--%>

Tóm tắt:

     Trình bày kết quả thử nghiệm ngoài thực địa xử lý đất bị ô nhiễm Dioxin ở sân bay A Sho khi sử dụng 2 chủng vi khuẩn hiếu khí và kỵ khí có hoạt tính dioxygenase để phân hủy dioxin là US6-1 và IC10. Việc thử nghiệm cho thấy, đây là những chủng vi sinh thích hợp để tẩy độc đất nhiễm dioxin nồng độ thấp, khoảng 100-200 ppt TEQ, như mức ô nhiễm đất tại sân bay A Sho, hiệu suất phân hủy dioxin khoảng 35%, đồng thời đã xác định được điều kiện độ ẩm và lượng dinh dưỡng hợp lý để tạo môi trường phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả tẩy độc.

Từ khóa: đất, Dioxin, tẩy độc, vi khuẩn

Field Experimental Study of dioxin contaminated soil decontamination using microorganisms at A Sho Airport, A Luoi District, Thua Thien – Hue Province

Abstract:

     Presentation of field test results on dioxin contaminated soil decontamination at A Sho Airport using 2 aerobic and anaerobic bacteria with dioxygenase activity for dioxin decay: US6-1 and IC10. The tests showed that these bacteria were suitable for the removal of dioxin-contaminated soil concentrations of about 100-200 ppt TEQ, such as dioxin contaminated soil at A Sho Airport, dioxin degradation efficiency of 35%, and at the same time, appropriate soil humidity and nutrient levels have been identified to create a suitable environment to improve the effectiveness of decontamination.

Keywords: soil, dioxin, decontamination, bacteria

Mở đầu

     Cuộc chiến tranh kết thúc đã hơn 40 năm, nhưng 80 triệu lít thuốc diệt cỏ và rụng lá cây với lượng dioxin 366 kg /7, 8/ được Mỹ rải trên 2 triệu ha ở miền Nam Việt Nam để lại hậu quả nghiêm trọng cho thiên nhiên và con người Việt Nam. Tồn lưu dioxin trong đất ở vùng phun rải, nhìn chung, trên lớp đất bề mặt đều dưới 27ppt /2-5/. Tuy nhiên, ở sân bay Biên Hòa, Đà Nẵng, Phù Cát, còn tồn lưu Dioxin rất lớn (với mức trên 1000ppt). Ngoài ra, còn nhiều điểm ô nhiễm đất ở mức độ dưới 1000ppt lại rất gần với một số khu dân cư cần được nghiên cứu xử lý.

     Theo Bộ TN&MT, việc tẩy độc dioxin trong đất đang là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Việt Nam. Nhà nước chủ trương xã hội hóa công việc này. Là một tổ chức xã hội nghề nghiệp, được sự cho phép của các cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương Việt Nam, Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường (VACNE) đang tích cực phối hợp với Công ty BJC Hàn Quốc, Viện Khoa học và Công nghệ đại dương Hàn Quốc (KIOST), Viện Độc học Hàn Quốc (KIT) là các tổ chức có năng lực khoa học và công nghệ phù hợp, đã tiến hành khảo sát, nghiên cứu hiện trường và đánh giá khả năng thử nghiệm tẩy độc đất ô nhiễm dioxin tại sân bay A Sho, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế, nơi các cơ quan chức năng ở TW và địa phương đã tiến hành đánh dấu khoanh định bằng rào cây gai khu đất bị nhiễm dioxin. Các kết quả phân tích và thử nghiệm được trình bày trong khuôn khổ bài báo này đã được báo cáo Bộ TN7MT trong các năm 2016 và 2017.

