--%>

    Trong thời gian vừa qua, trên các phương tiện thông tin đại chúng có phản ánh nhiều tỉnh, thành phố đã xuất hiện tình trạng nhập khẩu và buôn bán loài tôm hùm nước ngọt. Qua xác định, tôm hùm nước ngọt là một loài xâm hại nguy hiểm, cũng là loài xâm lấn điển hình, đã từng gây ra dịch hại xâm lấn nghiêm trọng nơi chúng sinh sống ở nhiều nơi trên thế giới. Việc nhập khẩu, phát triển, kinh doanh loài này trái quy định pháp luật về đa dạng sinh học và thủy sản.

Sự nguy hại của loài tôm hùm nước ngọt

   Tôm hùm nước ngọt (còn có tên gọi trong dân gian là tôm hùm đất) có tên khoa học là Procambarus clarkii, thuộc danh mục loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại ban hành kèm theo Thông tư số 35/2018/TT-BTNMT ngày 28/12/2018 của Bộ trưởng Bộ TN&MT quy định tiêu chí xác định và ban hành Danh mục loài ngoại lai xâm hại. Loài này không có tên trong Danh mục loài thủy sản được phép sản xuất kinh doanh tại Việt Nam (Phụ lục VIII ban hành kèm theo Nghị định số 26/2019/NĐ-CP ngày 8/3/2019 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thuỷ sản). Như vậy, việc nhập khẩu, phát triển, kinh doanh loài này là trái quy định pháp luật về đa dạng sinh học và thủy sản.

   Tôm hùm nước ngọt có nguồn gốc từ Bắc Mỹ, là loài động vật ăn tạp, có khả năng thích nghi cao với môi trường, nhanh chóng thiết lập quần thể ở nơi chúng xuất hiện và cuối cùng trở thành loài chủ chốt của hệ sinh thái. Các tác động của loài đến môi trường và đa dạng sinh học đã được ghi nhận trên thế giới gồm cạnh tranh môi trường sống, truyền bệnh cho các loài tôm bản địa, giảm quần thể thực vật thủy sinh, động vật không xương sống, động vật thân mềm và động vật lưỡng cư thông qua mối quan hệ ăn thịt và cạnh tranh; có thể ảnh hưởng tới việc thay đổi chất lượng nước và đặc điểm trầm tích, tích lũy kim loại nặng; có khả năng đào hang gây thiệt hại cho hệ thống tưới tiêu nông nghiệp; có tác động đến ngành đánh bắt cá...  Loài này đã được ghi nhận xâm lấn tại nhiều nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Kenya, Ai Cập, Uganda, Zambia, Mê hi cô, Cộng hòa Síp, Pháp, Ý, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha... Việc du nhập tôm hùm nước ngọt có thể gây ra những thay đổi đáng kể trong quần xã thực vật và động vật bản địa. 

    Tại Việt Nam, tôm hùm nước ngọt được nhập vào từ Trung Quốc với mục đích nuôi thử nghiệm ở diện hẹp. Năm 2008, Bộ NN&PTNT đã cho phép Viện Nuôi trồng thủy sản I thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật nuôi thương phẩm tôm hùm nước ngọt ở các tỉnh miền Bắc phục vụ phát triển vùng nguyên liệu xuất khẩu” và “Dự án nhập công nghệ sản xuất giống tôm hùm nước ngọt phục vụ phát triển vùng nguyên liệu xuất khẩu ở các tỉnh miền Bắc”. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tôm hùm nước ngọt có khả năng sinh trưởng và phát triển tại miền Bắc nước ta do chúng là loài thủy sinh vật dễ nuôi, ít dịch bệnh. Tuy nhiên giá trị kinh tế không cao, tỉ lệ thịt so với khối lượng cơ thể thấp, cỡ thương phẩm nhỏ (30-50 g), có nhiều đặc tính của sinh vật ngoại lai có nguy cơ xâm hại như: ăn tạp, phàm ăn, cạnh tranh thức ăn, có thể chiếm nơi sống của loài bản địa, có khả năng gây hại sinh vật bản địa, đào hang hốc (sâu đến 2 m) và có thể gây hại cho các công trình thủy sản, đê điều nếu thoát ra ngoài… Vì vậy, Viện đã khuyến cáo không nên phát triển nuôi đối tượng này ngay sau khi kết thúc nghiên cứu vào năm 2010.

