khí trong thùng phản ứng sinh học theo mẻ (SBR) quy mô phòng thí nghiệm
Hiện nay, nguồn các bon hữu cơ rất dồi dào, có thể được sử dụng làm cơ chất hạn chế cho quá trình khử hoàn toàn nitơ [1]. Bổ sung nguồn cácbon bên ngoài vào khu vực sau hoặc trước vùng thiếu khí cho phép tăng hiệu suất quá trình khử nitơ và có thể đáp ứng được tiêu chuẩn xử lý nước thải (XLNT) trong giai đoạn ngắn hạn và dài hạn.
Đánh giá hiện trạng và các chức năng hệ sinh thái của các vùng đất ngập nước đô thị (ao, hồ, đầm) tại phường Quảng An - Quận Tây Hồ, Hà Nội
Hà Nội được xây dựng trên địa hình đặc biệt bao quanh bởi sông Hồng, sông Tô Lịch và hồ Tây. Điều kiện thủy văn đã tạo nên nhiều vùng đát ngập nước(ĐNN) nhỏ như các hồ, ao, đầm, đầm lầy, các bãi bồi, nằm ven và trong đô thị Hà Nội.Những vùng ĐNN có vị trí rất quan trọng trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của Hà Nội
1 2 3 Trang tiếp theo

Thống kê

Lượt truy cập: 2186907