--%>

     Phủ xanh bãi thải là một nhiệm vụ quan trọng đối với các nhà khai thác mỏ nhằm phục hồi cảnh quan và môi sinh sau khai thác. Trải qua một thời gian dài, việc phủ xanh các bãi thải mỏ than vùng than Quảng Ninh được thực hiện theo kinh nghiệm dân gian hoặc phục hồi tự nhiên. Từ năm 2004, đội ngũ cán bộ quản lý môi trường của Tổng Công ty than Việt Nam (nay là Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam) đã bắt đầu nghiên cứu và ứng dụng các kỹ thuật lâm sinh vào phục hồi và phủ xanh bãi thải mỏ. Các nghiên cứu và ứng dụng tập trung vào các vấn đề về cấu trúc, thổ nhưỡng, lâm sinh, sinh thái bãi thải và các kỹ thuật trồng cây. Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện với sự hợp tác của các chuyên gia nước ngoài để giải quyết một số vấn đề mà ngành Than chưa có kinh nghiệm và chưa có tiền lệ ở Việt Nam như xử lý tính axit của đất đá bề mặt bãi thải, biện pháp phủ xanh trong những điều kiện đặc biệt. Nhờ có các nghiên cứu chuyên sâu, kỹ thuật trồng cây phủ xanh bãi thải đã hình thành và trở thành một lĩnh vực kỹ thuật chuyên ngành môi trường được phát triển trong lĩnh vực khai khoáng của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam.

    Bài viết trình bày về các đặc điểm bãi thải mỏ và kỹ thuật trồng cây phủ xanh bãi thải đã được nghiên cứu, thử nghiện và ứng dụng cho các bãi thải mỏ tại vùng than Quang Ninh trong giai đoạn 2004 - 2016.

1. Đặt vấn đề

     Các bãi thải mỏ vùng than Quảng Ninh có chung đặc điểm là dạng bãi thải cao, không san cắt tầng, góc dốc sườn tầng lớn, không có lớp đất phủ nên thường không có lớp phủ thảm thực vật trừ những bãi thải hoặc khu vực đổ thải đã dừng đổ thải từ 5 ÷ 10 năm trở lên. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến xói lở, thậm chí trượt lở bãi thải ở phạm vi lớn, gây mất cảnh quan và là nguồn tiềm ẩn gây ô nhiễm môi trường do bụi.

    Cải tạo, phục hồi môi trường các bãi thải sau hoặc ngay trong quá trình khai thác là nghĩa vụ lớn đối với các chủ mỏ theo qui định của pháp luật. Tuy nhiên, khi thực hiện nhiệm vụ này, nhiều vấn đề nảy sinh từ thực tiễn cho thấy công tác phủ xanh bãi thải gặp nhiều vấn đề khó khăn, đó là:

- Sự ảnh hưởng của cấu trúc bãi thải đến các giải pháp lâm sinh;

 - Sự ảnh hưởng của đặc tính thổ nhưỡng bãi thải đến kỹ thuật trồng và chăm sóc cây trồng;

 - Sự phù hợp của giống cây trồng bản địa và ngoại lai và tiềm năng kinh tế của các loài cây được sử dụng;

 - Xử lý những vấn đề đặc điểm rất riêng biệt của bãi thải nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho cây trồng phát triển như giảm tính axit của đất đá thải, phủ xanh trên nền vật liệu đá tảng.

    Đây là những vấn đề mới mà kinh nghiệm dân gian chưa có tiền lệ buộc các nhà quản lý và kỹ thuật môi trường của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam phải thực hiện trong gần 20 năm qua và đến nay đã được đúc rút thành bài học.

2. GIẢI PHÁP

2.1. Đặc điểm các bãi thải

a. Thành phần độ hạt và phân bố

   Các bãi thải mỏ tại vùng than Quảng Ninh đều tạo thành dạng bãi thải cao với chiều cao lớn nhất là 300m. Góc dốc sườn bãi thải tương đối lớn, từ 30o ¸ 40o. Thành phần vật liệu bãi thải thường là các loại đất đá được nổ mìn với các cỡ hạt khác nhau và có tính chất rời rạc, trong đó đá thải chiếm tới trên 90% tổng số vật liệu thải (có đường kính > 2mm) và đất có trong bãi thải chỉ chiếm < 10% tổng số vật liệu thải [Đỗ Thị Lâm, 2003].