1. Phân tích độ tồn lưu dioxin trong đất tại sân bay A Sho

     A Lưới có vị trí quân sự quan trọng trong chiến tranh, phía Mỹ với 270 phi vụ [5, 6] đã phun rải hơn 549.274 gallons chất độc hóa học trên 70% diện tích tự nhiên của huyện. Sân bay A Sho thuộc xã Đông Sơn, nằm phía Nam huyện A Lưới, là 1 trong 3 căn cứ không quân cũ của Mỹ, được sử dụng để làm kho trung chuyển chất độc hóa học đi rải ở miền Trung. Do vậy, đất ở sân bay A Sho bị ô nhiễm dioxin từ đó. Sân bay A Sho đã được được nhiều cơ quan trong nước và nước ngoài nghiên cứu đánh giá tồn lưu, hậu quả ô nhiễm dioxin và tác động đối với môi trường và con người; được điều tra phân tích AO hoàn chỉnh mức độ ô nhiễm theo không gian và thời gian từ năm 1996 đến 2017 với trên 300 mẫu đất và sinh phẩm (cá, gia cầm, ngũ cốc, lúa gạo, máu và sữa người) [3, 6].

     Kết quả khảo sát của Hatfield (Canada) và Uỷ ban 10-80 trong các năm 1996, 1999, 2000 cho thấy, khu vực sân bay A Sho là điểm nóng tồn lưu dioxin trên 900 pg/g I-TEQ, tỷ lệ %TCDD chiếm 99,5% [7, 8]. Chính quyền địa phương đã phải di chuyển 36 hộ dân và cơ quan xã ra khỏi vùng ô nhiễm. Năm 2007, hàng rào cây xanh có gai được trồng bao quanh khu vực nhiễm độc để cách ly và cảnh báo mọi người về khu nhiễm độc. Năm 2013-2014, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tiến hành kiểm tra tồn lưu dioxin tại điểm nóng này [3]. Việc phân tích các mẫu đất bề mặt tại sân bay A Sho cho thấy, đất bị ô nhiễm dioxin với nồng độ cao nhất tới 820 ppt TEQ.

     Năm 2015, các chuyên gia VACNE và Hàn Quốc cũng đã lấy mẫu phân tích mức độ ô nhiễm dioxin ở khu đất đã được rào cây gai thuộc sân bay A Sho. Khu vực lấy mẫu được các chuyên gia VACNE và Hàn Quốc chia thành các ô lưới hình vuông (hình 1) trên bản đồ tỷ lệ lớn và được định vị tọa độ trên thực địa để bảo đảm các điểm lấy mẫu đất là đồng đều trên khu ô nhiễm. Lần đầu ở đây được lấy mẫu với mật độ cao theo diện và chiều sâu. Phương tiện lấy mẫu là thiết bị khoan tay do Hàn Quốc sản xuất và đang được sử dụng ở Hàn Quốc trong lấy mẫu phân tích tồn lưu chất độc hóa học [1, 2, 3]. Các mẫu được lấy ở độ sâu 0-10 cm (tầng trên mặt), 25-35 cm (tầng giữa) và 50-60 cm (tầng dưới) để đánh giá mực độ ô nhiễm dioxin theo diện tích và theo độ sâu (hình 1). Kết quả đã thu được 86 mẫu đất tại 25 điểm lưới bề mặt tại khu ô nhiễm ở sân bay A Sho. Các mẫu đất được lấy và bảo quản theo quy định hiện hành của Việt Nam và Hàn Quốc. Mỗi mẫu đất đều được phân chia làm 2, một nửa được chuyển cho cơ quan chức năng Việt Nam để lưu, phân tích đối chứng khi cần thiết, nửa khác được bảo quản và đưa về Hàn Quốc và được các cơ quan nghiên cứu hàng đầu về độc học với các phòng thí nghiệm phân tích ô nhiễm dioxin đạt chuẩn quốc tế tiến hành phân tích [1, 2, 3].

