--%>

     Kinh tế tuần hoàn (KTTH) là xu hướng tất yếu trong bối cảnh phát triển hiện đại. Đó là nền kinh tế mà giá trị của sản phẩm, vật liệu và tài nguyên được duy trì lâu nhất có thể và sự phát thải được giảm thiểu. KTTH dựa trên triết lý và nguyên lý mới, theo đó tài nguyên thiên nhiên là hữu hạn và mọi thứ lấy từ tự nhiên cần được sử dụng hợp lý, thông minh, được tuần hoàn tái chế để duy trì lâu dài nền tảng tự nhiên cho tất cả mọi thế hệ phát triển.

     Chính sách phát triển KTTH ở nước ta cần hướng tới tạo dựng hệ sinh thái cho phát triển mô hình KTTH gắn với bảo vệ tài nguyên và môi trường (TN&MT). Hệ sinh thái này bao gồm một khung khổ pháp lý cùng với các chính sách và công cụ thúc đẩy.

    1. Đặt vấn đề

     Trongnhững năm qua, tăng trưởng, phát triển kinh tế được yêu cầu gắn với tính chất bền vững, xanh và hiện nay bổ sung thêm là tuần hoàn, chia sẻ. Trong công tác quản lý ở Việt Nam hiện nay, không chỉ các nhà khoa học mà các nhà lãnh đạo và quản lý cũng quan tâm tới KTTH và coi KTTH là một định hướng mới, quan trọng trong thực hiện phát triển bền vững (PTBV) đất nước.Bài viết này đề cập tới KTTH dưới góc nhìn TN&MT cùng một số gợi ý chính sách phát triển KTTH trong bảo vệ TN&MT ở nước ta.

     2. KTTH dưới góc nhìn TN&MT

     KTTH được đề cập trong rất nhiều tài liệu khoa học quốc tế và Việt Nam. Tuy vậy, như một bài nghiên cứu gần đây có tiêu đề “Khái niệm KTTH: Gốc rễ và sự tiến hóa của nó”, tập trung vào làm rõ khái niệm KTTH đã nhận xét “Mặc dù, chủ đề KTTH nhận được sự quan tâm ngày càng tăng trong các tài liệu khoa học trong những năm gần đây nhưng sự khác nhau về định nghĩa thế nào là KTTH đã dẫn đến các quan niệm khác nhau”. Cũng theo nghiên cứu này, gốc rễ của KTTH (circular economy) bắt nguồn từ kinh tế học sinh thái (ecological economics), kinh tế học môi trường (environmental economics) và sinh thái học công nghiệp (industrial ecology). Trong số các định nghĩa thì định nghĩa của Hội đồng châu Âu (EU) về KTTH thích hợp hơn cả vì phản ánh đúng bản chất và bao quát tốt nội hàm cần có, theo đó “KTTH là nền kinh tế mà ở đó giá trị của sản phẩm, vật liệu và tài nguyên được duy trì lâu nhất có thể và sự phát thải được giảm thiểu”Nhiều nhà kinh tế học đã từ lâu và liên tục nêu ý tưởng và đặt nền tảng cả về nhận thức cũng như cơ sở lý luận cho tuần hoàn tài nguyên tự nhiên trong sử dụng, bắt nguồn từ mối quan hệ gắn bó hữu cơ giữa kinh tế và môi trường. Trong đó, họ phê phán nhận thức và các lý thuyết kinh tế học hiện đại đã không chú ý tới môi trường, thậm chí coi thường, làm tổn hại tới môi trường như là nguồn cung cấp tài nguyên và nơi tiếp nhận chất thải từ các hoạt động kinh tế. Các lý thuyết kinh tế thị trường hiện đại được cáo buộc là quá coi trọng mục tiêu doanh thu, lợi nhuận mà lãng quên, bỏ qua mục tiêu gìn giữ, bảo vệ nguồn cung cấp tài nguyên và tiếp nhận chất thải cho tăng trưởng, phát triển kinh tế. Sự cáo buộc chủ yếu phê phán mô hình kinh tế được gọi là tuyến tính (linear economic model) là tài nguyên là đầu vào đi từ môi trường phục vụ cho kinh tế (sản xuất, tiêu dùng) rồi quay trở lại môi trường là chất thải (Hình 1). Mô hình kinh tế tuyến tính, như tên gọi của nó, có đặc trưng là mọi hoạt động kinh tế đều đi theo đường thẳng, từ “chiếc nôi” (khai thác tài nguyên tự nhiên) đi tới “nấm mồ” (thải bỏ trở lại tự nhiên). Mô hình kinh tế này vừa tăng đầu vào (tài nguyên) vừa thải ra ngày càng nhiều chất thải, tạo gánh nặng và gây tổn hại ngày càng lớn cho môi trường.