    Do phương pháp đổ thải, có sự phân bố không đều cỡ hạt trên bề mặt bãi thải theo chiều cao tầng thải. Thực tế khảo sát tại các bãi thải đều cho thấy cỡ hạt nhỏ ở phía trên, hạt thô tập trung ở phía dưới, đá to hoặc đá tảng ở chân bãi thải. Cỡ hạt lớn khi lăn xuống dưới chân tầng thải thường tách xa chân bãi thải nên tạo cho bề mặt sườn bãi thải dạng lõm.

     Đất đá thải mỏ có kích cỡ không đồng đều gây khó khăn cho cây khi mọc và phát triển bộ rễ vào lớp mặt bãi thải. Ở các khu vực cỡ hạt mịn (phần đỉnh bãi thải) thành phần chủ yếu là cát nên khả năng giữ nước kém, hàm lượng dinh dưỡng thấp.

 

Bảng 1. trình bày sự phân bố cỡ hạt tại bãi thải Chính Bắc – mỏ than Núi Béo [University of Bochum, 2015]

 

 

Tối thiểu

Tối đa

Trung bình

d10 [mm]

0,005

5

0,07

d60 [mm]

10

100

35

d30 [mm]

0,15

30

5,5

dw [mm]

0,11

0,67

0,21

U = d60 / d10

20

2000

500

 
 

     Một số đặc điểm chủ yếu của bãi thải mỏ than vùng than Quảng Ninh đã được nhận dạng là: bãi thải có tính liên kết kém do đặc điểm thành phần vật liệu thải nên dễ gây ra trượt lở; sườn bãi thải không ổn định thành phần độ hạt nên gây khó khăn cho việc san cắt tầng; thổ nhưỡng kém do thiếu chất dinh dưỡng, độ mùn thấp và đất đá thải có tính axit; việc phục hồi thảm thực vật trên bãi thải mỏ than cũng gặp nhiều khó khăn do bề mặt bãi thải có nhiệt độ cao do hấp thụ nhiệt trong mùa hè, độ ẩm không khí thấp hơn các khu vực xung quanh và luôn chịu gió lớn [Đỗ Thị Lâm, 2003].

    Khi tiến hành phủ xanh các bãi thải, có nhiều khó khăn trong việc thực hiện phủ xanh các khu vực chân bãi thải nơi có nhiều đá to, đá tảng. Tất cả các loại hình bãi thải, trừ bãi thải trong chịu sự tác động của các đặc điểm này.

b. Thổ nhưỡng

    Thành phần chủ yếu của vật liệu trên các bãi thải mỏ lộ thiên là đất đá do nổ mìn gồm: cát kết, bột kết, sét kết và đất phủ, bị phong hoá nhanh, dễ nứt nẻ, vỡ vụn, khi gặp nước thì chảy nhão nên dễ gây lụt lội, trượt lở. Các bãi thải mỏ than có đặc điểm chung là lớp đất phủ đệ tứ không được thu hồi lại khi mở mỏ nên không có đất phủ trở lại khi phủ xanh, tạo cho bề mặt bãi thải rất nghèo chất dinh dưỡng. Kết quả nghiên cứu tại các bãi thải Đèo Nai, Hà Tu, Núi Béo [University of Bochum, 2015] cho thấy một số chỉ tiêu hóa học đất như sau: pH: 4,15 ÷ 4,91; K2O: 2,05 ÷ 2,28%; P2O5: 615 ÷ 753 ppm; NaO2: 0,068 ÷ 0,070%; tỷ lệ C/N: 55,85 ÷ 80,86; CaO: 0,115 ÷ 0,248%. Trong thành phần đất đá thải cũng tồn tại các nguyên tố có hại đối với cây trồng như SiO, As, Cr, Pb, Ni, Al2O3

     Đất đá thải tại các bãi thải mỏ than vùng Quảng Ninh có đặc tính chung là có tính axit do quá trình phong hóa đất đá thải, lưu huỳnh có trong pyrit bị oxy hóa thành sunphat, sản sinh ra axit sunphuaric và nồng độ sắt cao gây cản trở thực vật hấp thu dinh dưỡng, kìm hãm sự phát triển của thảm thực vật.