     Kết quả phân tích cho thấy, các mẫu đất tầng trên mặt ở độ sâu 0-10cm có nồng độ dioxin bình quân là 61,90 ppt, tầng giữa (ở sâu 25-35 cm) là 646,79 ppt và ở tầng dưới (ở sâu 50-60 cm) là 62,54 ppt. Đặc biệt, mẫu đất tại nút có mã hiệu AL-S10-1 (hình 1) có nồng độ dioxin tới 13.410,48 ppt. “Điểm nóng” dioxin này trong đất tại sân bay A Sho cho thấy, tại đây còn tiềm ẩn những hậu quả tác hại của dioxin đối với môi trường và con người, và cần sớm được cảnh báo để đề phòng và có biện pháp khắc phục. Kết quả phân tích đất ô nhiễm dioxin tại khu vực sân bay A Sho (bảng 1) đã được VACNE và các đối tác Hàn Quốc chính thức báo cáo Bộ TN&MT cuối năm 2016 và được các cơ quan chức năng liên quan, các chuyên gia đánh giá cao [1, 2].    

 

Hình 1. Sơ đồ ô lưới khu vực lấy mẫu đất và khu được chọn để thử nghiệm xử lý ô nhiễm dioxin ở sân bay A Sho, huyện A Lưới

 

Hình 2. Chuyên gia Hàn Quốc và Việt Nam thu gom, lưu giữ và bảo quản mẫu

 

Bảng 1. Kết quả phân tích nồng độ dioxin trong đất tại khu vực sân bay A Sho [3]

Cấp nồng độ Dioxin (ppt) ở các mẫu

Số mẫu ở tầng trên

Số mẫu ở tầng giữa

Số mẫu ở tầng dưới

>200 ppt

1

3

18

100-200 ppt

2

0

2

<100 ppt

19

19

2

Bình quân ppt

61,90

646,79

62,54

 

2. Thử nghiệm tẩy độc dioxin trong đất bằng phương pháp vi sinh của Hàn Quốc

     Năm 2016, sau kết quả nghiên cứu thử nghiệm tẩy độc dioxin các mẫu đất khu vực A Sho trong phòng thí nghiệm tại Hàn Quốc, các chuyên gia Hàn Quốc và VACNE đã chọn 2 chủng vi khuẩn hiếu khí và kỵ khí thích hợp có hoạt tính dioxygenase là Novosphingobium Pentaromativorans US6-1 và Corynebacterium variabile IC10 để thử nghiệm tẩy độc dioxin trong đất tại hiện trường sân bay A Sho; đồng thời đã xác định được độ ẩm tối ưu và lượng dinh dưỡng hợp lý để tạo môi trường cho vi sinh phát triển tốt nhằm tăng hiệu quả tẩy độc.

     Các chuyên gia Hàn Quốc (thuộc BJC, KIOST, KIT) cùng VACNE, sau khi có sự chấp thuận của các đơn vị chức năng thuộc Bộ TN&MT, của chính quyền các cấp ở Thừa Thiên – Huế, đã nghiên cứu thử nghiệm ứng dụng chủng vi sinh vật của Hàn Quốc để tẩy độc dioxin trong đất ngoài hiện trường tại sân bay A Sho nhằm tìm kiếm giải pháp thích hợp, ổn định và bền vững đối với việc tẩy độc dioxin trong đất.

     Diện tích lô đất ô nhiễm dioxin được thử nghiệm là 10×10 mét thuộc nơi có mẫu tồn lưu dioxin tới 13.410,48 ppt (cao nhất đã phát hiện được tại nút lưới AL-S10-1; hình 1) với chiều sâu lô đất tới 1 mét, tức khối lượng đất xử lý là 100 m3 (10×10×1), ước khoảng 200 tấn đất ô nhiễm (hình 1). Việc thử nghiệm ngoài hiện trường được thực hiện từ tháng 12/2016 đến hết tháng 5/2017, là thời gian có điều kiện môi trường và thời tiết khá phù hợp để thực hiện quy trình công nghệ thử nghiệm tẩy độc. Chủng vi sinh được sử dụng gồm 2 loại: US6-1 và IC10 nêu trên, do các đối tác Hàn Quốc nhập vào Việt Nam (2 loại vi sinh này được TRBA CHLB Đức phân loại An toàn sinh học cấp 1 và được phép nhập vào nước ta).

