--%>

 

   Nguyễn Viết Lương, Tô Trọng Tú, Trình Xuân Hồng

Viện Công nghệ vũ trụ, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Lê Trần Chấn

Trung tâm Đa dạng và An toàn sinh học

Tống Phúc Tuấn, Nguyễn Hữu Tứ 

Viện Địa lý, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

      TÓM TẮT

     Biến đổi khí hậu (BĐKH) và mối quan hệ của BĐKH với phát thải khí CO2 do suy thoái và mất rừng là vấn đề đang được cả thế giới quan tâm. Các hệ sinh thái (HST) rừng là nơi tích lũy CO2 nhiều nhất trong các HST trên cạn. Việt Nam có khoảng 14,06 triệu ha rừng, độ che phủ là 40,84%. Tính đến tháng 1/2018, Việt Nam có 32 vườn quốc gia (VQG) với tổng diện tích các VQG khoảng 10.455,74 km² (trong đó có 620,10 km² là mặt biển), chiếm khoảng hơn 3% diện tích lãnh thổ đất liền. Đây có thể nói là các bể hấp thụ CO2 mà chúng ta chưa có điều kiện để tính toán giá trị hấp thụ CO2 một cách đầy đủ. Để có cở sở xác định lượng CO2 hấp thụ, tạo tiền đề cho quá trình mua bán phát thải CO2, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu, tính toán khả năng hấp thụ CO2 của một số loại  rừng tại các VQG: Cúc Phương, Yok Đôn và Khu dự trữ sinh quyển (KDTSQ) rừng ngập mặn Cần Giờ, những nơi có tiềm năng lớn trong việc hấp thụ CO2 ở Việt Nam.

     Từ khóa: Biến đổi khí hậu, hệ sinh thái rừng, hấp thụ khí CO2.

      1. Đặt vấn đề

     BĐKH và mối quan hệ của nó với phát thải khí CO2 do suy thoái và mất rừng là vấn đề đang được cả thế giới quan tâm. Theo Ủy ban Liên Chính phủ về BĐKH (IPCC), hàng năm có khoảng 1,5 tỷ tấn CO2 phát thải trên toàn cầu, nhiều hơn lượng CO2 phát thải của ngành giao thông vận tải.

     Việt Nam có khoảng 14,06 triệu ha rừng, độ che phủ là 40,84% (Bộ NN&PTNT, 2016). Tính đến tháng 1/2018, Việt Nam có 32 VQG với tổng diện tích các vườn quốc gia khoảng 10.455,74 km² (trong đó có 620,10 km² là mặt biển), và chiếm khoảng hơn 3% diện tích lãnh thổ đất liền. Các hệ sinh thải rừng (HST) rừng như: Rừng lá kim, rừng lá rộng, rừng thường xanh, rừng rụng lá, rừng nửa rụng lá, rừng ngập mặn... là nơi tích lũy CO2 nhiều nhất trong các HST trên cạn. Khí CO2 được tích lũy ở nhiều bộ phận khác nhau của rừng. Ví dụ, rừng nguyên sinh có 5 tầng: Tầng vượt tán, tầng ưu thế sinh thái, tầng dưới tán, tầng cây bụi và tẩng cỏ quyết. Khả năng hấp thụ CO2 của mỗi tầng rất khác nhau do nhiều nguyên nhân: Tổ thành loài cây khác nhau, độ tuổi khác nhau, tốc độ tăng trưởng khác nhau...

     Ngoài ra, vật liệu rơi rụng, mùn trong đất cũng chứa lượng CO2 nhất định. Tuy nhiên, sinh khối của cây trên mặt đất mới là nơi chứa CO2 quan trọng nhất, do đó, sự suy thoái rừng là nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng đến sự hấp thụ CO2.

     Vì vậy, việc xác định sinh khối trên mặt đất là bước quan trọng trong việc đánh giá tổng lượng CO2 và sự tuần hoàn của nó trong HST rừng. Khả năng hấp thụ CO2 của rừng được phản ánh rõ nét nhất qua sinh khối rừng. Tuy nhiên, trên thực tế, lượng CO2 hấp thụ không chỉ khác nhau ở mỗi tầng tán rừng như đã trình bày mà còn phụ thuộc vào kiểu thảm thực vật, loài cây ưu thế, tuổi của lâm phần... Chính vì vậy, đòi hỏi phải có những nghiên cứu về khả năng hấp thụ CO2 của từng kiểu thảm cụ thể, từ đó làm cơ sở lượng hóa những giá trị kinh tế mà rừng mang lại và xây dựng cơ chế chi trả dịch vụ môi trường một cách minh bạch, công bằng. Đó chính là mục tiêu mà đề tài hướng đến.