Môi trường      →      Tài nguyên      →      Sản xuất       →     Tiêu dùng     →     Thải bỏ

Hình 1. Mô hình kinh tế tuyến tính

 

     Sự cảnh báo khác cũng đến từ các nhà môi trường về sự suy thoái, ô nhiễm, cạn kiệt TN&MT ngày càng tăng, đòi hỏi, yêu cầu hành động thay đổi nhận thức và mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tếđạt được cả mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và mục tiêu gìn giữ, bảo vệTN&MT. Đã từng có những chứng cứ khoa học rõ ràng được đưa ra với lời cảnh báo mạnh mẽ, như phải “Cứu lấy hành tinh: Bây giờ hoặc không bao giờ!”, “và cuộc tuyệt chủng quy mô lớn lần thứ 6 đang diễn ra - lần này là do chính hành vi của con người gây ra”. Biến đổi khí hậu càng làm cho tính cấp bách của hành động trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết. Có thể nói chính những cảnh báo liên tục của các nhà môi trường đã là những “cú thúc” mạnh mẽ buộc các hoạt động kinh tế và quản lý phát triển phải thay đổi nhận thức và hành động, dẫn tới sự đồng thuận, cam kết phát triển với trách nhiệm bảo toàn, bảo vệ nền tảng tự nhiên và cơ hội phát triển cho các thế hệ sau là TN&MT. PTBV ra đời với nội hàm cơ bản là hài hòa các mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường trở thành quan điểm, định hướng phát triển được đồng thuận của tất cả các quốc gia.

     Nhiều mô hình về PTBV được đề xuất và áp dụng trong thực tế, như mô hình kinh tế xanh, mô hình kinh tế chia sẻ, mô hình kinh tế sinh thái và gần đây là mô hình kinh tế tuần hoàn. Điểm chung nhất trong các mô hình ấy là tăng trưởng, phát triển kinh tế thân thiện với môi trường trong khi đem lại các lợi ích kinh tế - xã hội (KT - XH) lớn hơn. Mô hình KTTH rất đa dạng, bao quát từ các sản phẩm được sử dụng không đầy đủ đem chia sẻ với các cá nhân, tổ chức khác có nhu cầu (thí dụ như grab taxi hay phòng khách sạn); kéo dài tuổi thọ, tái sử dụng sản phẩm cho tới tái chế các thứ thải bỏ (chất thải) làm nguyên vật liệu cho sản xuất của chính mình hay sản xuất khác. Thậm chí hiện nay nhiều doanh nghiệp còn phát triển mô hình KTTH xa hơn trên nền tảng một triết lý kinh doanh mới là coi “sản phẩm là dịch vụ” (“product as a service”). Điểm khác biệt của mô hình kinh doanh mới này là bên cạnh mô hình kinh doanh truyền thống “mua và sở hữu” (“buy and own”) áp dụng cả mô hình “mua và không sở hữu”, mà ở đó sản phẩm được sử dụng bởi một hay nhiều người thông qua hình thức cho thuê hay trả tiền khi sử dụng (a lease or pay-for-use arrangement). Thí dụ, Tập đoàn quốc tế Michelin (Pháp) chuyên sản xuất lốp xe hơi đang áp dụng mô hình kinh doanh “lốp xe là dịch vụ” (“tires as a service”), theo đó khách hàng trả tiền lốp xe theo km sử dụng thay vì trả tiền mua để sở hữu lốp xe. Nhờ vậy, khách hàng không phải lo lắng vì những rắc rối hay hư hỏng hoặc bảo dưỡng lốp xe. Khi nhận lại lốp xe từ khách hàng Tập đoàn này sẽ bảo dưỡng, phục hồi thông qua các giải pháp kỹ thuật thích hợp cho các sử dụng tiếp theo. Các mô hình KTTH là cách thức kéo dài giá trị sử dụng của sản phẩm trước khi thải bỏ ra môi trường. Do vậy, sự tuần hoàn thể hiện một cách nối tiếp liên tục trong tất cả các khâu trong vòng đời của sản phẩm (Hình 2).

