--%>
Nghiên cứu phương pháp xây dựng bộ tiêu chí và tính trọng số để xác định chỉ số đánh giá khu công nghiệp các bon thấp phù hợp với điều kiện Việt Nam
Nghiên cứu khả năng ứng dụng tro bay biến tính trong xử lý nước thải nhiễm đồng
Vật liệu hấp phụ được điều chế từ tro bay biến tính bằng phương pháp nung chảy-thủy nhiệt với NaOH. Sự thay đổi hình thái cấu trúc bề mặt của hạt tro bay sau biến tính được phân tích bằng phương pháp hiển vi điện tử quét (SEM). Khả năng hấp phụ ion Cu2+ trên tro bay biến tính được nghiên cứu bằng mô hình hấp phụ tĩnh. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng hấp phụ như thời gian, pH, nồng độ ban đầu của ion Cu2+ đã được khảo sát.Kết quả nghiên cứu cho thấy, khả năng hấp phụ ion Cu2+ trong nước của tro bay biến tính tăng lên rõ rệt so với mẫu tro bay thô ban đầu. Ở nồng độ ban đầu của ion Cu2+ là 50mg/L, hiệu suất hấp phụ sau khi biến tính của tro bay tăng từ 7.2% lên đến 90.2%. Hiệu quả hấp phụ Cu2+cao nhất ở giá trị pH 5÷6. Thời gian đạt cân bằng hấp phụ sau 90 phút. Khi tăng nồng độ ban đầu của dung dịch Cu2+ từ 20 mg/L đến 120 mg/L thì hiệu suất hấp phụ giảm từ 98.0% xuống 66.1%. Dung lượng hấp phụ ion Cu2+cực đại của tro bay biến tính theo mô hình đẳng nhiệt Langmuir đạt 16.4 mg/g.Kết quả nghiên cứu cho thấy triển vọng ứng dụng tro bay biến tính trong xử lý nước thải nhiễm đồng.
Tri thức địa phương về di sản địa chất - một số nghiên cứu bước đầu ở khu vực Công viên Địa chất Lý Sơn - Sa Huỳnh (Quảng Ngãi)
Tri thức địa phương về di sản địa chất là một bộ phận thiết yếu của tri thức địa phương nói chung, chủ yếu liên quan đến hiểu biết của người dân địa phương, được truyền từ đời này sang đời khác, về tự nhiên và sự tương tác giữa họ với tự nhiên. Đó là một bản ghi vô giá về sự thích nghi và sáng tạo của con người trước tự nhiên. Tri thức địa phương về di sản địa chất như một cửa sổ mở cho ta nhìn về quá khứ tiến hóa và biến động của Mẹ Trái đất - nền tảng cho hiện tại và định hướng cho tương lai.
Phát triển du lịch sinh thái Vườn quốc gia Bái Tử Long, tỉnh Quảng Ninh
Hiện nay, bên cạnh các nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và văn hóa phục vụ cho phát triển du lịch, Vườn quốc gia (VQG) đã trở thành một điểm đến hấp dẫn đối với khách du lịch trong nước và quốc tế. VQG là một khu vực đất, hay biển được bảo tồn bằng các quy định pháp luật của chính quyền sở tại. VQG được bảo vệ nghiêm ngặt khỏi sự khai thác, can thiệp của con người. VQG Bái Tử Long lưu giữ những đặc trưng của hệ sinh thái (HST) biển - đảo vùng Đông Bắc, môi trường, cảnh quan thiên nhiên hoang sơ kỳ thú, đó chính là những tiềm năng và lợi thể để phát triển du lịch sinh thái (DLST).
