--%>

TÓM TẮT

    Lũ quét là một trong những thiên tai thường xảy ra tại khu vực có độ dốc cao và lượng mưa lớn trong thời gian ngắn. Huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang là khu vực có địa hình phức tạp, bị chia cắt mạnh với độ cao khoảng từ 1.000 - 2.000 m, nên có nguy cơ cao xảy ra lũ quét. Việc nghiên cứu các khu vực có nguy cơ cao xảy ra lũ quét nhằm bổ sung cơ sở và căn cứ, phục vụ việc ra quyết định của chính quyền, đồng thời, giảm thiểu tác động đến kinh tế - xã hội (KT - XH) tại địa phương.

Từ khóa: Lũ quét, bản đồ cảnh báo, GIS.

1. Đặt vấn đề

    Theo thống kê của Tổng cục Khí tượng Thủy văn (Bộ TN&MT), các tỉnh thường xảy ra lũ quét nhất ở Việt Nam như: Yên Bái, Sơn La, Lào Cai, Hà Giang... Với đặc điểm của một huyện vùng núi cao, Hoàng Su Phì là một trong những huyện của tỉnh Hà Giang có nguy cơ cao xảy ra lũ quét. Trong những năm qua, thiệt hại do lũ quét đến KT - XH tại địa phương không nhỏ, do vậy, việc nghiên cứu xây dựng bản đồ cảnh báo các khu vực có nguy cơ xảy ra lũ quét trên địa bàn huyện là cần thiết đối với địa phương. Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu chính là phân vùng được các khu vực có nguy cơ xảy ra lũ quét tại huyện Hoàng Su Phì, từ đó, xây dựng các giải pháp cảnh báo để giảm thiểu thiệt hại về người và tài sản do lũ quét gây ra.

2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu số liệu

2.1. Số liệu

     Để có được cái nhìn tổng quan, tác giả đã thu thập các số liệu của bài báo từ nguồn tài liệu sơ cấp và thứ cấp.

- Tài liệu sơ cấp: Tác giả đã thu thập các số liệu sơ cấp về đặc điểm điều kiện tự nhiên, KT - XH, các thiệt hại, tần suất xảy ra lũ bằng cách điều tra ngẫu nhiên 70 hộ dân tại các khu vực đã từng xảy ra lũ, nhằm đánh giá tần suất, mức độ thiệt hại, cũng như khả năng phòng chống và ứng phó với lũ quét của người dân địa phương.

 - Tài liệu thứ cấp: Để có được số liệu thứ cấp, tác giả tiến hành thu thập các dữ liệu bản đồ thành phần tại địa bàn nghiên cứu, tài liệu, số liệu trong các bài báo và nghiên cứu khoa học đã được công bố.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Phương pháp phân tích thứ bậc AHP

    AHP là phương pháp kết hợp cả định tính và định lượng. Định tính qua sự sắp xếp thứ bậc và định lượng qua sự đánh giá bằng các con số, từ đó, có thể sử dụng để mô tả nhận định của con người về cả các vấn đề khác nhau.

    Phương pháp phân tích thứ bậc AHP được thực hiện dựa vào 3 nguyên tắc: Một là, phân tích vấn đề ra quyết định (thiết lập thứ bậc): Xác định các chỉ tiêu cho một vấn đề cụ thể, loại bỏ những chỉ tiêu không cần thiết. Hai là, so sánh các thành phần: Xác định chỉ tiêu quan trọng bằng cách cho điểm trọng số cho từng cặp chỉ tiêu. Ba là, tổng hợp các mức độ ưu tiên: Xác định chỉ tiêu quan trọng nhất và sắp xếp theo mức độ quan trọng cho các chỉ tiêu còn lại dựa vào điểm trọng số đã cho. Mục đích quan trọng nhất khi tác giả sử dụng phương pháp AHP là để xác định trọng số cho các yếu tố thành phần xem yếu tố nào đóng vai trò quan trọng nhất, được gắn điểm trọng số cao nhất. Đó cũng chính là yếu tố tác động nhiều nhất tới đối tượng nghiên cứu, cụ thể là quá trình hình thành lũ quét.

    Quá trình thực hiện phương pháp AHP cũng là để trả lời cho câu hỏi: Giả sử ta có Xn các yếu tố, xét mức độ quan trọng từ yếu tố X1, thì X1 có lợi hơn, đóng góp nhiều hơn, quan trọng hơn… so với X2, X3... Xn bao nhiêu lần?