Các chế tài xử lý đối với việc nhập khẩu, phát tán, sản xuất, kinh doanh tôm hùm nước ngọt 

   Trong thời gian qua, tại nhiều tỉnh, thành phố đã xuất hiện tình trạng nhập khẩu và buôn bán loài tôm hùm nước ngọt. Việc nhập khẩu, phát tán loài ngoài lai có nguy cơ xâm hại chưa được cấp phép là trái với quy định của pháp luật và có thể bị xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật.

    Theo quy định, loài tôm hùm nước ngọt là loài có nguy cơ xâm hại được quy định tại Phụ lục II của Thông tư số 35/2018/TT-BTNMT, đồng thời không phải loài trong Danh mục thủy sản được phép sản xuất, kinh doanh ở Việt Nam. Do đó, để được phép nhập khẩu dùng làm thực phẩm, loài phải được “đánh giá rủi ro theo quy định và được Bộ NN&PTNT cấp phép” (Khoản 4, Điều 98, Luật Thủy sản 2017). Như vậy, chiểu theo các quy định của pháp luật, việc nhập khẩu, kinh doanh loài tôm hùm nước ngọt là trái với các quy định của pháp luật và có thể bị xử phạt.

   Điều 10, Nghị định số 185/2013/NĐ-CP, ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi buôn bán hàng cấm (là hàng hóa chưa được phép lưu hành, sử dụng tại Việt Nam). Theo đó, các hành vi buôn bán loài tôm hùm nước ngọt sẽ bị xử phạt từ 500.000 đồng đến 100.000.000 đồng tùy theo giá trị của tang vật. Ngoài ra, cần phải áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả gồm “Buộc tiêu hủy tang vật là hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng, môi trường…”.

   Theo quy định tại Khoản 7, Điều 43 Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT: Hành vi nhập khẩu loài động vật, thực vật ngoại lai xâm hại bị xử phạt từ 20.000.000 đồng đến 1.000.000.000 tùy theo giá trị tang vật từ dưới 10.000.000 đồng đến dưới 250.000.000 đồng. Ngoài ra, biện pháp khắc phục hậu quả là buộc tái xuất toàn bộ loài ngoại lai xâm hại nhập khẩu trái phép ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với trường hợp vi phạm quy định tại khoản 6 và khoản 7 Điều này. Trường hợp không thể tái xuất được thì buộc tiêu hủy toàn bộ loài ngoại lai xâm hại nhập khẩu trái phép.

   Điều 246, Bộ Luật Hình sự 2015 quy định: Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 1 năm đến 5 năm đối với các hành vi: Nhập khẩu trái phép loài động vật, thực vật ngoại lai xâm hại hoặc loài động vật, thực vật ngoại lai có nguy cơ xâm hại trong trường hợp vật phạm pháp trị giá từ 250.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc trong trường hợp vật phạm pháp trị giá dưới 250.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm; Phát tán loài động vật, thực vật ngoại lai xâm hại hoặc loài động vật, thực vật ngoại lai có nguy cơ xâm hại, gây thiệt hại về tài sản từ 150.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

   Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 3 năm đến 7 năm: Có tổ chức; Nhập khẩu trái phép loài động vật, thực vật ngoại lai xâm hại hoặc loài động vật, thực vật ngoại lai có nguy cơ xâm hại trong trường hợp vật phạm pháp trị giá 500.000.000 đồng trở lên; Phát tán loài động vật, thực vật ngoại lai xâm hại hoặc loài động vật, thực vật ngoại lai có nguy cơ xâm hại, gây thiệt hại về tài sản 500.000.000 đồng trở lên; Tái phạm nguy hiểm.

    Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

    Ngoài ra việc nhập khẩu không khai báo tôm hùm nước ngọt cũng vi phạm quy định tại Nghị định số 127/2013/NĐ-CP ngày 15/10/2013 về quy định xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan. Theo đó, tại khoản 1, Điều 7 quy định: Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi không khai hoặc khai không đúng các nội dung trên tờ khai hải quan mà không thuộc các trường hợp nêu tại các Khoản 2, 3, 4 Điều này và Điều 8, Điều 13, Điều 14 Nghị định này.

