--%>

Tóm tắt

    Hành lang bảo vệ bờ biển (HLBVBB) là khoảng cách về phía đất liền tính từ một điểm đặc trưng nào đó trên bờ biển (giới hạn phía biển của thảm thực vật, mực nước biển cao nhất, hoặc đỉnh của cồn cát…) mà trong phạm vi đó tất cả hoặc một số hoạt động phát triển không được phép tiến hành và việc sử dụng khu vực này phục vụ mục đích của con người bị hạn chế. HLBVBB là một công cụ trong công tác quy hoạch bền vững vùng bờ và có thể được sử dụng một cách độc lập, hoặc kết hợp với các công cụ khác để phục vụ các mục tiêu phát triển bền vững chung của vùng bờ. Bài viết tổng hợp, phân tích một số nguyên tắc và ví dụ về thiết lập HLBVBB trên thế giới cũng như vấn đề bảo vệ hệ sinh thái (HST), dịch vụ HST và cảnh qua tự nhiên tại vùng bờ nhằm cung cấp một số cơ sở khoa học cho công tác này tại Việt Nam.

Phân loại hành lang bảo vệ bờ biển

     HLBVBB gồm 2 loại cơ bản là hành lang theo phương thẳng đứng và hành lang theo phương ngang. Hành lang theo phương thẳng đứng xác định chiều cao tối thiểu so với một điểm mực nước biển tham chiếu mà tại đó được xây dựng công trình nhằm bảo vệ các công trình hạ tầng ven biển khỏi tác động của ngập lụt do sóng, bão hoặc sự thay đổi mực nước biển do sụt lún đất. Còn hành lang theo phương ngang xác định một khoảng cách theo phương nằm ngang tính từ một điểm tham chiếu phía biển để khoanh khu vực chịu rủi ro nhất từ các mối nguy tại vùng bờ (sóng, xói lở, sóng bão và nước biển dâng); đảm bảo quyền tiếp cận công cộng, bảo vệ các giá trị văn hóa, sinh thái... Hành lang theo phương thẳng đứng và theo phương ngang có thể được sử dụng riêng rẽ hoặc kết hợp với nhau để đạt được mục tiêu bảo vệ trước các mối nguy vùng bờ và các mục tiêu gia tăng khác. Các đặc điểm của bờ biển được lựa chọn làm điểm tham chiếu phía biển để xác định HLBVBB có thể thay đổi theo sự thay đổi của đường bờ, xói lở bờ biển, nước biển dâng và sự biến mất của sinh cảnh. Do vậy, khi thiết lập HLBVBB cần xác định rõ đặc điểm của điểm tham chiếu (điểm tham chiếu có tính bất biến so với thời điểm thiết lập hành lang; điểm tham chiếu sẽ phải định kỳ đánh giá và điều chỉnh; điểm tham chiếu sẽ thay đổi cùng với sự thay đổi của đặc điểm bờ biển).

Ví dụ về phương pháp tiếp cận thiết lập HLBVBB

    HLBVBB tại các quốc gia Địa Trung Hải được quy định tại Nghị định thư về Quản lý tổng hợp Vùng bờ khu vực Địa Trung Hải thuộc Công ước Barcelona. Đó là các bên tham gia sẽ thiết lập tại vùng bờ một khu vực không cho phép các hoạt động xây dựng, tính từ đường mực nước cao nhất mùa đông với bề rộng của nó không nhỏ hơn 100m; có thể điều chỉnh quy định nêu trên với điều kiện các dự án phục vụ lợi ích công cộng hoặc tại các khu vực khó khăn về địa lý hoặc các vấn đề địa phương, đặc biệt liên quan đến mật độ dân số hoặc nhu cầu xã hội, nơi mà hoạt động xây dựng nhà riêng, đô thị hóa hoặc phát triển được pháp luật cho phép; thông báo cho tổ chức các văn bản pháp luật quốc gia về những điều chỉnh này.