    Để tính toán được mức độ ưu tiên của Xn các chỉ tiêu được đặt ra, giả định một ma trận có cấu trúc như sau:

 

 

X1

X2

 

Xn

X1

a11

a21

a1n

X2

a21

a22

a2n

 

Xn

an1

an2

ann

 

   

Nguyên tắc chính của phương pháp này là xác định mức độ quan trọng của các yếu tố dựa vào việc so sánh các yếu tố đó theo cặp. Để điền vào ma trận trọng số, tác giả dựa vào thang đánh giá mức độ so sánh từ 1 - 9 theo nghiên cứu của Thomas L. Saaty, năm 2000 [1].

2.2.2. Phương pháp chồng xếp bản đồ và GIS

    Tác giả sử dụng GIS trong việc chồng xếp các bản đồ thành phần để tạo ra bản đồ cảnh báo nguy cơ xảy ra lũ quét tại huyện Hoàng Su Phì,các lớp bản đồ được sử dụng bao gồm: Bản đồ lượng mưa; Bản đồ độ dốc; Bản đồ thổ nhưỡng; Bản đồ thảm phủ thực vật; Bản đồ mật độ sông suối

    Các công cụ được sử dụng để thành lập bản đồ như: Analysis Tools, Spatial Analyst Tools, Data Management Tools, Conversion Tools.

3. Kết quả nghiên cứu

3.1. Hiện trạng và nguyên nhân xảy ra lũ quét

    Theo thống kê từ 2010 - 2017, trên địa bàn huyện Hoàng Su Phì đã xảy ra 9 trận lũ quét lớn, gây thiệt hại lớn về cả tính mạng và tài sản của người dân trong khu vực. Đặc biệt là trong trận lũ quét tại thôn Nắm Nan, xã Bản Nhùng vào tháng 7/2016, làm cho hai người tử vong; trận lũ quét tại thôn Thiêng Rầy, xã Nàng Đôn, cả 5 người trong một gia đình thiệt mạng. Các trận lũ quét xảy ra đều gây hư hỏng về nhà cửa, thiệt hại về hoa màu và gia súc cho người dân, ước tính tổng thiệt hại hàng năm lên đến hàng trăm triệu đồng [2].

    Hai nguyên nhân chính gây ra hiện tượng lũ quét tại huyện Hoàng Su Phì là: Thứ nhất, do đặc điểm tự nhiên tại khu vực, với đặc trưng phần lớn là địa hình đồi núi, độ dốc từ 800 - 1.000 m, khí hậu chia thành 2 mùa rõ rệt, lượng mưa ngày lớn nhất lên đến 450 mm, huyện lại nằm ở khu vực thượng nguồn sông Bạc và sông Chảy, mật độ sông suối dày thuộc khu vực có nguy cơ cao xảy ra lũ quét. Thứ hai, do tình trạng phá rừng làm nương rẫy của người dân, hoạt động khai thác rừng và khoáng sản trái phép tại các khu vực rừng đầu nguồn đã làm mất lớp phủ thực vật, tăng khả năng xảy ra lũ quét.

3.2. Xây dựng các bản đồ thành phần và  phân vùng các khu vực có nguy cơ xảy ra lũ quét

3.2.1. Xây dựng trọng số cho các yếu tố thành phần

    Bản đồ phân vùng lũ quét được chồng xếp từ 5 lớp bản đồ thành phần, các yếu tố thành phần có mức độ ảnh hưởng khác nhau tới quá trình hình thành lũ quét, do đó, việc xác định trọng số cho từng yếu tố thành phần là vô cùng quan trọng, ảnh hưởng lớn tới kết quả của quá trình chồng xếp. Việc thực hiện trọng số này tác giả dựa vào kết quả phỏng vấn ý kiến các chuyên gia, quá trình đi thực địa và các tài liệu thu thập được. Các chuyên gia tham gia phỏng vấn lấy ý kiến, bao gồm: TS. Phạm Văn Chiến (Trường Đại học Thủy Lợi, chuyên ngành Thủy Văn học); PGS.TS Trần Kim Châu (Trường Đại học Thủy Lợi, chuyên ngành Động lực học sông biển); TS. Trần Minh Dũng (Trường Đại học Thủy Lợi, chuyên ngành kỹ thuật môi trường).