c. Đặc điểm sinh thái

     Do bãi thải mỏ có môi trường khô cằn, nghèo dinh dưỡng nên không thuận lợi cho quá trình phát triển thực vật. Tuy vậy, nhờ điều kiện khí hậu nóng ẩm, mưa nhiệt đới nên có một số loài cây cỏ có thể phát triển tự nhiên trên bề mặt bãi thải theo ba giai đoạn [Đỗ Thị Lâm, 2003]:

- Giai đoạn 1, khi thời gian tồn tại của bãi thải mới hình thành từ 1 - 5 năm chỉ có các loại cây cỏ mọc được (cỏ le, chè vè, lau, chít...).

- Giai đoạn 2, khi thời gian tồn tại của bãi thải từ 5 -10 năm xuất hiện các loại cây bụi (cây dẻ ngon, thao kén, thẩu tấu, sim, mua...).

- Giai đoạn 3, khi bãi thải đã tồn tại được 20 - 30 năm có các loại cây gỗ nhỏ (đuôi lươn tía, cà suối, sơn ta...). Tuy nhiên, sự phát triển tự nhiên này không đều, phát triển mạnh hơn ở những khu vực bãi thải có điều kiện thuận lợi hơn về điều kiện khí hậu.

     Thực tiễn trồng cây trên bãi thải nhiều năm và thực hiện các dự án CPM bãi thải do TKV tiến hành tại vùng than Quảng Ninh cho thấy giống cây trồng chủ đạo trên các bãi thải mỏ than là keo (lai hoặc lá tràm). Ngoài ra còn có một số loài cây thân gỗ khác (thông, phi lao, sấu), cây họ Đậu (muồng muồng). Các loài cỏ thường gặp là lau, lách, chít.

2.2. Đặc điểm lâm sinh

a. Lựa chọn giống cây

     Do đặc điểm thành tạo bãi thải, thành phần độ hạt vật liệu thải, các bãi thải mỏ than có một đặc điểm chung là khả năng giữ nước kém. Do vậy, giống cây được sử dụng phủ xanh bãi thải phải là giống cây chịu được hạn. Hàm lượng nước ngầm trong các bãi thải mỏ than không lớn nên không đủ độ ẩm cung cấp cho cây trồng.

    Thời vụ trồng cây cũng cần lựa chọn phù hợp với thời tiết. Thời vụ trồng tốt nhất là mùa xuân đầu hè khi đã có mưa.

    Thực tế cho thấy, các loại cây trồng bản địa mọc tự nhiên ở các khu vực khai thác mỏ nhìn chung sinh trưởng tốt bất chấp các điều kiện môi trường của các khu vực khai thác mỏ rất khắc nghiệt. Ngược lại, các loại cây trồng không phải là bản địa nhưng có nguồn gốc từ các khu vực khác trên thế giới hoặc trong nước có thể kém thích nghi với các điều kiện khí hậu vùng. Do vậy, thử nghiệm và thuần giống các loài cây ngoại lai là một trong những nội dung cần thiết trước khi đưa một giống cây trồng mới vào thực hiện phủ xanh.

b. Phương pháp trồng cây trên bề mặt tầng

    Trong các loài cây sử dụng để phủ xanh, cây keo và phi lao phát triển tốt, trong điều kiện bãi thải ổn định có thể phủ xanh sau 03 năm. Cây thông nhìn chung phát triển rất chậm, một số vị trí ổn định phát triển khá tốt (tầng +190 Mông Gioăng, lộ vỉa Vàng Danh) nhưng cũng phải sau nhiều năm mới phủ xanh. Cỏ vetiver phát triển bộ rễ nhanh nhưng ít phát triển theo chiều rộng, thích hợp cho việc giữ đất và không phù hợp để phủ xanh bãi thải.

    Trong giai đoạn 2006 – 2009, cây jatropha đã được trồng thử nghiệm tại bãi thải Vỉa 7, 8 Hà Tu (cũ), sau đó được NEDO (Nhật Bản) đề xuất trồng thử nghiệm tiếp tại mặt bằng bãi thải Chính Bắc – mỏ than Núi Béo nhằm mục đích sản xuất dầu sinh học thông qua một dự án hợp tác với tỉnh Quảng Ninh nhưng giống cây jatropha tỏ ra không thích hợp với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng bãi thải mỏ nên đã không được xem xét mở rộng ứng dụng.