Nghiên cứu loại bỏ ion Mangan (Mn) bằng tảo Chlorella Vulgaris
Tảo Chlorella vulgaris (C.vulgaris) được xem là một trong những giải pháp sinh học mang lại hiệu quả cao trong việc loại bỏ kim loại nặng trong nước thải. Mangan(Mn) là một kim loại nặng phổ biến có thể gây ra vấn đề nghiêm trọng cho sức khỏe con người và hệ sinh thái. Do đó, nghiên cứu này đã được thực hiện để nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường khác nhau bao gồm mật độ tế bào ban đầu, nồng độ kim loại nặng ban đầu và pH đối với khả năng loại bỏ Mn của C.vulgaris. Kết quả thí nghiệm cho thấy, hiệu suất xử lý Mn của C. vulgaris đạt cao nhất 80% được ghi nhận từ môi trường có mật độ tế bào ở mật độ 10,5 x 106 tế bào/ml, nồng độ ion Mn ban đầu 35 mg/l và pH = 6.
Tri thức địa phương về di sản địa chất và vai trò của chúng đối với mô hình phát triển bền vững
Tri thức địa phương (TTĐP) là những hiểu biết, kiến thức truyền thống, kinh nghiệm dân gian về môi trường, cả tự nhiên và xã hội, của riêng một nền văn hóa, hoặc một cộng đồng, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác dưới hình thức truyền khẩu, hoặc các nghi lễ văn hóa, là nền tảng để duy trì các hoạt động thiết yếu của cộng đồng đó. Trong nghiên cứu này, sẽ trình bày khái quát về cách tiếp cận và vận dụng TTĐP trong phát triển bền vững (PTBV). Vai trò của TTĐP trong phương thức sống, quản lý tài nguyên bền vững và các mối quan hệ xã hội bền vững. Đặc biệt, TTĐP về di sản địa chất (DSĐC) vừa là đối tượng bảo tồn và phát huy giá trị, vừa là biện pháp nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, quảng bá, nâng cao nhận thức cộng đồng về khoa học Trái đất.
Nghiên cứu đánh giá áp lực của nước thải từ các cụm công nghiệp đến môi trường nước mặt ở thành phố Bắc Ninh
Đánh giá hiệu quả ủ kỵ khí một giai đoạn và hai giai đoạn trong xử lý chất thải rắn hữu cơ bằng thực nghiệm
Lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) ở Việt Nam cũng như trên thế giới đang ngày càng gia tăng, tạo áp lực môi trường cho các đô thị nếu không được xử lý, tuy nhiên cũng là một nguồn tài nguyên dồi dào. Hiện nay, xu hướng xử lý CTR trên thế giới là giảm tỷ lệ chôn lấp, tăng tỷ lệ tái chế và ủ sinh học. Nhiều nhà máy xử lý CTRSH bằng phương pháp kỵ khí ở các nước châu Âu và các khu vực khác đã được xây dựng. Phương pháp ủ sinh học kỵ khí phù hợp với điều kiện Việt Nam vì thành phần CTR hữu cơ chiếm tỷ lệ cao trong CTRSH. Điều kiện khí hậu Việt Nam có độ ẩm cao nên phù hợp với các quá trình ủ sinh học. Chi phí xử lý bằng công nghệ ủ sinh học khá thấp so với các công nghệ khác, đồng thời giảm được lượng CTR cần chôn lấp và lượng khí nhà kính gây biến đổi khí hậu, tạo được sản phẩm mùn hữu cơ tốt cho đất, thu hồi được sản phẩm khí có giá trị cao.
Nghiên cứu đánh giá sự cố tại các trạm xử lý nước thải khu đô thị du lịch biển Cần Giờ
Lợi ích kinh tế của việc cải thiện chất lượng không khí đô thị từ góc nhìn của người dân Hà Nội
Mô hình thu phí chất thải rắn dựa trên lượng thải - Kinh nghiệm từ Hàn Quốc
Đối với bất kỳ một hệ thống quản lý chất thải rắn (CTR) nào thì phí chất thải là một hợp phần rất quan trọng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp các khoản thu phí không được chú ý và đôi khi việc áp dụng phí CTR không tạo ra được hiệu quả quản lý như mong muốn. Phí chất thải không chỉ là vấn đề tài chính của một hệ thống mà còn tạo chức năng khuyến khích kinh tế nhằm định hướng người xả rác có những sự thay đổi trong hành vi, để hướng tới thải những chất thải với thành phần và khối lượng phù hợp. Một trong những mô hình thu phí chất thải được các nước triển khai để đạt được mục đích kép trên đó là mô hình thu phí CTR dựa trên lượng thải.