 

Bảng 1. Ma trận trọng số

Các yếu tố

Lượng mưa

Độ dốc

Thổ nhưỡng

Thực phủ bề mặt

Mật độ sông suối

Lượng mưa

1

1

3

4

6

Độ dốc

1

1

2

3

5

Thổ nhưỡng

1/3

1/2

1

3

5

Thực phủ bề mặt

1/4

1/3

1/3

1

2

Mật độ sông suối

1/6

1/5

1/5

1/2

1

 

    Sau khi đưa ra bảng ma trận trọng số, tác giả tiến hành thiết lập ma trận tương đối và tính tỷ số nhất quán. Kết quả tính toán thu được tỷ số nhất quán CR = 0,022 < 0,1 nên các trọng số đưa ra được chấp nhận để sử dụng xây dựng bản đồ phân vùng nguy cơ lũ quét tại khu vực nghiên cứu.

3.2.2. Xây dựng bản đồ các yếu tố thành phần

  • Bản đồ độ dốc

    Độ dốc địa hình có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình hình thành lũ quét. Khu vực có độ dốc càng cao càng tăng nguy cơ xảy ra lũ quét, vận tốc lũ quét càng lớn, mức độ nguy hiểm và thiệt hại càng cao. Bản đồ độ dốc được xây dựng trên cơ sở mô hình số địa hình DTM, sử dụng dữ liệu nền địa lý tỷ lệ 1:10.000, kích thước pixel của mô hình số địa hình dạng raster không vượt quá 8 m x 8 m đối với khu vực trên bản đồ yêu cầu thể hiện đường bình độ cơ bản là 2,5 m.

 

Bảng 2. Phân cấp độ dốc  theo nguy cơ xảy ra lũ quét

TT

Độ dốc (độ)

Nguy cơ xảy ra lũ quét

Diện tích (km2)

Tỷ lệ (%)

1

0 - 3

Rất thấp

19,74

3.14

2

3 - 8

Thấp

78,33

12,45

3

8 - 15

Trung bình

154,08

24,49

4

15 - 25

Cao

198,31

31,53

5

25 - 82

Rất cao

178,54

28,

 

 

  • Bản đồ thảm phủ thực vật:

    Lớp  thảm phủ thực vật có tác dụng quan trọng trong việc giữ đất, tạo lớp cản, hạn chế tối đa thiệt hại do lũ quét gây ra. Do dó, những nơi có tỷ lệ lớp phủ thực vật càng lớn, càng ít nguy cơ xảy ra lũ quét và ngược lại, những khu vực càng thưa thớt cây cối, nguy cơ xảy ra lũ càng cao.

 

Bảng 3. Các loại thảm phủ  thực vật và nguy cơ xảy ra lũ quét

TT

Loại thảmphủ

Nguy cơ xảy ra lũ quét

Diện tích (km2)

1

Rừng

Rất thấp

302,26

2

Thực phủ chưa thành rừng

Thấp

133,74

3

Khu vực trồng cây nông nghiệp

Thấp

178,05

4

Khu vực dân

Trung bình

11,94

5

Đồng cỏ

Trung bình

0,02

6

Bãi bồi

Cao

0,06

7

Nước mặt

Rất cao

2.77

8

Đất trống

Rất cao

0,16

Tổng:

629,00

 

 

  • Bản đồ lượng mưa

    Lượng mưa chính là yếu tố quan trọng nhất tác động tới quá trình hình thành lũ quét tại huyện Hoàng Su Phì. Giá trị lượng mưa được tác giả sử dụng trong bảng phân cấp là lượng mưa ngày lớn nhất.

 

STT

Gía trị lượng mưa (mm)

Nguy cơ xảy ra lũ quét

1

<100

Rất thấp

2

100 - 200

Thấp

3

200 - 350

Trung bình

4

350 - 450

Cao

5

> 450

Rất cao

 

 

 

 

 

  • Bản đồ mật độ sông suối:

    Huyện Hoàng Su Phì có mật độ sông suối khá dày đặc. Khu vực có mật độ sông lớn hơn 2,5 km/km2 là nhiều nhất, tức là cứ 1 km2 trên thực tế thì sẽ có 2,5 km sông suối.

 

Bảng 5. Phân cấp giá trị mật độ sông suối theo nguy cơ xảy ra lũ quét

STT Gía trị mật độ sông suối (km/km2)

Nguy cơ xảy ra lũ quét

1

<1

Rất thấp

2

1 - 1,5

Thấp

3

1,5 - 2

Trung bình

4

2 - 2,5

Cao

5 > 2,5 Rất cao

 

 

 

 

 

 

 

  • Bản đồ thổ nhưỡng:

    Theo số liệu điều tra của Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, đất đai của huyện Hoàng Su Phì được chia làm 6 loại.