    Bề rộng 100 m của HLBVBB được coi là hợp lý cho vùng đệm bảo vệ dọc theo bờ biển Địa Trung Hải. Tuy nhiên, giải pháp này phù hợp với việc bảo vệ các khu vực bờ biển còn nguyên sơ hoặc các khu vực được phục hồi trong chuyển đổi sử dụng đất chứ không áp dụng đối với khu vực đô thị và khu công nghiệp ven biển, khu vực sử dụng mục đích hàng hải và các hoạt động phát triển truyền thống gắn với cảnh quan vùng bờ. Việc xác định điểm tham chiếu và HLBVBB cần dựa vào đặc điểm vật lý của bờ biển vì các loại hình bờ biển sẽ chịu ảnh hưởng khác nhau của các quá trình vật lý. Hình thái bờ biển của khu vực Địa Trung Hải không đồng nhất nên chính sách về hành lang bảo vệ bờ biển chỉ dựa vào tốc độ xói lở và ảnh hưởng của các hiện tượng cực đoan sẽ không bảo vệ hiệu quả được bờ biển Địa Trung Hải.

    Để có thể xây dựng được các chính sách về HLBVBB phù hợp với từng loại hình bờ biển, dựa trên quy định chung của Nghị định thư, đã có những đề xuất về những yếu tố cần xem xét khi xác định điểm tham chiếu và xác định HLBVBB cho các loại hình bờ biển của vùng Địa Trung Hải. Đối với hình thái bờ biển cát thì việc xác định điểm tham chiếu để thiết lập hành lang phải dựa vào hình thái bờ biển và tính toán ảnh hưởng của các hiện tượng cực đoan, đồng thời cũng phải xem xét tốc độ xói lở trong các kịch bản khác nhau. Đối với hình thái bờ biển có bãi triều thì điểm tham chiếu thiết lập hành lang tại các vực nước nửa kín ít nhất phải dựa vào ranh giới thảm thực vật tự nhiên hoặc nếu có đủ dữ liệu phải tính cả giới hạn của mực nước trong các trường hợp cực đoan. Đối với hình thái bờ biển đá, điểm tham chiếu xác định hành lang có thể sử dụng trực tiếp ranh giới thảm thực vật và việc xác định bề rộng hành lang trong trường hợp này sẽ nhằm mục đích bảo vệ HST, các giá trị cảnh quan và quyền tiếp cận và sử dụng của người dân. Đối với hình thái bờ biển có các công trình cứng dọc theo đường bờ sẽ có các chế độ bảo vệ riêng và không cho phép các hoạt động phát triển trong khu vực.

    Đánh giá về quy định của Nghị định thư về HLBVBB cho thấy, việc thiết lập HLBVBB cần đặt trong bối cảnh rộng hơn của nhiệm vụ bảo vệ bờ biển, kết hợp các yếu tố rủi ro vùng bờ do xói lở, các hiện tượng cực đoan, chức năng của HST vùng bờ, giá trị cảnh quan vùng bờ và quyền tiếp cận của cộng đồng. Đồng thời, các tiêu chí thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH) cũng cần được tích hợp vào các công cụ quy hoạch. Cách tiếp cận mang tính định sẵn, chẳng hạn đặt ra bề rộng 100m của hành lang, có thể không phù hợp trong các kịch bản tương lai, đặc biệt đối với loại hình bờ biển cát và châu thổ. Vì vậy, bề rộng hành lang 100m có thể được coi là một biện pháp giúp tạm ngừng các hoạt động phát triển tại vùng cần bảo vệ trong ngắn hạn nhưng về lâu dài cần có những đánh giá khoa học, cụ thể cho từng khu vực với sự tham gia của người dân để đạt được sự thành công của các sáng kiến về bảo vệ bờ biển.

Vai trò của HLBVBB

    Từ việc tiếp cận vấn đề thiết lập HLBVBB của các quốc gia nói trên, có thể khẳng định HLBVBB là một công cụ trong quy hoạch bền vững vùng bờ nhằm bảo vệ các công trình hạ tầng và dân sinh vùng bờ khỏi các tác động bất lợi từ thiên nhiên như xói lở bờ biển, sóng dâng do bão, ngập lụt, BĐKH và nước biển dâng, đồng thời bảo vệ HST, dịch vụ HST và cảnh quan vốn nhạy cảm tại vùng bờ khỏi các tác động bất lợi từ hoạt động phát triển.  