    Cũng nhằm mục đích thử nghiệm trồng các loài cây năng lượng trên mặt bằng bãi thải mỏ để sản xuất dầu sinh học, một dự án hợp tác giữa Tổng cục Môi trường và Viện Nghiên cứu độc lập các giải pháp môi trường (UfU) đã được triển khai trong đó thực hiện trồng thử nghiệm các loài cây thầu dầu, cao lương, trẩu trên mặt bằng bãi thải Chính Bắc – mỏ than Núi Béo trong giai đoạn 2017 – 2019.

    Mật độ cây trồng phủ xanh 1.600 ÷ 2.200 cây/ha đối với các loài keo theo định mức tại Quyết định số 38/2005/QĐ-BNN ngày 06/07/2005 của Bộ NN&PTNT. Do yêu cầu phủ xanh nhanh bãi thải, TKV đã nâng mật độ cây trồng lên 2.500 cây/ha, rồi 4.000 cây/ha (Công ty than Khe Sim – Tổng Công ty Đông Bắc) và có đơn vị đã thực hiện 10.000 cây/ha (Công ty CP than Cọc Sáu) không kể tỷ lệ trồng dặm. Với mật độ trồng 5.000 cây/ha ở những khu vực bãi thải ổn định thì sau 03 năm đảm bảo phủ xanh bãi thải.

    Kỹ thuật trồng cây: Trồng bằng cây con trong hố đào có kích thước 40 x 40 x 40 cm, bổ sung thêm phân bón và đất màu theo quy định. Bố trí hố hố trồng theo hình nanh sấu.

c. Phương pháp phủ xanh sườn bãi thải

    Tại các bãi thải đã dừng đổ thải lâu năm thường gặp các loài cỏ, cây thảo mộc và cây bụi nhỏ. Tại các bãi thải mới đổ thải hoặc được thực hiện phủ xanh trong những năm gần đây, lớp thảm thực vật trên sườn bãi thải được trồng có chọn lọc với các giống cỏ là lau, le, chít, điền thanh hoa vàng. Một số loài cây bụi nhỏ như hoa giấy đã được đưa vào trồng tạo cảnh quan (Nam Đèo Nai, Chính Bắc phía Đông tại mức +240 ÷ +256). Giai đoạn 1998 – 2002, một giống cây dây leo họ đậu ngoại lai là cây Kuzdu có nguồn gốc từ Nhật Bản đã được trồng thử nghiệm trên sườn dốc nhưng không thành công do khả năng chống xói lở kém, độ che phủ không cao. Năm 2007, giống cỏ vetiver đã được trồng thử nghiệm tại bãi thải Chính Bắc – mỏ than Núi Béo tại mức +240 ÷ +256 khu vực phía Đông với mục đích chống sạt lở và đã thành công, sau đó đã được đưa vào trồng trên sườn bãi thải Nam Lộ Phong – mỏ than Hà Tu. Giống cỏ này đã tỏ ra thích ứng với điều kiện khô hạn của bãi thải, khả năng chống xói lở rất cao nhờ tác dụng của bộ rễ. Tuy nhiên, do có giá thành cao nên giống cỏ này chỉ được sử dụng khi cần chống sạt lở cho các khu vực bãi thải có nguy cơ đe dọa an toàn tại các khu vực gần khu dân cư và hạ tầng dưới chân bãi thải.

    Mật độ trồng: Để tăng độ che phủ, giảm thiểu nước mưa rửa trôi xói mòn bề mặt, cỏ lau le được trồng với mật độ 35.000 khóm/ha (khoảng cách các khóm 15cm, khoảng cách các hàng 1,5 ¸ 2m).

    Thời vụ: Vào mùa xuân, khoảng tháng 2 đến tháng 3 (mùa mưa phùn). Do điều kiện sinh thái bãi thải không thuận lợi (thiếu nước, thiếu chất dinh dưỡng, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt) nên thời vụ trồng cây phải theo đúng mùa để tận dụng thời tiết thuận lợi cho cây trồng.

