--%>

     Nà Hẩu là xã nằm cách trung tâm huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái khoảng 30 km về phía Nam, ở vùng lõi của khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu (KBTTN), trong một thung lũng hẹp trải dài, xung quanh được bao bọc bởi những dãy núi cao. Thực hiện Dự án của Cơ quan Trao đổi hàn lâm khoa học Đức tại Việt Nam (DAAD) về phát triển du lịch sinh thái miền núi ở xã Nà Hẩu, các chuyên gia của DAAD (gồm các giáo sư và chuyên gia người Đức và các cựu học viên đến từ Việt Nam, Lào và Myanmar) đã tiến hành khảo sát, phân tích các điều kiện phát triển du lịch của xã về điều kiện vật chất, hệ sinh thái, văn hóa - xã hội, kinh tế, cơ sở hạ tầng và đề xuất phát triển nơi đây thành một “ốc đảo” du lịch sinh thái miền núi tương tự như nhiều làng quê ở Đức, với nguồn lực được huy động từ cộng đồng người dân địa phương. Đây hướng đi bền vững cho phát triển du lịch sinh thái tại xã Nà Hẩu.

     Tiềm năng về tài nguyên và cảnh quan thiên nhiên

     Huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái có 26 xã và 1 thị trấn, với 312 thôn bản, 60 tổ dân phố, từ lâu vốn được mệnh danh là vùng đất “cao sơn ngọc quế”, được thiên nhiên ưu đãi nhiều cảnh đẹp với núi non kỳ vĩ, nhiều hang động, suối ngàn, thác nước, rừng nguyên sinh có hệ sinh thái đa dạng và lưu giữ nhiều sắc màu văn hóa độc đáo, đặc sắc của đồng bào các dân tộc thiểu số cùng với những địa danh đã đi vào lịch sử đất nước.

     Trong các xã của huyện Văn Yên, Nà Hẩu là nơi có vị trí và điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch. Xã nằm cách trung tâm huyện Văn Yên khoảng 30 km về phía Nam, ở vùng lõi của khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN). Xã Nà Hẩu có 3 thôn, dân số là 2.253 nhân khẩu thuộc 438 hộ, dân tộc chủ yếu là người H’Mông. Nguồn thu nhập chính từ nông lâm nghiệp nên đời sống người dân còn gặp nhiều khó khăn, kinh tế chậm phát triển, canh tác với quy mô nhỏ, lẻ, với nét văn hóa truyền thống là Tết rừng - một lễ hội độc đáo hàng năm, tổ chức vào ngày cuối tháng Giêng âm lịch. Tổng diện tích tự nhiên của xã là 5.640,36 ha, trong đó rừng đặc dụng chiếm 80%, nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, kết hợp với địa hình bị chia cắt nên tạo thành hai tiểu vùng khí hậu: Phía Bắc có độ cao trung bình 500 m so với mặt nước biển (ít mưa, nhiệt độ trung bình 21 - 23ºC, lượng mưa bình quân 1.800 mm/năm, độ ẩm thường xuyên 80-85%, có những ngày chịu ảnh hưởng của gió Lào); phía Nam chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc (có lượng mưa lớn, bình quân 1.800 - 2.000 mm/năm, nhiệt độ trung bình 23 - 24ºC, độ ẩm không khí 81 - 86%, có các hiện tượng thời tiết khác như sương muối và mưa đá).

 

Nhà ở của người dân H’Mông tại Nà Hẩu mang vẻ đẹp hoang sơ với kiến trúc đơn giản

 