Dự báo mức độ ảnh hưởng do hoạt động chế biến thủy sản tập trung trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Hoạt động đánh bắt và chế biến hải sản là một trong những mũi nhọn phát triển kinh tế của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, tuy nhiên đây cũng là điểm nóng về môi trường cần tập trung giải quyết. Bài viết dự báo mức độ ô nhiễm và thiệt hại khu vực chế biến hải sản tập trung đã được quy hoạch tại Bình Châu, Lộc An, Long Điền và cụm chế biến Tân Hải, nơi đã từng xảy ra sự cố làm chết cá hàng loạt trên sông Chà Và.
Đề xuất trình tự xác định khu vực nhận chìm chất nạo vét ở biển Việt Nam – Bài học kinh nghiệm tại một số nước trên thế giới
Việc xác định khu vực nhận chìm chất nạo vét ở biển là đảm bảo sử dụng lâu bền khu vực biển theo chức năng, để hài hòa lợi ích của các ngành/người sử dụng tài nguyên vùng biển, trong khi vẫn đảm bảo các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững. Việc xác định khu vực biển nhằm cung cấp lộ trình và cơ chế để thực hiện các kế hoạch, chương trình hành động phát triển biển một cách hiệu quả, đồng thời tăng cường sự phối hợp của các bên liên quan trong quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên và BVMT.
Đánh giá mức độ ô nhiễm của các khí thải độc hại trong khu vực không gian ven đường giao thông
Bài báo thực hiện tính toán và đánh giá mức độ phân tán của các chất khí thải tại khu vực ven đường từ các số liệu quan sát thu được. Đề xuất phương pháp đánh giá mức độ ô nhiễm không khí trong khí quyển do các phương tiện giao thông thải ra tại các khoảng cách khác nhau tính từ mép đường ô tô ở mức 1,5 m từ bề mặt đất. Đồng thời, đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu mức độ ô nhiễm của khí thải độc hại tại khu vực không gian ven đường giao thông
Đánh giá chất lượng nước sông Đáy đoạn qua thành phố Hà Nội trong bốn tháng đầu năm 2020
Hiện trạng và giải pháp cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường ở xã Hương Vinh, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế
Trong những năm qua, Xã Hương Vinh, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế đã có những bước phát triển nhanh về kinh tế - xã hội, đời sống nhân dân được cải thiện, tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số vấn đề về môi trường. Do tập quán sinh hoạt và sản xuất còn lạc hậu, việc sử dụng nhà tiêu chưa hợp lý đã làm cho môi trường ngày càng bị ô nhiễm. Tình trạng vệ sinh môi trường (VSMT) kém là nguyên nhân gây ra những hậu quả nặng nề về sức khỏe đối với người dân. Vì vậy, Đề tài “Hiện trạng và giải pháp cải thiện điều kiện VSMT ở xã Hương Vinh, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế” nhằm đưa ra bức tranh tổng quan về điều kiện VSMT và đề xuất các giải pháp nhằm góp phần cải thiện điều kiện VSMT cho khu vực nghiên cứu.
Xác định giá trị TLM đối với cá rô phi để đánh giá mức độ độc hại của nước thải làng nghề tái chế giấy Phong Khê và dệt nhuộm Tương Giang, Bắc Ninh
Nghiên cứu xác định giá trị TLm (Lượng độc chất gây chết 50% sinh vật thí nghiệm sau một khoảng thời gian phơi nhiễm nhất định) để đánh giá mức độ độc hại của nước thải (Áp dụng cụ thể đối với cá cá rô phi phơi nhiễm nước thải làng nghề tái chế giấy Phong Khê và dệt nhuộm Tương Giang, Bắc Ninh) được thực hiện theo các quy định của phương pháp độc học. Trên quan điểm là cần thiết xem xét để thực hiện phối hợp phương pháp độc học xác định giá trị TLm với các phương pháp/ công cụ truyền thống (QCVN 40 BTNMT/ 2011, mô hình chất lượng nước, chỉ số WQI). Để đánh giá mức độ ô nhiễm nước thải nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát các nguồn thải hiệu quả, nghiên cứu đưa ra các nhận định như: Nước thải làng nghề tái chế giấy Phong Khê và dệt nhuộm Tương Giang, Bắc Ninh bị ô nhiễm trong tất cả các mức độ pha loãng 10%, 25%, 50%, 75% và 100% nước thải; Giá trị Tlm 96 h nước thải làng dệt nhuộm Tương Giang là 36,1 %, Giá trị Tlm 96 h nước thải làng nghề tái chế giấy Phong Khê là 55 %. Thông qua giá trị Tlm 96 h cho thấy, nước thải dệt nhuộm Tương Giang có độ độc với cá rô phi cao hơn so với nước thải làng nghề tái chế giấy Phong Khê.