 

Sự tuần hoàn trong sử dụng tài nguyên thiên nhiên ngày nay dựa trên một nguyên lý phát triển hoàn toàn mới, khác hẳn với trước đây. Cụ thể, nếu như nguyên lý phát triển trước đây là dựa trên quan niệm tài nguyên thiên nhiên là sẵn có, dồi dào, thậm chí vô hạn thì nguyên lý phát triển ngày nay được quan niệm ngược lại, tài nguyên thiên nhiên tuy là sẵn có, dồi dào nhưng có hạn và là nguồn duy nhất cho mọi hoạt động phát triển trên Trái đất được ví như trên con tầu vũ trụ (the spaceship), theo đó mọi thứ trên con tầu này cần được sử dụng hợp lý, thông minh và được tuần hoàn tái chế để đảm bảo cho chuyến bay lâu dài.

Hình 2. Mô hình KTTH

Nguồn: WBCSD, CEO GUIDE TO THE CIRCULAR ECONOMY, Bản dịch của Hội đồng doanh nghiệp vì sự phát triển bền vững Việt Nam.

 

     Mô hình KTTH đã có từ lâu trong đời sống KT- XH của con người, như sửa chữa để tái sử dụng sản phẩm công nghiệp hay tận dụng một số loại chất thải hữu cơ trong nông nghiệp. Mô hình Vườn - Ao - Chuồng trong nông nghiệp và nông thôn Việt Nam với sự kết nối liên tục giữa các hoạt động trồng trọt và chăn nuôi ở vườn, ao, chuồng tại hộ gia đình đã tồn tại hàng trăm năm cho đến nay. Mạng lưới thu gom đồ thải bỏ như là nguồn cung cấp đầu vào cho các hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp tái chế tồn tại từ lâu ở các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam cũng là mô hình KTTH. Sản xuất sạch hơn mà các nước, trong đó có Việt Nam, đều cố gắng khuyến khích và tạo điều kiện áp dụng dựa trên sáng kiến đề xuất của Tổ chức Phát triển Công nghiệp (UNIDO) và Chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc (UNEP) trong nhiều thập kỷ qua với mục tiêu chính là chủ động phòng ngừa phát sinh chất thải và ô nhiễm đối với môi trường do hoạt động công nghiệp, tập trung vào 8 nhóm giải pháp kỹ thuật, trong đó có 2 nhóm trực tiếp liên quan tới kinh tế tuần hoàn là Tuần hoàn tái sử dụng tại chỗvà tạo ra sản phẩm phụ hữu ích cũng là thực hiện tuần hoàn chất thải ở quy mô nội vi doanh nghiệp. Tuy vậy, mô hình KTTH chỉ trở thành mối quan tâm đặc biệt trong quản lý kinh tế, quản lý phát triển tầm quốc gia, quốc tế, trở thành một mô hình kinh doanh mới của doanh nghiệp, tập đoàn là do sự gia tăng khan hiếm, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm, suy giảm chất lượng môi trường sống và được thúc đẩy, hỗ trợ bởi công nghệ thông tin, nhất là internet kết nối vạn vật (IoT) cũng như những lợi ích KT - XH và môi trường.

     Riêng đối với chất thải, mô hình KTTH thường là mô hình mà ở đó duy trì lâu nhất có thể giá trị của sản phẩm, vật liệu, tài nguyên, qua đó giảm thiểu thải bỏ ra môi trường. Trong KTTH, chất thải được quan niệm là tài nguyên thứ cấp cần được tái sử dụng, tái chế tối đa có thể và nó không chỉ ở dạng vật lý, như mảnh vụn kim loại hay chai, cốc, lọ nhựa bỏ đi mà còn cả ở dạng trừu tượng, như phòng khách sạn không được sử dụng hay chỗ ngồi trống trên ô tô.