    Trồng dặm: Khoảng 10 ÷ 30%.

    Các loài thực vật đã được sử dụng vào công tác phủ xanh bãi thải mỏ vùng than Quảng Ninh được trình bày trong Bảng 2.

 

Bảng 2. Các loài thực vật đã được sử dụng vào công tác phủ xanh bãi thải mỏ

 

Bãi thải, khu vực bãi thải

Loại cây trồng

Trên sườn tầng

Trên mặt tầng và mặt bãi thải

Nam Đèo Nai

Cỏ lau, lách, hoa giấy

Keo lá tràm, thông, phi lao, bằng lăng, sấu

Mông Gioăng - Đèo Nai

Cỏ lau, lách

Keo lá tràm

Đông Cao Sơn

Cỏ lau, lách

Keo lá tràm

Đông Khe Sim - Nam Khe Tam

Cỏ lau, lách

Keo lá tràm

Ngã Hai - Quang Hanh

Cỏ lau, lách

Keo lá tràm

Nam Lộ Phong - Hà Tu

Cỏ lau, lách, sắn dây rừng, vetiver

Keo lá tràm

Vỉa 7, 8 Hà Tu (cũ)

Cỏ lau, lách

Keo lá tràm, jatropha

Chính Bắc - Núi Béo

Lau, lách, vetiver, điền thanh, bòng đụt

Keo lá tràm, jatropha, cao lương, thầu dầu

Các bãi thải lộ vỉa

Cỏ tự nhiên

Keo lá tràm

 
 

d. Xử lý các tình huống đặc biệt

Xử lý tính axit đất nền bãi thải

    Để tạo thuận lợi cho quá trình phủ lại thảm thực vật, giá trị pH đất đá thải phải gần với độ trung tính. Một giải pháp đã được thử nghiệm để xử lý đất đá thải có tính axit là trộn đất đá thải với các chất phụ gia sẵn có ở địa phương.

- Sử dụng tro rơm (đốt từ rơm) và tro bay từ các nhà máy điện đốt than (nhiệt điện Phả Lại) được nghiên cứu thử nghiệm tại bãi thải Chính Bắc – mỏ than Núi Béo cho thấy cả tro bay và tro rơm đều có khả năng góp phần làm tăng giá trị pH [University of Bochum, 2015]. Thí nghiệm được tiến hành với quy mô thực địa và được so sánh với lớp nền tiêu chuẩn (lớp đất mặt) và vật liệu đất đá thải thuần túy.

- Một nghiên cứu thử nghiệm khác đã được thực hiện tại bãi thải Nam Đèo Nai trong khuôn khổ hợp tác giữa VINACOMIN và NEDO (Nhật Bản) với chất phụ gia được lựa chọn là tro xỉ nhà máy nhiệt điện Cẩm Phả. Từ kết quả thử nghiệm, các chuyên gia NEDO đã có các kiến nghị về công tác xử lý bãi thải và phủ xanh với các chất phụ gia là tro xỉ nhà máy nhiệt điện sẵn có ở Quảng Ninh để cải tạo đất bãi thải (Bảng 3).

 

Bảng 3. Xử lý đất bãi thải có tính axit theo phương pháp Nhật Bản (NEDO)

 

TT

Khu vực

Biện pháp cải tạo thổ nhưỡng

1

Sau quá trình đổ thải

 

 

Khu vực dốc thoải

Hỗn hợp đất và tro nhiệt điện than

 

Khu vực dốc đứng

Túi tro than

 

Toàn bộ khu vực

Bổ sung đất màu mang từ nơi khác đến

2

Trong quá trình đổ thải

 

 

Các bãi thải đang hoạt động, khu vực đã khai thác

Thay đá thải bằng tro nhiệt điện than

 

Xử lý phủ xanh trên nền vật liệu chủ yếu là đá, đá tảng

    Giải pháp công nghệ đã được nghiên cứu thử nghiệm thành công là phủ túi vải có gieo hạt theo dự án hợp tác nghiên cứu ”Ổn định và phủ thảm thực vật bãi thải Nam Đèo Nai – TX. Cẩm Phả - tỉnh Quảng Ninh – Việt Nam” được thực hiện giữa VINACOMIN và MIRECO (Hàn Quốc) giai đoạn 2011 – 2013. Tỷ lệ pha trộn các vật liệu đưa vào trong túi vải được trình bày trong Bảng 4.