     Để đạt được mục tiêu đã nêu, nhóm nghiên cứu đã thực hiện việc đánh giá nhanh một số kiểu rừng cơ bản tại Việt Nam, như rừng thường xanh núi đất, rừng thường xanh trên núi đá vôi, rừng rụng lá, rừng ngập mặn ở các khu vực VQG tại Việt Nam, cụ thể các khu vực nghiên cứu được lựa chọn: VQG Cúc Phương, Yok Đôn và KDTSQ rừng ngập mặn Cần Giờ. Lý do được lựa chọn, bởi vì đây là những khu rừng có tiềm năng lớn trong việc hấp thụ CO2 thuộc hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam hiện nay.

     2. Phương pháp nghiên cứu

     2.1. Phương pháp thực địa

     2.1.1. Lập ô tiêu chuẩn (ÔTC)

     Căn cứ vào sự phân chia trạng thái rừng theo trữ lượng: Trảng cây bụi (trữ lượng <10m3/ha); Rừng nghèo (từ 10 - 100m3/ha); Rừng trung bình (từ 101 - 200m3/ha); Rừng giàu (từ 201m3/ha trở lên), đã lập ÔTC, diện tích 500m2 (20mx25m) thuộc 3 trạng thái: Rừng giàu, rừng trung bình và rừng nghèo.

     2.1.2. Đo đếm các thông số cấu trúc rừng, trong mỗi ÔTC gồm:

     - D1,3 (cm): Đường kính thân cây (tính bằng cm) tại vị trí cách mặt đất 1,3m

     - H: Chiều cao vuốt ngọn cây tính bằng mét

     - N: Số lượng cây/ha

     2.2. Phương pháp nội nghiệp

     2.2.1. Tính toán các thông số cấu trúc rừng và trữ lượng gỗ

     Trong đó, trữ lượng gỗ (M) của mỗi cây được tính toán từ 2 nhân tố điều tra rừng, đó là tiết diện ngang tại vị trí 1,3 m của thân cây (G), và chiều cao của cây (H), và hệ số chuyển đổi (F) và sẽ tính toán theo Phương trình 1 dưới đây (Võ Văn Hồng và nnk., 2006);

     2.2.2. Tính sinh khối rừng

     Tính toán sinh khối cây rừng cá thể sử dụng Phương trình 2 áp dụng cho khu vực VQG Cúc Phương; Phương trình 3,4 áp dụng cho VQG Yok Đôn (UN-REDD Việt Nam, 2012). Phương trình 5 áp dụng cho khu vực KDTSQ rừng ngập mặn Cần Giờ (Ong và nnk. (2004). 

 

Sinh khối  = 0,0421*(D*H)0,9440

(2)

Sinh khối = 0.14 * D2.31

(3)

Sinh khối = 0.098*exp(2.08*ln (D)+0.71*ln(H) + 1.12*ln(WD))

(4)

Sinh khối = 0.235*D2.42

(5)

 

     Trong đó:

D: Đường kính thân cây tại vị trí 1,3m (đơn vị tính là cm)

H: Chiều cao thân cây (đơn vị tính là m)

D là tỉ trọng gỗ (đơn vị tính tấn/m3).

     2.2.3. Tính khả năng hấp thụ CO2

     Lượng cácbon tích trữ và CO2 hấp thụ bởi thực vật được chuyển đổi theo Phương trình 6 và Phương trình 7 được đưa ra bởi IPCC (2006) sau đây:

CBS = a * Sinh khối

(6)

CO2 = 3.67CBS

(7)

     Trong đó:

                CBS: Lượng cacbon tích trữ (tấn/ha).

                a: Hệ số chuyển đổi, theo IPCC (2006)

     3. Kết quả nghiên cứu

     Trong khuôn khổ Bài báo, nhóm nghiên cứu chỉ lựa chọn mỗi khu vực nghiên cứu 3 ÔTC đại diện thuộc 3 trạng thái thảm thực vật: Rừng nghèo, rừng trung bình và rừng giàu để tiến hành tính toán khả năng hấp thụ CO2 của các loại rừng của các địa điểm nghiên cứu, nhằm đánh giá tiềm năng hấp thụ CO2 của các khu vực nghiên cứu. Các kết quả nghiên cứu được trình bày chi tiết tại các phần dưới đây:

     3.1. VQG Cúc Phương (Ninh Bình)

     Đây là VQG đặc trưng với kiểu thảm thực vật rừng thường xanh đặc trưng. Tổng diện tích là 22.406 ha. Các kết quả về thông số về cấu trúc rừng, trữ lượng sinh khối, khả năng hấp thụ CO2 tại 3 ô tiêu chuẩn (ÔTC) được mô tả chi tiết dưới đây:

     - OTC số 1. Đây là ÔTC được xếp vào rừng nghèo vì trữ lượng chỉ đạt 63 m3/ha (theo phân hạng: Rừng nghèo có trữ lượng từ 10 - 100 m3/ha) mặc dù chiều cao đạt 9,5 m và đường kính thân trung bình đạt 16,24cm. Tổ thành loài cây chính gồm: Bời lời, đỏm gai, chò xanh, lá nến.

     - OTC số 2. ÔTC (có trữ lượng 152,27 m3/ha) được xếp vào hạng rừng trung bình (trữ lượng từ 101 - 200 m3/ha). Cây có chiều cao trung bình đạt 12,88 m, đường kính thân trung bình đạt 24,06cm. Tổ thành loài gồm: Nhội, sổ, kháo, vàng anh.

     - OTC số 3. Đây là ÔTC có trữ lượng 544,66 m3/ha được xếp vào loại rừng giàu (trữ lượng từ 200m3/ha trở lên). Điều này phù hợp với các thông số về chiều cao, đường kính là những thông số quyết định trữ lượng cũng như sinh khối.

     Trong 3 ÔTC được lựa chọn làm ví dụ thì ÔTC 3 có trữ lượng, sinh khối và lượng CO2 hấp thụ lớn gấp nhiều lần so với ÔTC 1 và OTC 2 đã trình bày ở trên.  Nhận xét này được thể hiện tại Bảng 1:

     Bảng 1. Thông số cấu trúc rừng và khả năng hấp thụ CO2 của ÔTC 1 (rừng nghèo), OTC 2 (rừng trung bình) và OTC 3 (rừng giàu) tại VQG Cúc Phương

 

STT

Thông số cấu trúc rừng và

lượng CO2 hấp thụ

Kết quả

ÔTC 1

ÔTC 2

OTC 3

1

D (cm)

16,24

24,06

37,66

2

H (m)

9,50

12,88

18,81

3

N (cây/ha)

640,00

520,00

520,00

4

M (m3/ha)

63,00

152,27

544,66

5

Sinh khối (tấn/ha)

68,14

165,56

552,10

6

Lượng CO2 hấp thụ (tấn/ha)

125,03

303,80

1.013,1

 

 

     3. 2. VQG Yok Đôn (Đắk Lắk)

     VQG Yok Đôn có diện tích khoảng 115.545 ha, tại nơi đây có HST rừng khộp mang tính đặc trưng của rừng nhiệt đới Đông Nam Á. Tính đến thời điểm hiện nay, đây là VQG có diện tích lớn nhất và là nơi duy nhất bảo tồn loài cây rụng lá họ Dầu. Kết quả các thông số về cấu trúc rừng được mô tả chỉ tiết từ ÔTC 4 - ÔTC 6.

     - ÔTC 4 với trữ lượng là 48.78 m3/ha thuộc đối tượng rừng nghèo. Các thông số cấu trúc rừng như đường kính trung bình thân cây tại ví trí 1,3 m là 15,35 cm, chiều cao trung bình là 8,79 m, mật độ cây trung bình là 600 cây/ha, sinh khối là 77,58 tấn/ha và lượng CO2 hấp thụ là 142 tấn/ha.

     - ÔTC 5 với trữ lượng là 169 m3/ha, được xếp vào loại rừng trung bình. Các thông số về cấu trúc rừng như đường kính ngang ngực tại vị trí 1.3 m là 23,66 cm, chiều cao trung bình là 12,83 m, mật độ cây trung bình 600 cây/ha, trữ lượng sinh khối là 174 tấn/ha và lượng CO2 hấp thụ là 319,71 tấn/ha.

     - ÔTC 6 với trữ lượng là 527,14 m3/ha được xếp vào loại rừng giàu. Các thông số về cấu trúc rừng như đường kính ngang ngực tại vị trí 1,3m là 48,74 cm, chiều cao trung bình là 18,23m, mật độ cây trung bình là 310 cây/ha, trữ lượng sinh khối là 422,98 tấn/ha và lượng CO2 hấp thụ là 776,16 tấn/ha. Những dẫn liệu được trình bày tại Bảng 2.

