--%>

    Hiện nay, để phát triển bền vững làng nghề, bên cạnh hiệu quả kinh tế - xã hội (KT-XH), sản phẩm của làng nghề còn phải đáp ứng được các tiêu chí về môi trường như: Nguyên, nhiên vật liệu sản xuất thân thiện với môi trường, công nghệ sản xuất không ảnh hưởng đến môi trường, sản phẩm, phế liệu sau khi sử dụng có thể tái chế hoặc phân hủy... Điều đó đòi hỏi cần đẩy mạnh thực hiện tổ chức, sắp xếp lại cơ cấu các làng nghề nhằm tạo ra những sản phẩm đáp ứng yêu cầu của thị trường, giúp các làng nghề phát triển ổn định trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa phát triển KT-XH, gắn với BVMT.

    Theo thống kê của Bộ NN&PTNT, đến nay, cả nước có khoảng 5.400 làng nghề, trong đó có khoảng 2.000 làng nghề truyền thống đã được công nhận. Trong đó, có 60% làng nghề tập trung khu vực phía Bắc như: Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Ðịnh... Miền Trung chiếm khoảng 23,6%, tập trung chủ yếu ở các tỉnh như Quảng Nam, Thừa Thiên - Huế và miền Nam chiếm khoảng 16,6%, tập trung chủ yếu ở Cần Thơ, Ðồng Nai, Bình Dương. Những năm qua, cùng với việc thực hiện chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” do Chính phủ triển khai, các làng nghề đã tích cực tái cơ cấu, qua đó đóng góp cho xã hội một lượng lớn sản phẩm hàng hóa, giải quyết công ăn việc làm và tăng thu nhập cho hàng triệu lao động. Tuy nhiên, về tổng thể, cơ cấu các làng nghề ở Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển làng nghề theo hướng bền vững. Đặc biệt, tình trạng ô nhiễm môi trường làng nghề hiện nay đang ở mức báo động, ảnh hưởng đến môi trường và đời sống con người. Theo Hiệp hội làng nghề Việt Nam, 46% số làng nghề trong diện điều tra có môi trường bị ô nhiễm nặng, 27% làng nghề ô nhiễm vừa. Trong đó, hàm lượng các chất ô nhiễm theo các chỉ số COD, BOD5 hay tổng số vi khuẩn coliform trong nước thải làng nghề đều vượt tiêu chuẩn cho phép hàng chục lần, một số nơi lên đến hàng nghìn lần. Ngoài ra, hầu hết các làng nghề đều có hàm lượng bụi vượt tiêu chuẩn cho phép, nồng độ khí SO2 tại các làng nghề cao hơn nhiều lần so với tiêu chuẩn. Tình trạng ô nhiễm môi trường tập trung vào các loại hình làng nghề đặc trưng như chế biến lương thực, thực phẩm, vật liệu xây dựng, dệt nhuộm, tái chế giấy, tái chế nhựa, tái chế kim loại, thủ công mỹ nghệ... Điển hình tại làng nghề tái chế nhôm Mẫn Xá (Văn Môn, Yên Phong, Bắc Ninh). Theo đánh giá hiện trạng môi trường ở Văn Môn của ngành chức năng trong năm 2019 cho thấy, trung bình mỗi ngày, xã phát sinh khoảng 30 - 40 tấn chất thải rắn bã thải xỉ nhôm, xỉ than từ quá trình cô đúc kim loại, chưa được thu gom triệt để, còn hiện tượng đổ tràn xuống đường giao thông, kênh mương nội đồng và các khu đất trống. Kết quả quan trắc chất lượng môi trường không khí cũng cho thấy, các chỉ tiêu phân tích (tiếng ồn, bụi, SO2, NO2) đều vượt quy chuẩn cho phép từ 1,2 - 1,8 lần. Nguồn nước thải từ sản xuất, sinh hoạt, chăn nuôi chưa được thu gom, xử lý, xả trực tiếp ra các ao, hồ, gây ô nhiễm nghiêm trọng. Kết quả quan trắc chất lượng nước mặt cho thấy, các chỉ tiêu phân tích (pH, BOD5, COD, SS, Fe, Cu, Ni, Pb, dầu mỡ) cao hơn chuẩn cho phép từ 1,5 - 16 lần.

 

Rác thải nguy hại, nguyên liệu tái chế nhôm chất đống hai bên đường tại Mẫn Xá, Yên Phong, Bắc Ninh

 

    Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng trên là do việc tái cơ cấu làng nghề chưa được thực hiện triệt để nên đa số các làng nghề có quy mô sản xuất nhỏ, vốn đầu tư thấp nên khó có điều kiện phát triển hoặc đổi mới công nghệ theo hướng thân thiện với môi trường. Các cơ sở sản xuất trực tiếp trong các làng nghề chưa đầu tư xây dựng công trình xử lý nước thải, không có các hạng mục, công trình BVMT theo quy định nên hầu hết chất thải độc hại được thải trực tiếp ra môi trường, không qua xử lý. Bên cạnh đó, do không nhận thức được tác hại lâu dài của ô nhiễm môi trường, chỉ quan tâm đến lợi nhuận mà nhiều cơ sở sản xuất còn sử dụng các nguyên liệu rẻ tiền, hóa chất độc hại nhằm hạ giá thành sản phẩm, làm chất lượng môi trường khu vực các làng nghề ngày càng xấu đi.