 

Bảng 4. Tỉ lệ pha trộn các nguyên liệu cho túi vải (/100 m2)

 

Đơn vị

Đất

Cát

Vôi

Chất giữ ẩm

Phân hữu cơ

Trọng lượng (kg)

8.000

4.000

60

25

50

Tỷ lệ (%)

65,5

32,8

0,5

0,8

0,4

 

 

2.3. Theo dõi phục hồi môi sinh thảm thực vật

a. Giám sát và chăm sóc cây trồng

    Công tác giám sát và chăm sóc cây trồng tại các bãi thải được CPM là một trong các nội dung của dự án / phương án CPM mỏ nói chung và CPM bãi thải nói riêng. Chế độ chăm sóc cây sau khi trồng được vận dụng theo hướng dẫn của Cục Khuyến nông – Bộ NN&PTNT bao gồm chăm sóc cây trồng trong 03 năm sau khi trồng và trồng dặm theo qui định. Các hoạt động thực tiễn liên quan chăm sóc cây trồng được thực hiện trên các bãi thải mỏ của TKV như sau:

- Chăm sóc năm đầu tiên gồm 3 lần: Lần thứ nhất sau khi trồng 1 ¸ 2 tháng, vun xới quanh gốc đường kính 0,8m. Lần thứ hai sau 7 ¸ 8 tháng, vun xới quanh gốc 1m, tỉa cành cao đến 1m. Lần thứ ba sau 10 ¸ 11 tháng, vun xới quanh gốc 1m.

- Chăm sóc năm thứ hai gồm 3 lần: Lần thứ nhất vào tháng 3 đến tháng 4, vun xới quanh gốc 1m, bón thúc phân (NPK 0,2kg/gốc cây). Lần thứ hai vào tháng 7 ¸ 8, vun xới quanh gốc 1m, tỉa cành cao đến 1m. Lần thứ ba vào tháng 10 ¸ 11, vun xới quanh gốc rộng 1m.

- Chăm sóc năm thứ ba gồm 2 lần: Lần thứ nhất vào tháng 3 ¸ 4, vun xới quanh gốc 1m, rạch cách gốc 40 ¸ 50cm bón thúc phân NPK (0,2kg/gốc cây). Lần 2 vào tháng 7 ¸ 8, chặt cây sâu bệnh, vun xới quanh gốc 1m, tỉa cành cao đến 1,5 ¸ 2m.

- Trồng dặm thay thế các cây chết. Tỷ lệ trồng dặm theo hướng dẫn hiện hành là 10 – 30%.

- Dấu hiệu môi sinh hệ thực vật được phục hồi là cây cối phát triển tươi tốt, không có sâu bệnh, khu vực được trồng cây, phủ cỏ chỉ sau 03 năm là khép tán.

3. KẾT QUẢ

    Trong giai đoạn 2004 – 2016, đã có 20 bãi thải mỏ tại vùng than Quảng Ninh đã được cải tạo, phục hồi và phủ xanh, góp phần thay đổi môi trường và cảnh quan vùng than, tạo diện mạo mới cho phát triển đô thị và du lịch các khu vực khai thác than tại Quảng Ninh.

    Kỹ thuật cải tạo, phủ xanh bãi thải các bãi thải mỏ vùng than Quảng Ninh đã được nghiên cứu tổng hợp và xây dựng thành qui trình trong đề tài Nghiên cứu xây dựng qui trình cải tạo, phục hồi các bãi thải mỏ than – khoáng sản và đã được TKV nghiệm thu, tạo cơ sở mở rộng triển khai áp dụng cho các khu vực khai thác khoáng sản khác của TKV.

    Các giải pháp trồng cây phủ xanh bãi thải đã được xây dựng thành giải pháp chủ đạo trong các phương án cải tạo, phục hồi môi trường được Hội đồng thẩm định của Bộ TNMT chấp thuận cho các dự án đầu tư khai thác mỏ.

