--%>

 

     Biển, đặc biệt là vùng bờ biển và hải đảo là một hệ thống gồm rất nhiều nguồn tài nguyên có tính chất chia sẻ. Trên cùng một khu vực, có thể có nhiều hoạt động kinh tế - xã hội (KT - XH) ngành cùng khai thác, sử dụng một, hoặc một số loại tài nguyên, do vậy có thể có những mâu thuẫn, xung đột và làm cạn kiệt tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường, suy thoái các hệ sinh thái biển (HSTB). Để phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam, cần đảm bảo đảm bảo hài hòa lợi ích các hoạt động ngành, đồng thời tài nguyên biển được khai thác hợp lý, hiệu quả, bảo vệ, bảo tồn được môi trường, các HSTB.

     Tiềm năng kinh tế biển Việt Nam

     Việt Nam nằm trên bờ Biển Đông, là con đường biển ngắn nhất nối liền hai đại dương là Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương và trong khu vực có nhiều nền kinh tế có tốc độ phát triển kinh tế nhanh nhất thế giới. Bờ biển Việt Nam có nhiều vũng, vịnh sâu kín gió, rất thuận lợi để làm cảng biển. Vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục rộng lớn của Việt Nam chứa nhiều dầu khí cùng các loại khoáng sản. Vùng biển nằm tại một trong những trung tâm đa dạng sinh học (ĐDSH) của biển nhiệt đới nông trên thế giới với các HSTB cung cấp nguồn hải sản và những dịch vụ sinh thái quan trọng. Nhiều khu vực trên Biển Đông có điều kiện rất thuận lợi để khai thác năng lượng tái tạo. Đặc biệt, bờ biển Việt Nam có nhiều bãi tắm đẹp, có giá trị nghỉ dưỡng cao.

     Hiện trạng kinh tế biển Việt Nam và các thách thức

     Theo một số thống kế, kinh tế thuần biển của Việt Nam vào năm 2015 đóng góp khoảng 21% tổng GDP của cả nước; tuy nhiên, chưa có cơ cấu kinh tế bền vững và chưa phát huy được các thế mạnh của tài nguyên biển. Đóng góp lớn nhất vào kinh tế biển là khai thác dầu khí, nhưng sản lượng đang suy giảm do nguồn tài nguyên dầu khí ngày càng cạn kiệt và điều kiện khai thác khó hơn. Các ngành kinh tế biển có sử dụng các tài nguyên tái tạo như nuôi trồng, đánh bắt thủy sản, du lịch và nghỉ dưỡng biển chỉ đóng góp khiêm tốn.

     Phát triển kinh tế biển của Việt Nam hiện đang gặp nhiều thách thức. Cụ thể, chưa có quy hoạch không gian biển và công tác quản lý tổng hợp biển, vùng bờ biển, hải đảo mới chỉ bắt đầu nên kinh tế biển chỉ phát triển được một phần tiềm năng, nhưng đã gây suy thoái nghiêm trọng tài nguyên, làm ô nhiễm môi trường biển, vùng bờ biển và hải đảo. Nguồn lợi thủy sản biển bị đánh bắt cạn kiệt. Các HSTB quan trọng như rừng ngập mặn, rạn san hô, thảm cỏ biển đã bị phá hoại và suy thoái nghiêm trọng. Ngoài ra, nhận thức của nhiều ngư dân còn hạn chế, nên đánh bắt cá trái phép, không theo quy định tại các vùng biển Việt Nam, thậm chí sang cả vùng biển nước ngoài. Cùng với đó, ô nhiễm môi trường biển ngày càng gia tăng, cụ thể như vụ xả thải trái phép ra biển của Công ty TNHH Hưng Nghiệp Formosa tại Hà Tĩnh, gây ra những hậu quả rất lớn tới môi trường biển và KT - XH. Công tác bảo tồn biển còn hạn chế, diện tích các khu bảo tồn biển (KBTB) rất nhỏ, chỉ khoảng 0,67% diện tích vùng biển nằm trong lãnh hải, trong khi công tác quản lý KBTB còn chưa hiệu quả. Một số bãi biển đẹp như Phú Quốc, Hàm Tiến - Mũi Né, Đà Nẵng bị phân lô, chia cho tư nhân, đi ngược lại với nguyên tắc sở hữu công cộng các bãi biển, làm suy giảm hiệu quả sử dụng tài nguyên du lịch, ảnh hưởng tới quyền sử dụng biển và bãi biển của người dân. Việc đầu tư cơ sở hạ tầng ven biển còn dàn trải với nhiều sân bay, bến cảng tại các tỉnh liền kề. Mặt khác, hệ thống chính sách, pháp luật trong phát triển kinh tế biển chưa đồng bộ, chưa tạo được sức mạnh để điều chỉnh các hoạt động phát triển kinh tế biển. Khái niệm về kinh tế biển xanh chưa được áp dụng thống nhất ở Việt Nam. Quy hoạch phòng chống thiên tai chưa đồng bộ và thường xuyên xảy ra thiên tai đã gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế.