     Bảng 2. Thông số cấu trúc rừng và khả năng hấp thụ CO2 của ÔTC 4 (rừng nghèo), OTC 5 (rừng trung bình) và OTC 6 (rừng giàu) tại VQG Yok Đôn

STT

Thông số cấu trúc rừng

và lượng CO2 hấp thụ

Kết quả

OTC 4

OTC 5

OTC 6

1

D (cm)

15,35

23,66

48,74

2

H (m)

8,79

12,83

18,23

3

N (cây/ha)

600

600

310

4

M (m3/ha)

48,78

169,28

527,14

5

Sinh khối (tấn/ha)

77,58

174,23

422,98

6

Lượng CO2 hấp thụ (tấn/ha)

142,35

319,71

776,16

 

 

     3.3. KDTSQ rừng ngập mặn Cần Giờ

     KDTSQ quốc tế rừng ngập mặn Cần Giờ được hình thành trên vùng châu thổ rộng lớn của các cửa sông Đồng Naisông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ, với tổng diện tích khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ là 75.740 ha. Ngày 21/1/2000, Ủy ban MAB/UNESCO đã công nhận là Khu dự trữ sinh quyển của thế giới. Đây là KDTSQ đầu tiên tại Việt Nam. Kết quả các thông số về cấu trúc rừng được mô tả chỉ tiết từ ÔTC 7 - ÔTC 9.

     - ÔTC 7 với trữ lượng là 10,99 m3/ha được xếp vào đối tượng là rừng nghèo. Các thông số về cấu trúc như đường kính ngang ngực trung bình là 5,83 cm, chiều cao 9,13 m, mật độ cây trung bình là 940 cây/ha, trữ lượng sinh khối là 16,75 tấn/ha và lượng CO2 hấp thụ là 30,74 tấn/ha.

     - ÔTC 8 với trữ lượng gỗ là 141,91 m3/ha được xếp vào loại rừng trung bình. Các thông số về cấu trúc rừng như đường kính ngang ngực là 12,04 cm, chiều cao là 15,01m, mật độ cây 1660 cây/ha, trữ lượng sinh khối 96,87 tấn/ha và lượng CO2 hấp thụ là 177,76 tấn/ha.

     - ÔTC 9 với trữ lượng gỗ là 212,53m3/ha được xếp vào loại rừng giàu. Các thông số về cấu trúc rừng như đường kính ngang ngực là 17,60 cm, chiều cao cây là 18,20 m, mật độ cây là 960 cây/ha, trữ lượng sinh khối là 263,29 tấn/ha và lượng CO2 hấp thụ được là 484,82 tấn/ha.

     Bảng 3. Thông số cấu trúc rừng và khả năng hấp thụ CO2 của ÔTC 7 (rừng nghèo), ÔTC 8 (rừng trung bình) và ÔTC 9 (rừng giàu) tại KDTSQ rừng ngập mặn Cần Giờ.

 

STT

Thông số cấu trúc rừng và

lượng CO2 hấp thụ

Kết quả

ÔTC 7

ÔTC 8

ÔTC 9

1

D (cm)

5,83

12,04

17,60

2

H (m)

9,13

15,01

18,20

3

N (cây/ha)

940

1660

960

4

M (m3/ha)

10,99

141,91

212,53

5

Sinh khối (tấn/ha)

16,75

96,87

263,29

6

Lượng CO2 hấp thụ (tấn/ha)

30,74

177,76

484,82

 

     4. Kết luận - Kiến nghị

     Từ những kết quả thu được có thể rút ra một số nhận xét sau đây:

     - Với kết quả tính toán sinh khối chúng tôi đã áp dụng phương pháp của IPCC, xác định lượng CO2 được hấp thụ bởi rừng nghèo trong khoảng 30,74 tấn/ha - 142,03 tấn/ha, rừng trung bình trong khoảng 177,76 tấn/ha - 319,71 tấn/ha và rừng giàu trong khoảng 484,82 tấn/ha - 1.013,1 tấn/ha.

     - Khả năng hấp thụ CO2 của rừng tỉ lệ thuận với sinh khối. Sinh khối càng lớn thì khả năng hấp thụ CO2 càng cao.

     - Để hạn chế lượng phát thải khí nhà kính, giảm thiểu tác hại của BĐKH, đồng thời góp phần tăng thu nhập từ việc tham gia thị trường cácbon, cần làm tốt hơn nữa công tác bảo vệ rừng, bể chứa CO2 quan trọng nhất trong các HST trên cạn ở nước ta.