     Sự gia tăng nhanh chóng lượng chất thải đang tạo sức ép ngày càng tăng lên môi trường và tác động tiêu cực ngày càng nhiều tới chất lượng sống của con người thúc ép phải hành động. Sử dụng tuần hoàn chất thải hiện được coi là hành động, là cách thức căn cơ, triệt để và hữu hiệu nhất. Với sự tuần hoàn, đúng hơn là tái sử dụng và tái chế nhiều nhất có thể chất thải, cả kinh tế và cả môi trường đều có lợi, cụ thể: kinh tế có thêm nguồn “đầu vào” với chi phí nhìn chung thấp hơn nhiều so với khai thác từ tự nhiên, còn môi trường giảm bớt được cả sự mất đi tài nguyên lẫn gánh nặng tiếp nhận chất thải. Thực tế áp dụng mô hình KTTH ở nhiều nước trên thế giới và Việt Nam cho thấy áp dụng mô hình KTTH đem lại nhiều cơ hội gia tăng GDP, việc làm, doanh thu, tiết kiệm năng lượng, ... (Hộp 1).

 

Hộp 1. Một số lợi ích và cơ hội từ mô hình KTTH

- So với 2015, GDP toàn cầu có thể tăng thêm 1,5 nghìn tỷ USD vào năm 2020; 2,7 nghìn tỷ USD vào năm 2025 và 4,5 nghìn tỷ USD vào năm 2030.

- Nước Pháp có thể tạo thêm 500.000 việc làm. Các nước EU có thể tiết kiệm 37% năng lượng tiêu thụ.

- Doanh thu tiềm năng của các hãng ô tô có thể tăng gấp đôi vào năm 2030, tương đương tăng thêm 400-600 tỷ USD.

Nguồn: WBCSD, CEO GUIDE TO THE CIRCULAR ECONOMY, Bản dịch của Hội đồng doanh nghiệp vì sự phát triển bền vững Việt Nam.

- Ở Việt Nam đã xuất hiện một số mô hình mới hướng đến gần hơn với kinh tế tuần hoàn như: mô hình khu công nghiệp sinh thái tại Ninh Bình, Cần Thơ và Đà Nẵng, giúp tiết kiệm 6,5 triệu USD/năm.

Nguồn:https://baotainguyenmoitruong.vn/kinh-te-tuan-hoan-giup-viet-nam-phat-trien-ben-vung-295663.html, tra cứu ngày 12/11/2019.

 

     Chất thải đang là một vấn đề trong phát triển, thậm chí còn là vấn nạn ở một số quốc gia, bởi chưa tìm ra cách thức hữu hiệu để giải quyết. Các quốc gia phát triển thì tìm cách xuất khẩu rác thải dưới nhiều hình thức, còn nhiều quốc gia đang hay kém phát triển thì lại nhập khẩu rác thải để tái sử dụng hay tái chế với công nghệ thủ công, để rồi cuối cùng trở thành nơi tập kết rác cuối cùng kết thúc vòng đời sản phẩm ở “nấm mồ” là bãi chôn lấp rác ở chính quốc gia mình. Ở quy mô toàn cầu, đó là vòng luẩn quẩn của bài toán chất thải mà thực chất chỉ là chuyển rác thải từ nơi (quốc gia) này sang nơi (quốc gia) khác với sự tái sử dụng hay tái chế nhỏ bé mà chưa phải đích thực, đúng nghĩa là tuần hoàn chất thải. Nghĩa là vẫn là hành trình từ “cái nôi” đến “nấm mồ” mà chưa phải chu trình khép kín không nhắm tới đích “nấm mồ”.

     KTTH là mô hình kinh tế mới và để phát triển mô hình này cần có chính sách và công cụ thúc đẩy. Tổ chức Thương mại và Phát triển của LHQ (UNCTAD) khái quát các chính sách và công cụ để thúc đẩy áp dụng mô hình KTTH (Bảng 1).

Bảng 1. Các chính sách và công cụ để thúc đẩy áp dụng mô hình KTTH

Mệnh lệnh và Kiểm tra

Kinh tế

Đối tác công - tư

Các tiêu chuẩn chôn lấp và trao đổi chất thải

Thuế chôn lấp và/hoặc đốt chất thải

Tăng cường hạ tầng và logistics

Các yêu cầu tái chế tối thiểu

Các mức thuế đối với các sản phẩm tái sử dụng hay tái chế

Các hệ thống gắn nhãn và công nhận tuần hoàn

Hệ thống hoàn trả đặt cọc, vd: đối với chai lọ nhựa

Giảm thuế VAT đối với dịch vụ sửa chữa và tái sử dụng

Mở rộng trách nhiệm của người sản xuất

Các quy định tuần hoàn công cộng

Tăng thuế đối với các sản phẩm không thể sửa chữa

Chiết khấu đối với hiệu quả tuần hoàn

Các đảm bảo pháp lý mở rộng

Chuyển thuế từ đánh vào lao động sang vào tiêu dùng

Sản phẩm được thiết kế cho tái chế

Các quy định cho thuê và chia sẻ tuần hoàn

Các khuyến khích ngoài sở hữu

Nền tảng số cho tài sản chia sẻ

Nguồn: UNCTAC, 2018, Circular Economy, Policy Brief, No 61.