     Giải pháp phát triển kinh tế biển ở Việt Nam phù hợp với thể chế kinh tế thị trường

     Để đảm bảo phát triển kinh tế biển nhanh và bền vững, phù hợp với tiềm năng phát triển kinh tế biển, Việt Nam cần áp dụng một phương thức quản lý mới, quản lý tổng hợp biển và hải đảo theo cách tiếp cận hệ sinh thái theo cơ chế thị trường hướng tới nền kinh tế biển xanh để hài hòa lợi ích kinh tế từ các hoạt động kinh tế ngành; khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ, bảo tồn TN&MT, các hệ sinh thái và ĐDSH biển. Để đạt được điều đó, cần triển khai các giải pháp sau:

     Xây dựng và triển khai thực hiện Quy hoạch không gian biển (QHKGB) theo cách tiếp cận hệ sinh thái để đảm bảo khai thác hiệu quả, có lợi nhất đối với một số chức năng quan trọng, không làm ảnh hưởng tới các chức năng khác và cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường, suy thoái các HSTB tại mỗi khu vực không gian biển. Trên cơ sở QHKGB, xây dựng hệ thống chính sách, quy định pháp luật và cơ cấu tổ chức nhằm đảm bảo thực hiện tốt quy hoạch. Chú trọng quản lý các HSTB và vùng bờ biển quan trọng theo cách không cắt rời, chia nhỏ để đảm bảo duy trì cấu trúc, chức năng và năng suất sinh học của các hệ sinh thái, tiến tới khôi phục các hệ sinh thái, ĐDSH đã bị suy thoái. Đưa vào áp dụng trên diện rộng các mô hình cộng đồng tham gia bảo tồn, khai thác, sử dụng bền vững các HSTB. Tiếp tục hoàn thiện và và triển khai hiệu quả các chính sách, quy định pháp luật về phát triển nghề cá bền vững, chống đánh bắt hủy diệt, đánh bắt trái phép. Rà soát quy hoạch phát triển các ngành công nghiệp biển, các khu, đặc khu kinh tế biển, khu kinh tế mở để đảm bảo đầu tư hiệu quả, phù hợp với nguồn lực hiện có. Hoàn thiện và đưa vào áp dụng hiệu quả hệ thống pháp luật BVMT biển, đảm bảo quản lý tốt các nguồn thải từ bờ, giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm kim loại nặng, rác thải nhựa. Chú trọng phòng chống thiên tai, biến đổi khí hậu. Đảm bảo quyền sở hữu, sử dụng công cộng tại các bãi biển và khu vực biển quan trọng để đảm bảo quyền tiếp cận của người dân với biển. Thực hiện nghiêm chỉnh quy định của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo về việc thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển. Tăng cường khai thác, sử dụng các năng lượng sạch, năng lượng tái tạo từ biển. Hoàn thiện các cơ chế tài chính với hệ thống thuế, phí hợp lý liên quan tới sử dụng không gian biển và các nguồn tài nguyên biển, đảm bảo xóa đói giảm nghèo, khuyến khích bảo tồn, BVMT và các HSTB...

     Mặc dù, Việt Nam đã có một hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên, BVMT biển và hải đảo như các Luật Biển Việt Nam, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, Luật BVMT, Luật ĐDSH và các luật khác. Tuy nhiên, nhiều quy định còn chưa thống nhất, trong khi việc hiểu biết các quy định pháp luật này của người dân còn hạn chế; các hướng dẫn kỹ thuật liên quan tới đánh giá giá trị các dịch vụ sinh thái còn thiếu. Do vậy, cần phải tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường để phát triển bền vững nền kinh tế biển xanh.

Biển Lăng Cô - một trong những bãi biển đẹp nhất của Việt Nam

PGS. TS. Vũ Thanh Ca

Trường Đại học TN&MT

(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường, số 4/2018)

 

Thống kê

Lượt truy cập: 367405