Tăng cường kiểm soát loài tôm hùm nước ngọt 

   Hiện nay, trên thế giới đã áp dụng các biện pháp kiểm soát loài tôm hùm nước ngọt với các biện pháp cơ học, hóa học và sinh học. Theo đó, biện pháp cơ học được áp dụng là dùng bẫy, lưới vợt, lưới vây và đánh bắt bằng điện. Các biện pháp kiểm soát khác có thể kể đến là thoát nước ao nuôi để bắt tận diệt tôm con, chỉnh dòng của các con sông, hoặc xây dựng cơ học, hàng rào điện để hạn chế sự phát tán của loài tôm này. Biện pháp hóa học có thể sử dụng hóa chất để kiểm soát tôm bao gồm lân hữu cơ, clo hữu cơ và thuốc trừ sâu tổng hợp pyrethroid; những cá thể chịu các mức ảnh hưởng khác nhau tùy thuộc vào kích thước của chúng, các cá thể kích thước nhỏ hơn thì bị ảnh hưởng nặng nề hơn.  Biện pháp kiểm soát sinh học có thể sử dụng các động vật ăn thịt cá, sinh vật gây bệnh và sử dụng các vi sinh vật sản xuất độc tố như vi khuẩn Bacillus thuringiensis var. israeliensis.  

   Để tăng cường công tác quản lý, ngày 27/5/2019, Bộ TN&MT đã có Công văn số 2417/BTNMT-TCMT gửi UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Tổng cục Hải quan; Tổng cục Quản lý thị trường; Cục Cảnh sát môi trường đề nghị phối hợp tăng cường kiểm soát loài tôm hùm nước ngọt nhằm bảo vệ đa dạng sinh học, môi trường và tránh các tác động của tôm hùm nước ngọt tới nền kinh tế. Đồng thời, ​Bộ TN&MT đề nghị UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan liên quan chỉ đạo các đơn vị trực thuộc tổ chức kiểm tra và xử lý nghiêm theo quy định pháp luật đối với các trường hợp vi phạm; Tăng cường kiểm soát, ngăn chặn sự phát tán của loài này ra môi trường tự nhiên; Khi phát hiện có phát tán ra môi trường, phải có biện pháp khoanh vùng, cô lập và diệt trừ loài tôm hùm nước ngọt; Tuyên truyền, phổ biến về tác hại của loài tôm hùm nước ngọt đối với môi trường, đa dạng sinh học.

 

    Hiện nay, trên các phương tiện truyền thông có đăng tải thông tin nhầm lẫn giữa loài tôm hùm nước ngọt (Procambarus clarkii) và tôm càng đỏ (Cherax quadricarinatus). Đây là hai loài khác nhau song đều nằm trong Danh mục loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại ban hành kèm theo Thông tư số 35/2018/TT-BTNMT ngày 28/12/2018 của Bộ trưởng Bộ TN&MT.

Tôm hùm nước ngọt (Procambarus clarkii)

- Kích thước: Cá thể trưởng thành trọng lượng từ 5-10 g tới 50-60 g với tổng chiều dài trong khoảng 5.5-6.5 cm tới 10.5 tới 11.5 cm. Kích thước thương mại phổ biến là 10-30 g hoặc 7.5-10.5 cm.

- Màu sắc: toàn thân có màu sắc chủ yếu là màu đỏ đến màu đỏ sẫm. Trước khi trưởng thành, màu sắc chủ yếu là màu nâu xanh, với độ đậm được quyết định bởi độ trong của nước. Tuy nhiên, các sắc tố đỏ có thể xuất hiện trên các phần phụ, đặc biệt là các chân bơi.

- Đặc điểm nổi bật và dễ nhận dạng nhất của loài: là chủy và vùng sau chủy tạo thành hình mũi nhọn, các gai mép bên chủy khá phát triển, rãnh đầu ngực rất hẹp, các chấm màu đỏ xuất hiện ở hai càng, cạnh bên của càng có nhiều bướu nhỏ (xem hình minh họa).

 

Hình minh họa các đặc điểm nhận dạng nhanh cho loài Procambarus clarkii

 

Tôm càng đỏ (Cherax quadricarinatus)

- Kích thước: Chiều dài tổng số tối đa lên tới 35 cm, hiếm khi lớn hơn.

- Màu sắc: có màu xanh, lốm đốm với màu be và đỏ trên khớp và cơ thể, các mảng màu đỏ bên trên các phần bụng. Đặc biệt, cá thể đực trưởng thành có vệt/mảng  màu đỏ tươi ở mặt ngoài của cặp đôi càng đầu tiên.

- Một số đặc điểm nhận dạng khác: là có 4 gờ trông rõ trên giáp đầu ngực. Mép bên chủy có từ 3 đến 5 đôi gai.

 

Hình minh họa các đặc điểm nhận dạng nhanh cho loài Cherax quadricarinatus

 

Nguyên Hằng 

(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường, số 6/2019)

Thống kê

Lượt truy cập: 113237