     Về hệ sinh thái: Xã Nà Hẩu nằm vùng lõi của KBTTN Nà Hẩu, được bao bọc bởi các khu rừng già, nên có hệ sinh thái rừng tự nhiên phong phú mang tính điển hình của vùng núi phía Bắc với nhiều loài động, thực vật quý hiếm. Hệ động vật hoang dã có khoảng 72 loài thú, 240 loài chim, 48 loài bò sát… trong đó có nhiều loài có giá trị có tên trong Sách đỏ Việt Nam và Danh lục đỏ thế giới như sơn dương, gấu, vượn đen tuyền, voọc xám, rùa đầu to, kỳ đà hoa. Ngoài ra, trong rừng còn là nơi sinh sống của một số loài chim có vùng phân bố hẹp, trong đó có một số loài chim bị đe dọa toàn cầu như hồng hoàng, gà lôi. Về hệ thực vật có 396 loài, trong đó có 27 loài thực vật quý hiếm có tên trong Sách đỏ Việt Nam. Rừng nơi đây chủ yếu là rừng nguyên sinh, rậm rạp với nhiều tầng cây, tán lá. Tầng cao nhất là hệ sinh thái rừng lá rộng thường xanh, với  nhiều loài gỗ quý như chò nâu, giổi, trám, pơ mu, lát hoa...; tầng giữa là tầng cây thường xanh lá kim như loài de, giẻ...; tầng dưới phân thành nhiều lớp cây cao thấp khác nhau, chủ yếu là các cây gỗ nhỏ ưa bóng; tầng thảm tươi chủ yếu là cây bụi, dương sỉ, cau rừng…

 

Loài voọc xám có nguy cơ tuyệt chủng ở Nà Hẩu

 

     Cảnh quan thiên nhiên của xã cũng rất đa dạng, được bao quanh bởi các dãy núi cao từ 1.200 - 1.789 m, tạo thành một thung lũng rộng lớn. Địa hình nơi đây bị chia cắt mạnh tạo thành nhiều khe suối và các đồi, núi thấp có độ cao trung bình từ 600 - 700 m so với mặt nước biển. Nơi đây có nhiều thác nước đẹp như Nà Hẩu, Nàng Tiên (hay Suối Tiên), Cộng đồng 1, Cộng đồng 2, khe Tát với nguồn nước phong phú chảy từ độ cao khoảng 30 m dội xuống với độ dốc lớn. Có thác hình thành chín bậc, mỗi tầng cao khoảng 4 -5 m. Đây là điểm đến hấp dẫn cho những người muốn chinh phục mạo hiểm. Ngoài ra, xã có 5 hang động lớn nhỏ như hang Dơi, Thần tài. Có 2 hang rộng khoảng 100 m2, sâu 1,5 km được du khách tham quan nhiều. Trong hang có nhiều nhũ đá và mầm đá đẹp. Tuy nhiên, hang có độ sâu này đường đi lại khó khăn, hiểm trở, lối vào còn hẹp, nên ít người khám phá.

 

Thác Nàng Tiên

 

     Các sản vật và đặc sản địa phương là cá, ếch và ốc. Suối nước lạnh và sạch là điều kiện thích hợp cho một số loài cá đặc sản phát triển mạnh như cá khuy, cá sỉnh, cá nhám…. và một số loài ếch đát. Loài ếch này sống trong môi trường tự nhiên dọc theo các con suối. Do xã nằm ở độ cao trên 1.200 m nên một số cây dược liệu phát triển tự nhiên tốt, những năm gần đây các loại thảo dược quý hiếm đã bị khai thác nên chỉ còn sót lại như sâm cau, lan kim tuyến, sơn thục, đẳng sâm… ngoài ra còn có chè hoa vàng được thị trường ưa chuộng.

     Một số đề xuất phát triển du lịch sinh thái

     Ngoài việc nghiên cứu các điều kiện kinh tế, xã hội và thiên nhiên tại Nà Hẩu, Đoàn khảo sát của DAAD đã tổ chức Hội thảo về vấn đề  “Phát triển nông thôn trong quá khứ và hiện tại: So sánh Đức và Việt Nam” vào tháng 3/2019 tại thị trấn Mậu A (huyện Văn Yên). Với quan điểm, Nà Hẩu cần tập trung vào các nội dung sau: Xây dựng nơi đây thành một làng du lịch sinh thái đơn sơ thực sự như nhiều ngôi làng nổi tiếng ở miền núi của nước Đức.

     Thu phí du lịch: Hiện nay du lịch sinh thái ở xã Nà Hẩu mang tính thời vụ. Lượng khách chủ yếu từ các xã và vùng lân cận đi xe máy đến đây để tắm suối và thăm thác nước trong khoảng thời gian từ tháng 5 - 9. Lượng khách từ xa đến ít, chủ yếu các đoàn đi phượt. Xét ở góc độ kinh tế học thì khi thu nhập bình quân đầu người tăng thì lượng khách du lịch cũng tăng sẽ dẫn đến tình trạng “tắc nghẽn du lịch”, làm ảnh hưởng xấu đến môi trường và cảnh quan thiên nhiên. Vì vậy, cần thu phí tham quan tránh “tắc nghẽn du lịch” cũng như bù đắp cho chi phí vận hành cho hoạt động du lịch ở xã. Để thu được khoản phí này thì đề nghị dựng điểm thu phí khi du khách vào xã với cơ chế giá phù hợp.