 

     3. Một số gợi ý chính sách phát triển KTTH để bảo vệ TN&MT ở Việt Nam

     Bảo vệ TN&MT là trọng tâm trong quản lý phát triển theo hướng bền vững ở nước ta. Chất thải gia tăng nhanh chóng đang là vấn đề nóng, thậm chí còn là nguyên nhân tiềm ẩn của nhiều bất ổn trong phát triển ở nhiều địa phương không chỉ các đô thị, khu công nghiệp tập trung mà còn ở nông thôn. Mô hình KTTH hiện đang được Đảng và Nhà nước ta quan tâm tới không chỉ như là giải pháp mà còn là một định hướng quan trọng trong thực hiện phát triển bền vững. Thủ tướng Chính phủ vừa có Quyết định số 999/QĐ-TTg ngày 12/8/2019 Phê duyệt “Đề án thúc đẩy mô hình kinh tế chia sẻ”, trong đó giao trách nhiệm cho Bộ TN&MT là đầu mối nghiên cứu đề xuất các quy định chính sách và các biện pháp về sử dụng, khai thác hiệu quả tài nguyên,BVMT và thúc đẩy tái sử dụng, tái chế chất thải trong các lĩnh vực có liên quan đến mô hình kinh tế chia sẻ. Các chiến lược, quy hoạch quốc gia về TN&MT cho giai đoạn 10 năm tới (2021 - 2030) với tầm nhìn đến 2040, 2050 đang được soạn thảo đều đề cập tới KTTH và mô hình KTTH. Trong lĩnh vực TN&MT thì sự tuần hoàn liên quan chủ yếu tới chất thải, bởi chất thải vừa là tài nguyên nếu nó được tái sử dụng, tái chế cho tiêu dùng tiếp tục hay sản xuất tiếp theo và vừa là vấn đề môi trường nếu nó được thải bỏ. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, bên cạnh phổ biến, nâng cao hiểu biết, nhận thức về KTTH, cần tạo ra hệ sinh thái cho phát triển mô hình KTTH. Hệ sinh thái này bao gồm một khung khổ pháp lý cùng với các chính sách và công cụ thúc đẩy.

     a. Về khung khổ pháp lý:

     Liên quan tới KTTH hiện nay ở nước ta chủ yếu là các quy định về quản lý chất thải, tập trung chủ yếu trong Luật BVMT (Chương IX. Quản lý chất thải), trong đó có quy định về giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải, thu hồi, xử lý sản phẩm thải bỏ. Tuy vậy, như đã nói ở phần trước, các quy định pháp lý hiện hành này cũng như đang được sửa đổi, bổ sung trong phiên bản hiện đang được lấy ý kiến của xã hội chưa bao hàm đầy đủ nội dung mới của KTTH là duy trì lâu nhất có thể giá trị của sản phẩm, vật liệu, tài nguyên và qua đó giảm thiểu thải bỏ ra môi trường. Nghĩa là, trong KTTH chỉ giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải, thu hồi, xử lý sản phẩm thải bỏ thôi thì chưa đủ mà còn cần làm sao duy trì lâu nhất có thể giá trị của sản phẩm, vật liệu, tài nguyên trước khi thải bỏ ra môi trường. Đó chính là điều mà trong Luật Bảo vệ môi trường đang được bổ sung, sửa đổi cần được thể hiện để bắt kịp và thể hiện một xu hướng tất yếu mới, hiện đại trong quản lý phát triển theo hướng bền vững mà Việt Nam đang theo đuổi. Nhiều nghiên cứu quốc tế cũng khuyến nghị rằng với áp dụng KTTH sẽ cần phải điều chỉnh, đưa thêm các khái niệm mới vào các quy định pháp lý hiện hành có liên quan, như thiết kế sản phẩm, chia sẻ sử dụng sản phẩm, dịch vụ, ... nhằm tới mục tiêu thải bỏ ra môi trườngít nhất trong khi vẫn đảm bảo các nhu cầu và lợi ích kinh tế của các nhà đầu tư, nhà sản xuất và người tiêu dùng. Các nền kinh tế phát triển cũng đang điều chỉnh các quy định pháp lý hướng tới KTTH, bởi họ nhận ra rằng có những bất cập về pháp lý hiện hành đang cản trở phát triển KTTH, là các quy định pháp lý hiện hành được thiết kế cho kinh tế tuyến tính, bao gồm cả trong thể chế và cả trong cá trong các thỏa thuận thương mại cũng như trong khuyến khích tài chính cho tuần hoàn và chi phí ô nhiễm, suy giảm, suy thoái tài nguyên, môi trường còn chưa được hạch toán vào chi phí giá cả hàng hóa, dịch vụ.