    Từ các bài học rút ra trong quá trình thiết lập và quản lý HLBVBB, người ta đã rút ra cả 2 cách tiếp cận này cần được lồng ghép trong một phương pháp luận chung để xác định ranh giới HLBVBB nhằm đảm bảo tính bền vững của vùng bờ cả về mặt tự nhiên, cũng như về phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH). Ranh giới của HLBVBB được xác định dựa vào các điểm tham chiếu như đã đề cập ở trên. Thực tiễn thiết lập HLBVBB ở một số nước, khu vực cho thấy, việc áp dụng một điểm tham chiếu chung và dùng một khoảng cách định sẵn để làm ranh giới hành lang cho tất cả các khu vực bờ biển đã phát sinh nhiều nhiều hạn chế. Đối với các quốc gia Địa Trung Hải, việc sử dụng đường mực nước cao mùa đông làm điểm tham chiếu và xác định khoảng cách 100m cho hành lang cũng được đánh giá là chỉ phù hợp với những khu vực có cảnh quan và HST nguyên vẹn, chưa bị tác động. Đối với trường hợp này, đã có những đề xuất xác định điểm tham chiếu và bề rộng hành lang cho từng loại hình bờ biển cụ thể.

    Các nghiên cứu và thực tiễn áp dụng tại nhiều nước cho thấy, để bảo vệ HST, dịch vụ HST và cảnh quan tự nhiên vùng bờ có thể sử dụng công cụ HLBVBB đơn lẻ hoặc kết hợp với các công cụ quản lý khác như khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo vệ đa dạng sinh học, khu vực bãi biển công cộng… đã được thực hiện ở nhiều nước như Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Úc.

    Việc xác định ranh giới HLBVBB nhằm mục đích bảo vệ HST, dịch vụ HST và cảnh quan tự nhiên dựa vào các đánh giá HST, đánh giá nhu cầu bảo tồn và tham vấn các chuyên gia. Tại nhiều nước, khu vực như Nam Phi hoặc châu Âu, các dữ liệu đánh giá HST và nhu cầu bảo tồn được tổng hợp và quản lý dưới dạng dữ liệu không gian (CaeNature/SANBI của Nam Phi và Nature 2000 Network của Châu Âu) và được sử dụng làm cơ sở cho việc xác định ranh giới HLBVBB cho mục đích bảo vệ HST. Trong những trường hợp này, sự tham gia của chuyên gia và khảo sát thực địa có vai trò kiểm chứng lại các thông tin/dữ liệu đã có, từ đó củng cố cơ sở cho việc xác định ranh giới hành lang. Tại các nước, khu vực chưa có một cơ sở dữ liệu không gian về HST và các khu bảo tồn ven biển, cần tiến hành đánh giá giá trị HST, dịch vụ HST và cảnh quan tự nhiên và nhu cầu bảo tồn làm cơ sở cho việc thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển phục vụ mục đích bảo vệ HST, dịch vụ HST và cảnh quan tự nhiên. Có nhiều phương pháp tiến hành nhiệm vụ này, nhưng cần xác định phương pháp sử dụng phù hợp với đặc điểm HST và cảnh quan tự nhiên tại khu vực cụ thể. Ngoài ra, cũng cần tiến hành đánh giá giá trị dịch vụ HST của các HST không nằm trong đối tượng bảo tồn nhưng có những vai trò quan trọng khác đối với vùng bờ như bảo vệ bờ biển, tạo không gian công cộng cho khai thác, sử dụng của cộng đồng... Các khu bảo tồn, vườn quốc gia ven biển có các cơ chế quản lý riêng về các hoạt động phát triển, được quy định bởi pháp luật và nhằm mục đích bảo vệ tính toàn vẹn của HST và dịch vụ HST. Tuy nhiên, đối với các HST không nằm trong đối tượng bảo tồn nhưng được coi là có vai trò cung cấp các dịch vụ HST cho vùng bờ, việc có bảo vệ hay không phụ thuộc vào mục tiêu phát triển và tính bến vững của quy hoạch phát triển của vùng bờ. Việc thừa nhận vai trò của các HST này là phổ biến ở nhiều nước và khu vực nhưng thực tiễn đưa các khu vực này vào phạm vi bảo vệ trong quy hoạch vùng bờ nói chung và hành lang bảo vệ bờ biển nói riêng còn có sự khác biệt giữa các quốc gia, phụ thuộc vào mục tiêu phát triển vùng bờ của mỗi nước.