4. Kết luận và trao đổi

    Việc trồng cây phủ xanh tại đỉnh các bãi thải, các khu vực có độ dốc thấp, chiều cao tầng thải nhỏ, sườn tầng thải là đất đá lẫn lộn đạt kết quả tốt, sau 03 năm bãi thải đã có thể được phủ xanh với các loài keo với mật độ 5.000 cây/ha trở lên.

    Các khu vực bãi thải có chiều cao tầng thải lớn, sườn tầng thải là đất đá hạt mịn, kết quả trồng cây có kết quả kém, cây phát triển không đồng đều, tỷ lệ cây chết cao do cây, đất màu, phân bón bổ sung bị cuốn trôi do sạt lở trong mùa mưa.

    Trong các loài cây đã trồng để phủ xanh bãi thải, keo và phi lao cho tốc độ phủ xanh nhanh nhất trong đó keo có tác dụng cải tạo đất, cây phi lao ảnh hưởng xấu đến đất. Các loài cây khác nhìn chung phát triển chậm hoặc kém, không đáp ứng được yêu cầu chống xói lở bề mặt sườn bãi thải và phủ xanh.

    Để chống xói lở sườn tầng, giải pháp trồng các loài cỏ, cây thân bụi là thích hợp. Chỉ trồng cây thân gỗ sau ít nhất 5 năm tính từ khi dừng đổ thải để lớp thảm thực vật trên sườn dốc phát triển, ngăn chặn xói lở và giữ ẩm cho lớp đất mặt.

    Phương pháp trồng cây phổ biến trên các bãi thải hiện nay là trồng độc canh. Ưu điểm của phương pháp trồng độc canh là dễ thực hiện, khâu chuẩn bị cây giống đơn giản. Tuy nhiên, phương pháp trồng độc canh có nhiều hạn chế đối với phủ xanh bãi thải:

- Sự sử dụng tài nguyên có sẵn trong môi trường sống (ánh sáng, nước, các chất dinh dưỡng) của một loài cây đơn lẻ không hiệu quả bằng nhiều loài cây khác nhau trên cùng khu vực;

- Sự sản sinh ra sinh khối của các loài cây khác nhau sẽ cao hơn so với  sinh khối được sản sinh chỉ do một loài cây;

- Trồng cây độc canh không tạo ra được sự phong phú đối với đa dạng sinh học.

- Khả năng chống đỡ với sâu bệnh kém hơn trồng hỗn giao.

    Giải pháp trồng cây hỗn giao hiện đang được áp dụng phổ biến trong phủ xanh các bãi thải mỏ than vùng than Quảng Ninh. 

 

Th.S Trần Miên, Th.S Nguyễn Tam Tính, Th.S Đỗ Mạnh Dũng

Công ty Cổ phần Tin học, Công nghệ, Môi trường – Vinacomin

(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường, số Chuyên đề III năm 2018)

                                

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đỗ Thị Lâm (2003), Tuyển chọn một số loài cây và kỹ thuật gây trồng để cố định bãi thải tại các mỏ than ở vùng Đông Bắc, Tạp chí NN&PTNT, số 12/2003.

2. MIRECO (2014), Ổn định và phục hồi thảm thực vật trên sườn bãi thải Nam Đèo Nai ở Cẩm Phả, Quảng Ninh, Việt Nam, Báo cáo Tổng kết dự án nghiên cứu chung MIRECO – VINACOMIN, 2014 (bản tiếng Việt).

3. Trần Miên (2006), Một số định hướng ban đầu trong cải tạo, hoàn nguyên môi trường các bãi thải than, Tuyển tập báo cáo, Hội nghị KHKT Hội Mỏ Việt Nam lần thứ XVII, 9/2006.

4. Trần Miên (2010), Cải tạo, phục hồi môi trường bãi thải mỏ than trong điều kiện Việt Nam, Hội nghị môi trường toàn quốc lần thứ III (tham luận), 2010.

5. University of Bochum, EE+E Environmental Engineering and Ecology (2015), Handbook Mining and Environment in Vietnam. Handbook on the results of the project "Mining and environment in Vietnam 2005-2015", 535 p.,doi: 10.2314/GBV:868016799, Bochum 2015.

 

Thống kê

Lượt truy cập: 3324543