Đánh giá tiềm năng tái sử dụng nước thải cho nhà máy sản xuất tinh bột khoai mì Xuân Hồng phục vụ mô hình cộng sinh công - nông nghiệp theo hướng sinh thái
Phương án tái sử dụng nước thải dựa trên sự tích hợp các giải pháp kỹ thuật tái sử dụng bền vững, tạo nên sự gắn kết giữa công – nông nghiệp địa phương. Phương án đề xuất được áp dụng cho Nhà máy sản xuất tinh bột khoai mì điển hình tại tỉnh Tây Ninh. Kết quả cho thấy lượng nước ngầm khai thác tại Nhà máy giảm 40% so với phương án cơ sở, nước thải sau xử lý được trữ tại ao sinh học để phục tưới tiêu cho hàng trăm ha nông nghiệp. Nước thải sau Biogas được pha loãng theo tỷ lệ đối với cây mì là 28 lít nước thải/49 lít nước sạch, cao su là 8,5lít nước thải/7 lít nước sạch và mãng cầu là 20 lít nước thải/20 lít nước sạch để phun như một loại phân bón lá tự nhiên, hạn chế sử dụng các loại phân NPK hóa học. Một số chỉ tiêu trong nước thải sau xử lý phù hợp cho sự phát triển của cây trồng. Ngoài ra, nước thải sản xuất có nồng độ cyanua cao cũng được cân nhắc để pha loãng theo những tỷ lệ nhất định làm thuốc diệt côn trùng tự nhiên. Tuy nhiên, để các giải pháp này đi vào thực tiễn cần có chính sách hỗ trợ để thực hiện.
Thực trạng giải quyết, khắc phục sự cố môi trường liên tỉnh ở một số tỉnh, thành phố và đề xuất giải pháp
Bài viết đánh giá thực trạng giải quyết, khắc phục sự cố môi trường (SCMT) liên vùng/liên tỉnh ở một số tỉnh/thành trong thời gian qua để đề xuất một số giải pháp. Qua kết quả điều tra, SCMT liên tỉnh (từ 2 tỉnh trở lên) trong 10 năm trở lại đây ngày càng gia tăng. Hầu hết các SCMT liên tỉnh xảy ra đều được các cơ quan Trung ương chủ trì giải quyết, tuy nhiên vẫn còn một vài SCMT chưa được giải quyết kịp thời (các tỉnh/thành tự phối hợp giải quyết). Nguyên nhân do quy định trách nhiệm Bộ, ngành, địa phương trong giải quyết SCMT liên tỉnh còn chung chung; Thiếu hướng dẫn quy trình và quy chế phối hợp. Trên cơ sở đó, một số giải pháp được đề xuất là: Xây dựng về cơ chế giải quyết, khắc phục SCMT liên tỉnh; Ban hành Quy chế phối hợp giải quyết SCMT liên tỉnh; Xây dựng Hướng dẫn giải quyết, khắc phục SCMT liên tỉnh; Lập Quỹ giải quyết, khắc phục SCMT liên tỉnh và cơ chế tài chính; Đầu tư hệ thống quan trắc, giám sát SCMT liên tỉnh…
Giáo dục môi trường cho sự phát triển bền vững các cộng đồng dân tộc thiểu số ở huyện Simacai, tỉnh Lào Cai
Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá các vấn đề môi trường, nhận thức về môi trường và ảnh hưởng của môi trường đến sinh kế của họ ở huyện Simacai, tỉnh Lào Cai. Kết quả nghiên cứu cho thấy, đã xuất hiện nhiều vấn đề môi trường khá nghiêm trọng và diễn biến phức tạp ở các vùng dân tộc thiểu số như suy thoái rừng, thoái hóa đất và nước. Đặc biệt, những vấn đề cấp bách nổi lên trong những năm gần đây là ô nhiễm môi trường do quản lý chăn nuôi và