    Do đó, tái cơ cấu là yêu cầu cấp bách để các làng nghề phát triển bền vững. Quá trình tái cơ cấu phải bảo đảm các làng nghề đạt được mục tiêu KT-XH, cũng như BVMT. Để thực hiện được yêu cầu trên, cần thực hiện có hiệu quả những giải pháp sau:

    Thứ nhất, quy hoạch lại làng nghề gắn với BVMT. Đây là giải pháp quan trọng nhất, bởi thực tế hiện nay đa số làng nghề đều tập trung ở khu vực đông dân cư, dẫn đến khó mở rộng sản xuất, đồng thời ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường đến người dân nặng nề hơn. Vì vậy, các địa phương cần sớm có quy hoạch làng nghề để di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường ra khỏi khu vực dân cư. Đồng thời, các khu vực này phải xây dựng cơ sở hạ tầng, kỹ thuật, đặc biệt là các công trình xử lý môi trường.

    Việc quy hoạch cần căn cứ vào đặc điểm của từng làng nghề để có phương án phù hợp. Với những làng nghề có quy mô nhỏ, sản xuất phân tán, mới hình thành có thể quy hoạch tập trung, di dời toàn bộ ra khỏi khu vực dân cư, xây dựng hạ tầng kỹ thuật đồng bộ như giao thông, hệ thống điện, nước, hệ thống thu gom và xử lý chất thải và các khu sản xuất phù hợp với đặc thù của từng làng nghề. Với những làng nghề truyền thống lâu đời, sản xuất quy mô lớn cần phải tổ chức bố trí cải thiện được điều kiện sản xuất, vệ sinh môi trường mà không cần phải di dời, hạn chế tối đa việc cơi nới, xây nhà cao tầng để lưu giữ được nét truyền thống của làng nghề. Hoặc có thể di dời các công đoạn sản xuất gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ra khỏi khu vực dân cư như công đoạn kéo kén của nghề tơ tằm, công đoạn sấy lưu huỳnh của làng nghề mây tre đan, công đoạn mạ của nghề kim khí... Các cơ quan quản lý Nhà nước địa phương cần đẩy mạnh công tác kiểm tra, đánh giá môi trường làng nghề. Đối với các dự án sản xuất phải có đánh giá tác động môi trường và kiểm tra trước khi đi vào hoạt động. Tăng cường công tác kiểm tra, đình chỉ hoạt động sản xuất với những cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường.

   Thứ hai, phát triển các sản phẩm làng nghề thân thiện với môi trường. Các làng nghề cần ưu tiên phát triển những sản phẩm “sạch”, thân thiện với môi trường. Để làm được điều này, trước hết, các địa phương cần xây dựng vùng nguyên liệu sạch và khuyến khích các làng nghề sản xuất sạch hơn. Đồng thời, cần giữ gìn và phát huy những sản phẩm có giá trị văn hóa, truyền thống như vẽ tay trên sản phẩm gốm sứ hay đan tay trong sản phẩm mây tre đan...

    Thứ ba, đầu tư đổi mới công nghệ, thiết bị, ứng dụng thành tựu cách mạng công nghiệp lần thứ 4 vào trong quá trình sản xuất. Cần đẩy mạnh thay đổi công nghệ, thiết bị theo hướng gia tăng tỷ lệ công nghệ, thiết bị tiên tiến, hiện đại, giảm tỷ lệ công nghệ, thiết bị lạc hậu trong các làng nghề. Để làm được điều này, Nhà nước, các địa phương cần khuyến khích, hỗ trợ các làng nghề đầu tư đổi mới ứng dụng công nghệ, thiết bị tiên tiến, đặc biệt là những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 vào sản xuất, ưu tiên lựa chọn các công nghệ, thiết bị giúp giảm thiểu hoặc khắc phục ô nhiễm môi trường. Quá trình đổi mới công nghệ, thiết bị, ứng dụng thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 vào trong quá trình sản xuất của các làng nghề phải đi đôi với đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, vừa vững tay nghề, vừa sử dụng được công nghệ, thiết bị hiện đại trong sản xuất.           

 

Mô hình làng nghề kết hợp với du lịch tại Bát Tràng, Gia Lâm, Hà Nội

 

   Thứ tư, xây dựng mô hình làng nghề kết hợp với du lịch. Để các làng nghề phát triển theo hướng bền vững, cần khôi phục bản sắc văn hóa, phát triển các sản phẩm mang tính đặc trưng và có tính nghệ thuật cao. Đặc biệt, cần đặt vấn đề vệ sinh môi trường lên hàng đầu, vì đây là một trong những yếu tố quan trọng để thu hút khách du lịch. Kết hợp chặt chẽ với các đơn vị lữ hành, đưa làng nghề tham gia vào chuỗi các tour, tuyến du lịch. Đầu tư kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch như đường giao thông, nơi lưu trú, các công trình văn hóa, di tích lịch sử phục vụ du lịch. Đào tạo lao động, bao gồm cả lao động làm nghề và lao động làm công việc liên quan đến du lịch để các làng nghề vừa có nguồn thu từ hoạt động sản xuất, vừa có nguồn thu từ hoạt động dịch vụ du lịch. Đó sẽ là nguồn động lực quan trọng để mỗi làng nghề phát triển bền vững cả về KT-XH và môi trường.

                                                       Hoàng Văn Niên

(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường số 4/2020)

Thống kê

Lượt truy cập: 1483858