     Trong thử nghiệm, khối đất bị ô nhiễm được xử lý theo 2 giai đoạn liên tục.

     Giai đoạn 1- Xử lý kỵ khí: Khối đất ô nhiễm được nhào trộn đều để tạo sự ô nhiễm dioxin tương đối đồng đều cả khối đất. Hai chủng vi sinh (khối lượng 5 kg) cùng Sodium Acetate (100kg), dưỡng chất là phân NPK (20kg) và phân hữu cơ được ủ từ phân chuồng (1.000kg) được pha loãng đều với 2 m3 nước sạch và được khuấy trộn đều để phun vào khối đất cần xử lý bằng máy phun áp lực. Máy xúc liên tục đảo trộn khối đất trong quá trình phun để bảo đảm cho vi sinh được phân bổ đều trong khối đất được xử lý, bảo đảm ở độ ẩm 25-30% rồi được ủ trong 2 bể kín để cách ly với môi trường bên ngoài (hình 3), tạo quá trình xử lý kỵ khí khối đất khoảng 3 tháng (24/12/2016 đến 18/3/2017).  

 

Hình 3. Hình ảnh 2 khối đất được ủ kỵ khí tại hiện trường

 

     Giai đoạn 2-Xử lý hiếu khí: Sau khi xử lý kỵ khí, đất ủ ở mỗi bãi được dỡ ra, xới trộn đều, lấy mẫu để phân tích kết quả xử lý kỵ khí, rồi được đánh thành 6 luống (hình 4). Hai chủng vi sinh (5 kg) cùng phân NPK (20kg) được hòa đều với 2 m3 nước sạch để phun dung dịch vi sinh vào các luống đất trong quá trình xới-trộn; luống đất sau khi phun vi sinh được để ngỏ giữa trời, nhưng được cách ly với xung quanh. Sau đó, trong 8 tuần liên tục (từ 24/3/2016 đến 17/5/2017), định kỳ 2 ngày/1 lần các luống đất được xới trộn đều bằng thủ công để tiếp xúc tốt với không khí nhằm cung cấp đủ ôxy và bổ sung nước khi cần thiết để giữ độ ẩm trong đất khoảng 25-30%. Sau khi ủ hiếu khí, chính là giai đọan xử lý cuối cùng, đã tiến hành lấy mẫu để phân tích đánh giá kết quả.

 

Hình 4. Sơ đồ khối đất khi xử lý kỵ khí (a); sơ đồ các luống đất khi xử lý hiếu khí (b)


 

     Việc phân tích các mẫu được thực hiện tại Hàn Quốc và ½ mỗi mẫu được lưu giữ tại Phòng TN&MT huyện A Lưới để phân tích đối chứng khi cần thiết. Sau đó, toàn bộ khối lượng đất đã qua xử lý 2 giai đoạn được đổ trở lại khu đất (10x10x1) mét của khu sân bay A Sho và hoàn thổ.

3. Đánh giá kết quả thử nghiệm

     Kết quả thử nghiệm tẩy độc 100m3 đất ô nhiễm dioxin ở sân bay A Sho như nêu trên được đánh giá qua phân tích các mẫu đất sau xử lý tại Viện Độc học Hàn Quốc (KIT), Viện Khoa học và Công nghệ đại dương Hàn Quốc (KIOST) và Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc [3]. Kết quả phân tích cho thấy, mức độ ô nhiễm dioxin của mẫu đất trước khi xử lý có tổng TEQ trung bình là 161,65 ppt; mẫu đất sau khi xử lý kỵ khí có tổng TEQ trung bình 134,45 ppt; mẫu đất sau xử lý hiếu khí có tổng TEQ trung bình là 104,93 ppt. Như vậy, tổng lượng độc TEQ trong đất đã giảm khoảng 1/3 so với ban đầu, đạt hiệu suất phân hủy dioxin khoảng 35% (hình 5). Lưu ý rằng, việc nghiên cứu thử nghiệm tẩy độc được thực hiện trong điều kiện tự nhiên của khu vực sân bay A Sho trong mùa mưa, với một số khó khăn nhất định để khối đất tiếp xúc thuận lợi với không khí và việc đảo trộn để phơi đất ra không khí chỉ được thực hiện bằng thủ công, không được trộn đảo đều bằng máy.