 

Bảng 6. Phân cấp loại đất theo nguy cơ xảy ra lũ quét

STT

Loại đất

 

Nguy cơ xảy ra lũ quét

Diện tích (km2)

1

Núi cao

Rất cao

102,88

2

Đất xám cơ giới nhẹ

Thấp

10,82

3

Đất xám mùn trên núi

Trung bình

256,35

4

Đất xám điển hình

Rất thấp

54,35

5

Đá xám ferralit

Rất cao

176,79

6

Đất mùn Alit núi cao

Cao

27,81

Tổng:

629

 

 

 

3.2.3. Xây dựng bản đồ cảnh báo khu vực có nguy cơ xảy ra lũ quét trên địa bàn huyện Hoàng Su Phì

    Sau khi tiến hành chồng xếp 5 lớp bản đồ thành phần bằng công cụ weighted overlay thu được kết quả như sau: Bản đồ cảnh báo nguy cơ xảy ra lũ quét trên địa bàn huyện Hoàng Su Phì được chia thành 4 cấp: Thấp, trung bình, cao, rất cao.

   Khu vực có nguy cơ xảy ra lũ quét thấp có tổng diện tích là 152,4 km2, chiếm tỷ lệ 24,23%. Khu vực có nguy cơ xảy ra lũ quét ở mức trung bình có diện tích khoảng 388,1 km2, chiếm tỷ lệ 61,7%. Khu vực có nguy cơ lũ quét cao tập trung chủ yếu ở các xã phía Nam của huyện. Tổng diện tích khoảng 83,8 km2, chiếm tỷ lệ 13,3%. Khu vực có nguy cơ xảy ra lũ quét rất cao, diện tích khoảng 4.7 km2, chiếm 0,67% diện tích toàn huyện.

    Trong kết quả nghiên cứu, tác giả nhận thấy nguy cơ lũ quét rất cao và cao tập trung chủ yếu ở khu vực phía Nam của huyện Hoàng Su Phì, bao gồm các xã: Nậm Khòa, Thông Nguyên, Nậm Ty. Các xã có ít nguy cơ xảy ra lũ quét hơn ở mức thấp và trung bình, tập trung chủ yếu ở các xã phía Bắc của huyện, như: Thèn Chu Phìn, Tụ Nhân, Bản Phùng.
3.3. Đề xuất các giải pháp cảnh báp tại địa bàn nghiên cứu

    Để đánh giá mức độ chính xác của bản đồ cảnh báo so với thực tế, tác giả đã tiến hành đối chiếu các khu vực đã từng xảy ra lũ quét trước đây trên địa bàn huyện. Với 9/11 điểm được xác định trên bản đồ, là các vị trí từng xảy ra lũ quét, tương ứng với các khu vực có nguy cơ xảy ra lũ quét cao và rất cao, đạt tỷ lệ 81,8%.

   Để hạn chế những thiệt hại do lũ quét gây ra đối với người dân huyện Hoàng Su Phì, rất nhiều các giải pháp đã được chính quyền địa phương thực hiện trước đó, bao gồm cả công trình và phi công trình. Căn cứ vào điều kiện thực tế tại huyện Hoàng Su Phì và việc thực hiện công tác phòng chống lũ quét của chính quyền địa phương, tác giả xin được đề xuất một số biện pháp cảnh báo, giảm thiểu thiệt hại như sau:

- Xây dựng chương trình truyền thông cho người dân tại các xã trong huyện về lũ quét và dấu hiệu nhận biết lũ quét: Cần tiếp tục tuyên truyền, phổ biến kiến thức phòng chống và ứng phó với lũ quét cho người dân, tập trung vào các dấu hiệu, những việc nên và không nên làm khi có lũ quét.

* Lũ quét thường xảy ra bất ngờ, tuy nhiên, có thể dựa vào một vài dấu hiệu như sau: Sau một khoảng thời gian mưa lớn cục bộ trong vài giờ, hay mưa đều đặn trong và ngày, nghe thấy tiếng động lớn, nhìn thấy nước chuyển màu đục, nước dâng lên rất nhanh ở các sông suối, khi có gió xoáy đang ảnh hưởng tới khu vực.

* Những việc nên làm:

- Thường xuyên tiếp nhận các thông tin cảnh báo về lũ quét trên các phương tiện thông tin đại chúng, thông báo từ chính quyền địa phương.

- Chủ động gia cố nhà cửa, phối hợp với chính quyền địa phương trong việc tiến hành công tác di dời.