chất thải sinh hoạt, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp. Nghiên cứu cũng đề cập đến nhận thức và những hành vi môi trường của người Mông và nhu cầu giáo dục môi trường cho cộng đồng dân tộc thiểu số ở Lào Cai nói riêng và vùng núi phía Bắc nói chung. Từ đó, đề xuất khung tiếp cận trong giáo dục môi trường cho phát triển bền vững với nguyên tắc lấy con người làm trung tâm, kết hợp giữa kiến ​​thức khoa học và kiến thức bản địa phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội (KT-XH) của người dân tộc thiểu số, thúc đẩy trách nhiệm của các tổ chức xã hội và vai trò của người có uy tín trong cộng đồng.
Giải pháp quản lý, tái chế và sử dụng chất thải rắn của Tổng Công ty Thép Việt Nam
Tổng Công ty Thép Việt Nam - CTCP (TCT Thép) là một trong những doanh nghiệp hàng đầu của ngành thép Việt Nam, hoạt động trong các lĩnh vực: Khai thác quặng sắt, than mỡ và mỏ nguyên liệu khác cho sản xuất gang, thép; Sản xuất và kinh doanh gang, thép, vật liệu chịu lửa, thiết bị luyện kim, sản phẩm thép cán (thép thanh, dây, thép tấm, tôn mạ mầu) và vật liệu xây dựng (gạch ốp lát, gạch granit); Tư vấn thiết kế, chế tạo, thi công xây lắp các công trình sản xuất thép, các công trình công nghiệp và dân dụng… Bằng những nỗ lực không ngừng trong 60 năm qua (1960-2020), TCT Thép đã đạt nhiều kết quả trong khai thác, tuyển, chế biến khoáng sản (quặng sắt, than mỡ luyện Cốc, nguyên liệu mỏ trợ dung khác), sản xuất đủ gang, thép cho nhu cầu của Việt Nam và BVMT một cách bền vững.
Nghiên cứu thu nhận nano CaCO3 từ chất thải thạch cao phốt pho nhà máy phân bón DAP
Nghiên cứu đã sử dụng chất thải thạch cao phốt pho (PG) quá trình phân huỷ quặng apatit của nhà máy phân bón DAP, bã thải PG qua công đoạn loại bỏ photpho đồng kết tủa, photpho hoà tan và các tạp chất với tác nhân axit axit sulfuric 10%, phản ứng tỷ lệ L/R là 3, rửa nước và phản ứng với NaOH, sục khí CO2thu nhận nano CaCO3. Phản ứng chuyển hóa PGđãloại bỏ tạp chất thành nano CaCO3 được thực hiện với tỷ lệ NaOH/thạch cao sạchđã xử lý là 0,429 (kl/kl), thời gian khuấy 3giờ, tốc độ khuấy 350 vòng/phút ở nhiệt độ phòng, sục khí CO2 tiếp 2,58 phút, tốc độ sục khí 40ml/phút ở 1atm, nghiên cứu đã thu nhậnở quy mô phòng thí nghiệm nanoCaCO3kích thước cỡ50 nm bằng hiển vi điện tử quét và phù hợp với xác định kích thước tinh thể đạt51,9 nm theo phương pháp nhiễu xạ tia Xmở ra triển vọng tái sử dụng bã thải thạch cao cho nhiều mục đích khác nhau đem lại hiệu quả kinh tế và môi trường
Xây dựng mô hình ủ kị khí thành phân hữu cơ trong chất thải rắn sinh hoạt