     Phát triển thành ốc đảo sinh thái với sức hấp dẫn đặc biệt: Theo đánh giá chung, hệ sinh thái ở đây còn khá nguyên vẹn, với những ngôi nhà gỗ của bà con dân tộc vẫn còn giữ được nét văn hóa truyền thống. Để phát triển thành khu du lịch sinh thái, xã nên vận động người dân không nên thay thế nhà gỗ bằng nhà bê tông và trồng cây che bóng mát. Trong xã còn có một thung lũng khá đẹp, nơi đây có thể xây dựng trung tâm phục vụ du lịch. Đồng thời, mở rộng trồng cây samu ở khu vực đồi; Dọc tuyến đường của xã nên trồng nhiều cây hoa dễ chăm sóc; Gìn giữ tốt những cây cổ thụ đứng đơn độc trên những cánh đồng với vai trò tôn tạo cảnh quan.

     Quản lý chất thải: UBND xã cần kêu gọi các hộ thu gom và phân loại rác thải theo quy định; vận động bào con không sử dụng đò nhựa dùng 1 lần; xây dựng chương trình biogas với những bể ủ biogas, có hệ thống thu gom và xử lý nước thải. Ngoài ra, cần có những hộ gia đình đóng vai trò hướng dẫn viên du lịch, dẫn du khách đi tham quan trong bản, thác nước, núi rừng, động vật hoang dã như ngắm chim, quan sát đàn khỉ, tìm hiểu các loài cây cỏ; có thể tạo ra các sản phẩm ẩm thực của địa phương để tăng thu nhập...

     Cải tạo và nâng cấp cơ sở hạ tầng: Củng cố đường liên thôn bản và đường dẫn đến thác nước. Đường đến thác nước và hang động chỉ nên làm đường cấp phối và chèn đá như hiện nay, không xây bê tông vì sẽ đánh mất sự gần gũi thiên nhiên. Như vậy, có thể đi bộ, xe đạp địa hình, xe máy và có thể đi bằng ngựa; Cần phải có điểm dừng nghỉ chân, giống như chòi canh ruộng của đồng bào có kết hợp với nhà vệ sinh. Ngoài ra, cần mở tuyến đường mòn dọc theo ven suối của xã dẫn lên thác nước; lên kế hoạch bảo tồn những cây chè cổ thụ dọc ven suối; xây dựng tuyến tham quan hang động, tắm thác nước; xây dựng tour du lịch cắm trại trên đỉnh núi với độ cao 1.700 m; phát triển hộ nuôi ngựa phục vụ cho du lịch như cưỡi ngựa xuyên rừng; liên kết với các bản làng trong khu vực để mở các tour như Nà Hẩu - Làng Bang, Nà Hẩu - Khe Cảnh (Văn Chấn), Nà Hẩu - Phong Dụ Thượng.

     Đối với chính quyền địa phương, cần thể chế hóa công tác du lịch; xây dựng quy chế du lịch và cơ chế phân chia lợi ích, hưởng chi phí do du lịch mang lại; bảo vệ nghiêm ngặt chất lượng rừng nguyên sinh, đặc biệt hạn chế trồng cây quế lấn sâu vào trong rừng; Ven bìa rừng trồng lại các cây truyền thống...

     Như vậy, việc phát triển du lịch sinh thái xã miền núi Nà Hẩu ở quy mô nhỏ, với cách thức đưa khách quay về với thế giới thực, thiên nhiên hoang sơ, đời sống mộc mạc của người dân bản địa... Cùng với đó, huy động người dân cùng đóng góp và hưởng lợi từ những hoạt động du lịch. Hy vọng một ngày không xa, xã Nà Hẩu sẽ là một điểm du lịch hấp dẫn đặc biệt cho du khách trong và ngoài nước.

Nguyễn Trung Dũng

(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường số 9/2019) 

Thống kê

Lượt truy cập: 163798