     b. Về chính sách, công cụ quản lý:

     Cũng như quản lý bất kỳ đối tượng quản lý nào, một loạt các chính sách và công cụ cho KTTH cần được tạo ra, bao gồm cả thay đổi, điều chỉnh cái cũ và tạo dựng cái mới. Mô hình KTTH, như đã đề cập ở trên, là mô hình hoạt động kinh tế mới, không chỉ mở rộng các hoạt động hiện có (3R, sản xuất sạch hơn...) mà còn bao hàm các hoạt động mới trong điều kiện hiện đại (nền tảng công nghệ số, kết nối internet vạn vật...) mới xuất hiện (chia sẻ hàng hóa, dịch vụ mà không cần sở hữu chúng...). Các hình thức thể hiện mô hình KTTH và đi liền với đó là thị trường KTTH, do vậy, cũng đa dạng, phong phú hơn. Mô hình dùng đến đâu trả đến đó (pay-as-you-go model) ngày càng dần trở nên phổ biến đang tạo nên phân khúc nhu cầu và dư địa cho phát triển thị trường hàng hóa, dịch vụ của KTTH. Như vậy, theo nguyên lý và chức năng quản lý nhà nước thì cần có những chính sách, cơ chế đi trước mở đường, tạo hệ sinh thái cho mô hình KTTH phát triển. Hệ sinh thái này, theo khuyến nghị của UNCTAD đã giới thiệu ở trên, bao gồm 3 loại chính sách, công cụ được phối kết hợp với nhau trong tổ chức thực hiện là mệnh lệnh và kiểm tra; kinh tếvà đối tác công - tư (PPP).

     *Công cụ mệnh lệnh và kiểm tra

     Hiện nay, nhất là trong Luật BVMT mới dự kiến ban hành vào cuối năm nay (2020) và những văn bản hướng dẫn Luật này ở các năm sau, có thể cần tính đến điều chỉnh các tiêu chuẩn, quy chuẩn chôn lấp chất thải cao hơn vừa để BVMT tốt hơn vừa để tránh những phản ứng tiêu cực từ phía người dân ở gần bãi chôn lấp hiện đang lan rộng ở nhiều địa phương nước ta.

     Ngoài ra, cần có các quy định bắt buộc cho trao đổi các chất thải không nguy hại đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh, ít nhất là quy định về khai báo, cung cấp thông tin về nguồn thải, chất thải. Khác với trước, việc khai báo, cung cấp thông tin này không chỉ nhằm mục đích đơn thuần là thu thập thông tin phục vụ quản lý chất thải nói chung mà quan trọng hơn là nhắm tới mục tiêu chứng minh mức độ thực hiện trách nhiệm mở rộng của người sản xuất kinh doanh, bao gồm cả tác động ảnh hưởng của thiết kế sản phẩm, dịch vụ; lựa chọn nguyên vật liệu, năng lượng cho sản xuất sản phẩm, dịch vụ; áp dụng mô hình KTTH...

     Với đặc điểm của mô hình KTTH gắn với chia sẻ, cần có các quy định pháp lý về cho thuê và chia sẻ tuần hoàn hàng hóa, dịch vụ, trong đó có chất thải. Cụm từ KTTH, kinh tế chia sẻ nên được nói tới trong Luật BVMT sắp ban hành, bởi 2 lý do: chúng là xu hướng tất yếu trong quản lý phát triển hiện đại và thực tế ở nước ta đã có chính sách chung ban đầu cho mô hình kinh tế chia sẻ, thể hiện qua Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 999/QĐ-TTg ngày 12/8/2019 Phê duyệt “Đề án thúc đẩy mô hình kinh tế chia sẻ” trong các lĩnh vực, trong đó có tài nguyên và môi trường. Hiện Bộ TN&MT đang triển khai nghiên cứu để trình Thủ tướng Chính phủ ban hành vào năm sau (2021) các quy định chính sách và các biện pháp cụ thể về sử dụng, khai thác hiệu quả tài nguyên,BVMT và thúc đẩy tái sử dụng, tái chế chất thải trong các lĩnh vực có liên quan đến mô hình kinh tế chia sẻ.