Lượng chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam cũng như trên thế giới đang tăng lên nhanh chóng, tạo áp lực môi trường cho các đô thị nếu không xử lý tốt nhưng cũng là một nguồn tài nguyên rất dồi dào nếu tận dụng tốt. Xu hướng xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên thế giới hiện nay là giảm tỉ lệ chôn lấp, tăng tỷ lệ tái chế và ủ sinh học.Hàng loạt các nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt bằng phương pháp kị khíở các nước Châu Âu và các khu vực khác đã được xây dựng. Phương pháp ủ sinh học kị khí phù hợp với điều kiện Việt Nam vì: Thành phần CTR hữu cơ chiếm tỷ lệ cao trong CTRSH tại Việt Nam; Điều kiện khí hậu Việt nam có độ ẩm cao nên phù hợp với các quá trình ủ sinh học; Chi phí xử lý bằng công nghệ ủ sinh học khá thấp so với các công nghệ khác; Giảm được lượng CTR cần chôn lấp; Giảm được lượng khí nhà kính gây biến đổi khí hậu; Tạo được sản phẩm mùn hữu cơ tốt cho đất; Thu hồi được sản phẩm khí có giá trị cao.
Đánh giá chất lượng nguồn sử dụng và chất lượng nước ngọt phục vụ nhu cầu của người dân tại ba xã đảo (Việt Hải, Nhơn Châu, Nam Du)
Xu thế khai thác cạn kiệt các nguồn nước ngọt (bao gồm nước ngầm và nước mặt) để phát triển kinh tế hiện tại của các xã đảo là vấn đề đáng báo động. Chính vì vậy trong khuôn khổ bài viết, nhóm tác giả đưa ra một số đánh giá trữ lượng nguồn nước và chất lượng nước ngọt tại ba xã đảo là xã Việt Hải (huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng), xã Nhơn Châu (thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định) và xã Nam Du (huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang).
Giải pháp xây dựng bể tự hoại hộ gia đình để phòng ngừa ô nhiễm nước dưới đất trên địa bàn tỉnh Phú Yên
Bài viết trình bày thực trạng các loại bể tự hoại hộ gia đình đã, đang xây dựng phổ biến ở tỉnh Phú Yên. Nhìn chung, bể tự hoại phổ biến nhất là loại bể 3 ngăn, gồm 1 ngăn chứa và 2 ngăn lắng. Nhóm tác giả đã phân tích những ưu và nhược điểm của bể tự hoại 3 ngăn, từ đó đề xuất giải pháp đấu nối hiệu quả nước thải của bể tự hoại 3 ngăn vào hệ thống thu gom nước thải tập trung. Đặc biệt, bài viết đề xuất giải pháp xây dựng một dạng bể tự hoại mới ở những khu dân cư đang chờ đấu nối vào hệ thống thu gom nước thải tập trung nhằm phòng ngừa ô nhiễm nước dưới đất và thuận lợi đấu nối trong tương lai.
Nghiên cứu thái độ của người dân thành phố Hạ Long đối với việc sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần
Ô nhiễm chất thải nhựa (CTN) ở biển là một trong những đe dọa lớn nhất của đại dương thế giới, đã và đang phá hoại các hoạt động kinh tế - xã hội tại các vùng biển và vùng bờ biển. Vấn đề giảm thiểu ô nhiễm môi trường do CTN rất khó được thực hiện bằng cách thay thế các sản phẩm nhựa (SPN) dùng một lần, mà phải nghiên cứu giải pháp để người dân giảm thiểu sử dụng, tái sử dụng, tái chế và sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường. Để mô hình này hiệu quả, cần phải nghiên cứu, xây dựng các giải pháp tuyên truyền nhằm thay đổi thái độ của người dân đối với việc sử dụng các SPN dùng một lần.