Kết luận

    Một là, HLBVBB là một công cụ trong quy hoạch bền vững vùng bờ, có thể được sử dụng riêng rẽ hoặc kết hợp với các công cụ quản lý khác để đạt được mục tiêu bảo vệ cơ sở hạ tầng vùng bờ khỏi các tác động bất lợi từ thiên tai, bảo vệ HST, dịch vụ HST, cảnh quan tự nhiên và quyền tiếp cận và sử dụng chung của vùng bờ. Khi sử dụng HLBVBB để bảo vệ HST, dịch vụ HST, cảnh quan tự nhiên, mục tiêu chính của việc thiết lập hành lang và các tiêu chí xác định hành lang dựa vào các phương pháp xác định nhu cầu bảo tồn và đánh giá giá trị bảo tồn của từng khu vực cụ thể. Đồng thời, cơ chế quản lý hành lang trong trường hợp này cũng có những điểm khác biệt, phù hợp với mục tiêu bảo vệ. Đối tượng bảo vệ trong trường hợp này không chỉ là các vườn quốc gia và khu bảo tồn đã được xác định mà còn phải bảo vệ cả các khu vực cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho các HST cần được bảo tồn (vùng đệm). Hơn nữa, không chỉ có các HST bị đe dọa tại vùng bờ mới cần được bảo vệ mà các HST khác, các khu vực khác có nguy cơ gây ô nhiễm vùng bờ và làm suy giảm đa dạng sinh học.

    Hai là, việc xác định điểm tham chiếu và phương pháp tính toán bề rộng HLBVBB cần dựa vào mục tiêu bảo vệ và đặc điểm tự nhiên, KT-XH và hiện trạng hạ tầng của từng vùng bờ cụ thể. Sử dụng một điểm tham chiếu chung cho các khu vực bờ biển khác nhau thường không phù hợp và không mang lại hiệu quả bảo vệ mong muốn của HLBVBB.

    Ba là, việc xác định ranh giới HLBVBB nhằm mục đích bảo vệ HST, dịch vụ HST và cảnh quan tự nhiên dựa vào các đánh giá HST, đánh giá nhu cầu bảo tồn và tham vấn các chuyên gia. Các dữ liệu đánh giá HST và nhu cầu bảo tồn dạng dữ liệu không gian được sử dụng làm cơ sở cho việc xác định ranh giới hành lang bảo vệ bờ biển cho mục đích bảo vệ HST. Trong trường hợp chưa có một cơ sở dữ liệu không gian về HST và các khu bảo tồn ven biển thì cần tiến hành đánh giá.

    Bốn là, đánh giá giá trị dịch vụ HST của các HST không nằm trong đối tượng bảo tồn nhưng có những vai trò quan trọng khác đối với vùng bờ như bảo vệ bờ biển, tạo không gian công cộng cho khai thác, sử dụng tài nguyên vùng bờ… cũng cần được tiến hành. Đối với các HST này, việc có bảo vệ hay không phụ thuộc vào mục tiêu phát triển và tính bền vững của quy hoạch phát triển của vùng bờ.

Tài liệu tham khảo

  1. Department of Environmental Affairs and Development Planning, 2010. Development of a Methodology for Defining and Adopting Coastal Development Setback Lines.
  2. ConScience, 2010. On the use of setback lines for coastal protection in Europe and the Mediterranean: Practice, problems and perspectives;
  3. Inter-American Development Bank (IDB), 2012. Coastal Setback in Latin America and the Caribbean: A Study of Emerging Issues and Trends that Inform Guidelines for Coastal Planning and Development;
  4. Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo;
  5. M. Sanò, J.A. Jiménez, R. Medina, A. Stanica, A. Sanchez-Arcilla, I. Trumbic, 2011. The role of coastal setbacks in the context of coastal erosion and climate change. Ocean & Coastal Management. Elsevier 2011;
  6. Marcello Sanò & Marcel Marchand & Raúl Medina, 2010. Coastal setbacks for the Mediterranean: a challenge for ICZM. Journal of Coastal Conservation 2010;

 

ThS. Nguyễn Công Minh

Phạm Thị Quỳnh Oanh

Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên - môi trường biển khu vực phía Bắc, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam

(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường số Chuyên đề Tiếng Việt IV năm 2018)

Thống kê

Lượt truy cập: 633058