     *Công cụ kinh tế:

     Nhìn chung, hiện đang có các công cụ kinh tế liên quan đến một số nội dung, khía cạnh của KTTH, như thuế, phí, đặt cọc - hoàn trả... Tuy vậy, vẫn cần những điều chỉnh, bổ sung các công cụ này xuất phát từ và tương ứng với các đặc điểm mới, yêu cầu mới, nội dung mới của KTTH. Cụ thể, cần tính tới phương án điều chỉnh các mức thuế, phí về tài nguyên, môi trường theo nguyên tắc tổng chi phí “đầu vào” sơ cấp (tài nguyên tự nhiên) trong mọi trường hợp luôn cao hơn tổng chi phí “đầu vào” thứ cấp cùng loại (tức tái sử dụng, tái chế).

     Có thể nghiên cứu bổ sung các sắc thuế, phí mới để hỗ trợ, thúc đẩy KTTH như một số nước đã làm, như giảm thuế đối với các sản phẩm tái sử dụng, tái chế, sửa chữa hay có thiết kế sinh thái (ecodesign); tăng thuế đối với các sản phẩm không thể sửa chữa; các khuyến khích ngoài sở hữu; tăng phí đối với thải bỏ chất thải sinh hoạt vượt mức quy định.

     *Đối tác công - tư:

     Cần phải thúc đẩy đối tác công - tư vì lĩnh vực này ở nước ta cho đến nay còn bỏ ngỏ và ở đây chỉ muốn nhấn mạnh 2 công việc liên quan tới thị trường tái chế, tuần hoàn và thông tin, dữ liệu cho KTTH, trong đó đầu tiên là tạo “sân chơi”, tiếp theo là cung cấp “nguyên liệu” ban đầu cho các quyết định đối tác công - tư.

     Về tạo dựng và phát triển thị trường tái chế, tuần hoàn: Sự tham gia của khu vực tư nhân là yếu tố, điều kiện tiên quyết cho áp dụng thành công mô hình KTTH. Đối tác công - tư là chủ trương lớn trong quản lý phát triển nói chung, tài nguyên và môi trường nói riêng. Một số chính sách về xã hội hóa, huy động khu vực tư nhân tham gia trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường đã được ban hành và triển khai thực hiện. Tuy vậy, kết quả còn khá hạn chế với nhiều nguyên nhân cả chủ quan và khách quan. Từ góc độ KTTH, đối tác công - tư trong lĩnh vực TN&MT ở nước ta hiện nay có những điểm chú ý là không có sở hữu tư nhân đối với tài nguyên thiên nhiên và tính công cộng cao của hàng hóa, dịch vụ môi trường. Các đặc điểm này quy định trước rằng cần có những kích thích đủ lớn để có thể thu hút sự quan tâm và tham gia thực sự của đầu tư tư nhân vào cung cấp hàng hóa, dịch vụ môi trường và sử dụng tuần hoàn tài nguyên thiên nhiên. Và điều này lại liên quan đến các công cụ quản lý nhà nước đã nói ở trên (công cụ kinh tế và công cụ hành chính). Thí dụ, sẽ khó có sự quan tâm và tham gia thực sự của đầu tư tư nhân nếu như thuế tài nguyên, phí môi trường thấp hay thiếu vắng một “sân chơi” (tức thị trường) cho các sản phẩm tái chế, tuần hoàn. KTTH có một đặc trưng là sự cộng sinh. Cộng sinh trước hết là nhu cầu, là sự quan tâm và gắn kết lâu dài để cùng nhau đạt được những lợi ích phát triển bền vững (khu công nghiệp sinh thái là mẫu hình thực tế cộng sinh của KTTH). Trong mô hình KTTH, cộng sinh là sự gắn kết chặt chẽ giữa các đối tác để làm cho giá trị của sản phẩm, vật liệu và tài nguyên được duy trì lâu nhất có thể và sự phát thải được giảm thiểu. Vì vậy, xây dựng và phát triển đối tác công - tư trong lĩnh vực TN&MT cũng có nghĩa là tạo dựng và phát triển mối quan hệ cộng sinh giữa các bên liên quan trên cơ sở các quan hệ thị trường, trong đó Nhà nước có vai trò dẫn dắt, tạo đà, khích lệ, tạo “sân chơi” cho doanh nghiệp và người tiêu dùng thực hiện sự cộng sinh trong sử dụng tuần hoàn tài nguyên thiên nhiên và BVMT.