     - Các VQG, KDTSQ có tiềm năng to lớn trong việc hấp thụ CO2. Vì vậy, cần được đầu tư nghiên cứu, sử dụng công nghệ viễn thám và GIS nhằm đánh giá chính xác, làm nền tảng cho việc sử dụng hữu hiệu nguồn tài nguyên quan trọng này.

     TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bộ NN&PTNT (2016). Quyết định công bố hiện trạng rừng năm 2015. Quyết định số: 3158/QĐ-BNN-TCLN, ngày 27/7/2016. Bộ trưởng Bộ NN&PTNT.
  2. Hệ thống rừng đặc dụng ở Việt Nam. Cục Bảo tồn ĐDSH, 2012.
  3. Trần Quang Bảo, Nguyễn Văn Thị, 2013. Khả năng hấp thụ CO2 của các trạng thái rừng tự nhiên tại huyện Mường La, Sơn La. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Lâm nghiệp. Số 2-2013
  4. Võ Văn Hồng, Trần Văn Hùng, Phạm Ngọc Bảy. Chương Công tác điều tra rừng ở Việt Nam. Cẩm nang ngành lâm nghiệp. Bộ NN&PTNT.
  5. Change, I.P.O.C.(2006). 2006 IPCC guidelines for national greenhouse gas inventories.  28 April, 2013.
  6. Nguyen Viet Luong, Ryutars   Tateishi, Nguyen Thanh Hoan, To Trong Tu, 2015. Forest Change and Its Effect on Biomass in Yok Don National Park in Central Highlands of Việt Nam Using Ground Data and Geospatial Techniques Advances in Romote Sensing, 2015, 4,108-118.
  7. Nguyen Viet Luong, Ryutars   Tateishi, Nguyen Thanh Hoan, To Trong Tu, Le Mai Son, 2014. An analysis of forest biomass changes using geospatial tools and ground survey data: a case study in Yok Don national park, Central Highlandans of Việt Nam. Việt Nam journal of Earth Sience 36 (2014) 439-450.
  8. Ong, J. E., Gong, W. K., & Wong, C. H. (2004). Allometry and partitioning of the mangrove, Rhizophora apiculata. Forest Ecology and Management, 188(1-3), 395-408.
  9. UN-REDD Programme (2012). Tree allometric equation development for estimation of forest above ground biomass in Vietnam. Part A-Introduction and Bacsground of Study.

    

POTENTIAL OF CO2 SEQUESTRATION OF SOME FOREST TYPES IN NATIONAL PARKS AND BIOSPHERE RESERVES IN VIỆT NAM

 

Nguyễn Viết Lương, Tô Trọng Tú, Trình Xuân Hồng

Space Technology Institute, Vietnam Academy of Science and Technology

Lê Trần Chấn

Center for Biodiversity and Biosafety

Tống Phúc Tuấn, Nguyễn Hữu Tứ 

Institute of Geography, Vietnam Academy of Science and Technology

      ABSTRACT

     Climate change and its relation to CO2 emissions from deforestation and degradation are the matter of global concern. Every year, about 1.5 billion tons of CO2 are emitted from forestry sector which is larger than the CO2 emissions from transport sector. Forests store largest carbon stocks among all terrestrial ecosystems. Việt Nam is proud of 40.84% forest cover, occupying 14.06 million ha of total land area. Latest update shows that Việt Nam has 32 national parks, which covers 10,455.74 km² area (including 620.10 km² sea area). The area covered by the national parks is more than 3% of the total terrestrial area. These national parks absorb large amount of atmospheric CO2. However, we still have to quantify carbon sequestration value from the forest ecosystems precisely. In this context, we have been conducting research in order to have a scientific basis for quantifying the amount of CO2 absorbed by the forests which is a precondition for the carbon emissions trading process. Our research deals with estimating the CO2 sequestration capacity of some forest types in national parks and biosphere reserves such as Cúc Phương National Park, Yok Đôn National Park and Cần Giờ Mangrove Biosphere Reserve which have great potential of CO2 sequestration in Việt Nam.

      Key wordsClimate change, Forest ecosystem, CO2 sequestration.

 

          LỜI CẢM ƠN

          Tập thể tác giả xin cảm ơn Đề tài VT-UD.05/17-20 thuộc Chương trình Khoa học và công nghệ cấp Quốc gia về công nghệ vũ trụ giai đoạn 2016 - 2020 đã cung cấp kinh phí và số liệu cho nghiên cứu này.

 (Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường, số Chuyên đề II/2018)

Thống kê

Lượt truy cập: 2041356