Đánh giá hiệu quả xử lý nước thải chăn nuôi sau biogas quy mô hộ gia đình khu vực đồng bằng sông Cửu Long bằng phương pháp hấp phụ biochar kết hợp oxy hóa bậc cao (ozon)
Bài viết đánh giá hiệu quả xử lý nước thải chăn nuôi sau biogas dành cho hộ nông dân có sinh kế là chăn nuôi bò ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Công nghệ được đề xuất trong nghiên cứu là kết hợp giữa phương pháp hấp phụ than sinh học (biochar được sản xuất từ rác vườn của hộ dân) với phương pháp oxy hóa bậc cao (khử trùng bằng ozon). Công nghệ được áp dụng cho hộ ông Nguyễn Văn Hai (nuôi bò) tại xã Lê Trì, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang và hộ bà Huỳnh Thị Tốt (nuôi heo) ở xã Bình Phước Xuân, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang với quy trình nước thải chuồng trại được xử lý sơ bộ bằng hệ thống biogas, sau đó được dẫn qua ngăn lọc với vật liệu lọc là biochar, tiếp theo cho qua bể chứa có bố trí hệ thống sục khí ozon và cuối cùng sau xử lý được lưu chứa trong ao thực vật thủy sinh để dùng cho việc tưới cây trồng.
Đánh giá mức độ ô nhiễm bụi mịn (PM10 và PM2,5) trong nhà tại các căn hộ ở Hà Nội
Kể từ cuộc cách mạng công nghiệp, các hoạt động của con người đã làm tăng đáng kể nồng độ các chất khí gây ô nhiễm trong không khí và bụi mịn (PM2,5, PM10) ở cả khu vực thành thị và nông thôn. Các nghiên cứu dịch tễ học đã chỉ ra rằng PM2.5 và PM10 có ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe con người, bao gồm cả tử vong sớm. Kết quả đo lường bụi PM2,5 và bụi PM10 bên trong nhà tại các căn hộ chung cư của nghiên cứu này cho thấy sự tương quan giữa nồng độ bụi trong nhà, hoạt động hàng ngày và chất lượng không khí ngoài nhà. Ngoài ra vị trí căn hộ theo chiều cao và giải pháp thông gió cũng ảnh hưởng đến nồng độ bụi PM2,5 và PM10 trong phòng. Nồng độ bụi PM2,5 trong các phòng đều vượt so với quy định của Tiêu chuẩn ASHREA và Singapore từ 1,5 đến 2,4 lần. Nồng độ bụi PM10 nằm trong khoảng chấp nhận được.
Dự báo ảnh hưởng đến môi trường do hoạt động nuôi trồng thủy sản tập trung ở Cần Giờ
Trong những năm gần đây, hoạt động nuôi trồng thủy sản (NTTS) ở TP. Hồ Chí Minh ngày càng tăng, nhất là ở khu vực Cần Giờ do kết hợp được lợi thế rừng ngập mặn (RNM) tự nhiên. Bên cạnh các lợi ích kinh tế mang lại, việc NTTS có nguy cơ làm ảnh hưởng đến nguồn nước và hệ sinh thái. Bài viết này trình bày kết quả dự báo ảnh hưởng của hoạt động nuôi tôm tập trung tại 4 vùng quy hoạch thuộc huyện Cần Giờ là Tam Thôn Hiệp, Bình Khánh, An Thới Đông, Lý Nhơn, thông qua việc sử dụng mô hình MIKE21. Kết quả cho thấy, nếu không được kiểm soát tốt, thì hoạt động NTTS có thể ảnh hưởng xấu đến chất lượng nước của 2 lưu vực sông Đồng Tranh và Lòng Tàu.
Đánh giá dòng nước thải và hiện trạng xử lý tại một số cơ sở chăn nuôi lợn
Nước thải chăn nuôi (NTCN) thường chứa nhiều thành phần ô nhiễm đã và đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường. Thực tế cho thấy, NTCN phát sinh với lưu lượng lớn, hàm lượng các chất ô nhiễm cao, đặc biệt là thành phần chất hữu cơ. Ngoài ra, ở nhiều hiện NTCN cũng chưa được xử lý đầy đủ và hiệu quả.
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Trang tiếp theo

Thống kê

Lượt truy cập: 2095983