     Tạo dựng và phát triển hệ thống thông tin và dữ liệu cho KTTH: Hệ thống này bao gồm không chỉ hệ thống thông tin và dữ liệu về chất thải mà còn cả các hàng hóa, dịch vụ khác liên quan tới tuần hoàn, chia sẻ. Công nghệ thông tin thời đại 4.0, nhất là Internet kết nối vạn vật (IoT), Dữ liệu lớn (BigData), Chuỗi khối (BlockChain) mang lại những cơ hội to lớn và hiện thực cho việc mở rộng và phát triển này. Như đã nói ở trên, suy cho cùng thực chất của KTTH là kéo dài giá trị sử dụng của sản phẩm trước khi thải bỏ ra môi trường. Sự kéo dài này liên quan tới chuỗi sản phẩm và vòng đời sản phẩm cũng như các chủ thể liên quan (doanh nghiệp, người tiêu dùng). Thông tin và dữ liệu về KTTH là “nguyên liệu” ban đầu cho các quyết định tham gia tái chế, tuần hoàn, trước tiên là gắn kết các nhu cầu, các mối quan tâm của các bên liên quan về các hàng hóa, dịch vụ tuần hoàn, chia sẻ. Sớm tạo dựng và phát triển hệ thống thông tin và dữ liệu cho KTTH là yêu cầu, là đòi hỏi cấp thiết không chỉ cho phát triển KTTH nói chung mà còn cho chính hoạt động phát triển đối tác công - tư trong lĩnh vực TN&MT, bởi KTTH liên quan nhiều nhất tới TN&MT. Hệ thống thông tin và dữ liệu về KTTH trong lĩnh vực TN&MT là phân hệ trong hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia cho phát triển mô hình kinh tế chia sẻ hiện đang được triển khai theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 999/QĐ-TTg ngày 12/8/2019 Phê duyệt “Đề án thúc đẩy mô hình kinh tế chia sẻ”.

     4. Kết luận

     Phát triển KTTH là xu hướng tất yếu trong bối cảnh hiện nay. KTTH có liên quan nhiều và trực tiếp tới TN&MT. Hiểu đúng và nhận thức đầy đủ về KTTH, bao gồm từ bản chất, nội hàm, triết lý cho đến các hình thức, mô hình thể hiện là cơ sở cho những điều chỉnh, bổ sung chính sách về tuần hoàn, chia sẻ trong lĩnh vực quản lý TN&MT hướng tới PTBV. Cái cơ bản và quan trọng nhất trong chính sách cho phát triển KTTH là tạo được một hệ sinh thái tốt cho các mô hình, các hoạt động tuần hoàn, chia sẻ phát triển với sự tham gia của toàn xã hội.

 

PGS.TS.Nguyễn Danh Sơn

Học viện Khoa học xã hội -Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường, số Chuyên đề Tiếng việt 1/2020)

 

      TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Chương trình Môi trường LHQ (UNEP), Viễn cảnh môi trường toàn cầu lần thứ tư” (The fourth Global Environment Outlook – GEO-4).
  2. Chris Backes, 2017, Law for a circular economy, Eleven International Publishing, The Netherlands.
  3. Holger Rogall, 2011, Kinh tế học bền vững - Lý thuyết kinh tế và thực tế của phát triển bền vững, 2009, Bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Trung Dũng, nxb. Khoa học tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội.
  4. Pheifer A. G., 2017, Barriers & Enablers to Circular Business Models, ValueC The Netherlands.
  5. Thibaut Wautelet, 2018, The Concept of Circular Economy: its Origins and its Evolution, Eesearchgate, Working Paper.
  6. UNCTAC, 2018, Circular Economy, Policy Brief, No 6.
  7. Vasileios Rizos and et al., 2017, The Circular Economy: A review of definitions, processes and impacts.

 

Thống kê

Lượt truy cập: 433773