- Chủ động tích trữ lương thực, nước uống, thuốc men…, chuẩn bị cho trường hợp lũ quét xảy ra gây chia cắt khu vực mà mình sinh sống.

- Khi nhận thấy các dấu hiệu trước khi xảy ra lũ quét kể trên cần thông báo cho những người xung quanh, thông báo cho chính quyền địa phương để kịp thời ứng phó; chạy thật nhanh ra khỏi nơi nguy hiểm đến các khu vực đất cao hơn để trú ẩn.

* Những việc không nên làm:

- Không được bơi lội qua sông, suối nếu thấy nước có dấu hiệu bất thường (từ màu trong sang đục dần, có nhiều củi, rác).

- Không nên đùa nghịch, đi lại, bơi lội ở gần những nơi vừa xảy ra lũ quét; đồng thời lưu ý, những dây điện, cột điện đổ xuống nước, đề phòng điện giật, đặc biệt là trẻ em.

- Không nên cố chấp ở lại nhà để bảo vệ tài sản khi đã có lệnh di dời từ chính quyền địa phương.

Thành lập các đơn vị xung kích cứu hộ, cứu nạn:

    Để có thể hạn chế tối đa những thiệt hại về người và của, không chỉ tập trung vào công tác cảnh báo, mà còn cần tập trung vào công tác cứu hộ, cứu nạn khi lũ quét xảy ra. Vì vậy, cần thành lập các đơn vị xung kích, tham gia vào hoạt động cứu hộ, cứu nạn cho các khu vực có nguy cơ xảy ra lũ quét. Những thành viên tham gia vào đội xung kích phải là những người có sức khỏe, am hiểu về khu vực mình sinh sống, hiểu biết về đặc điểm lũ quét và cơ chế hình thành lũ, không ngại khó khăn và nguy hiểm tham gia ứng cứu người dân khi có lũ quét.

4. KẾT LUẬN

    Nghiên cứu đã xây dựng được bản đồ cảnh báo nguy cơ lũ quét tại huyện Hoàng Su Phì (Hà Giang) với 4 mức độ cảnh báo khác nhau. Cần chú ý khu vực có nguy cơ xảy ra lũ quét rất cao: Phân bố hầu hết tại khu vực phía Nam huyện Hoàng Su Phì, điển hình như các xã: Nậm Khòa, Thông Nguyên và Nậm Ty. Mặc dù, bản đồ cảnh báo được xây dựng dựa trên các căn cứ khoa học, tuy nhiên, với đặc điểm lượng mưa ngày của cả huyện cao, địa hình dốc, do đó, công tác cảnh báo lũ quét cần phải được thực hiện trên địa bàn toàn huyện. Các giải pháp cảnh báo và ứng phó cần phải được chính quyền địa phương tiếp tục duy trì, cải thiện và thực hiện kịp thời.

 

Nguyễn Hà Linh1, Nguyễn Thu Hiền1

1Trường Đại học TN&MT Hà Nội

(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường, số Chuyên đề Tiếng Việt III năm 2018)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Trọng Yên, Ngô Thị Phương, Nguyễn Quốc Thành, Nguyễn Văn Hoàng, 2008, “Nghiên cứu xây dựng bản đồ phân vùng tai biến môi trường tự nhiên lãnh thổ Việt Nam - Nghiên cứu đánh giá trượt lở, lũ quét, lũ bùn đá một số vùng nguy hiểm ở miền núi Bắc bộ; kiến nghị các giải pháp phòng tránh, giảm nhẹ”

2.UBND huyện Hoàng Su Phì, “Báo cáo tổng kết công tác phòng chống thiên tai từ năm 2010 - 2017”

3. Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, “Ứng dụng công nghệ GIS xây dựng bản đồ cảnh báo lũ quét và sạt lở đất trên địa bàn tỉnh Sơn La.

BUILDING FLASH FLOOD WARNING MAP IN HOANG SU PHI DISTRICT, HA GIANG PROVINCE

Nguyễn Hà Linh1, Nguyễn Thu Hiền1

 1Hanoi University of Natural Resources & Environment 

Abstract

    Flash Flood is one of the most common disaster in high sloping and heavy rainfall areas in a short term. Hoang Su Phi district, Ha Giang province is one of the areas having very complicated terrains, severely divided with the height from 1,000 to 2,000 m... so the risk of flash flood is hight. The study of areas with high risk for flash floods would aim to provide the bases for the local authorities in policy making as well as to mitigate their inpacts on local socio-economic development

Key words: flood, warning map, GIS.

Thống kê

Lượt truy cập: 1232126