 

Hình 5. Nồng độ PCDD/Fs trong đất ở sân bay A Sho, trước và sau khi được xử lý [2, 3]

 

     Kết quả thử nghiệm tẩy độc dioxin trong đất ở khu vực sân bay A Sho đã được báo cáo tại Hội thảo khoa học do Tổng cục Môi trường và VACNE tổ chức với sự tham gia của nhiều chuyên gia, nhà khoa học và các cơ quan nghiên cứu liên quan vào cuối tháng 7 năm 2017 và đã được đánh giá là có triển vọng tốt để tiếp tục triển khai xử lý đất ô nhiễm dioxin ngoài thực địa Việt Nam. Hiệu quả xử lý bằng công nghệ sinh học của Hàn Quốc thực hiện tại sân bay A Sho trong điều kiện ngoài trời đã cho kết quả tương đương kết quả ứng dụng các công nghệ sinh học đã thử nghiệm trước đây ở Việt Nam (nhưng với khối lượng đất được xử lý chỉ 2 m3 ở điều kiện trong phòng) [4, 5, 6].

4. Kết luận và kiến nghị

     Chúng tôi cho rằng, kết quả nghiên cứu thử nghiệm giải pháp xử lý đất ô nhiễm AO/Dioxin nồng độ thấp, khoảng 100-200 ppt TEQ, như mức ô nhiễm của đất tại sân bay A Sho, bằng công nghệ sinh học với các chủng vi sinh US6-1 và IC10 là đáng tin cậy và đáp ứng được các yêu cầu kỹ thuật xử lý sinh học hiện hành. Giải pháp xử lý đất ô nhiễm dioxin do VACNE cùng các đối tác Hàn Quốc đã sử dụng là phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và khả năng tổ chức thực hiện của địa phương Việt Nam.

     Giải pháp xử lý ô nhiễm dioxin bằng công nghệ sinh học của Hàn Quốc như trình bày trên đây nếu được tiếp tục hoàn thiện sẽ đạt được hiệu suất xử lý cao hơn, rẻ hơn và có thể áp dụng rộng rãi trên một số vùng đất hiện còn bị ô nhiễm dioxin để góp phần khắc phục hậu quả chất độc hóa học do Mỹ để lại ở Việt Nam, tạo thuận lợi để các cộng đồng phát triển bền vững kinh tế - xã hội và bảo vệ sức khỏe nhân dân địa phương.

Tài liệu tham khảo

  1. VACNE. 2016. Báo cáo kết quả phân tích tồn lưu và thử nghiệm phương pháp tẩy độc dioxin trong đất tại sân bay A Sho, A Lưới. 9-2016.
  2. VACNE. 2017. Báo cáo kết quả thử nghiệm tẩy độc dioxin bằng phương pháp vi sinh Hàn Quốc tại sân bay A Sho, A Lưới. 8-2017.
  3. BJC. 2017. Báo cáo kết quả thử nghiệm tẩy độc dioxin bằng phương pháp vi sinh Hàn Quốc tại sân bay A Sho, A Lưới. Korea BJC. 2017.
  4. Văn phòng Ban Chỉ đạo 33-Bộ TN&MT. 2014. Đánh giá hiện trạng, đề xuất giải pháp phục hồi môi trường đất canh tác và chính sách hỗ trợ người dân tại vùng ô nhiễm dioxin do bị phun rải thuốc diệt cỏ trong thời gian chiến tranh. Nhiệm vụ chuyên môn. 2014.
  5. Viện Khoa học và Công nghệ quân sự. 2017. Báo cáo tình hình lựa chọn, đề xuất công nghệ xử lý chất độc dioxin ở sân bay Biên Hòa. 9-2017.
  6. Office of the National Steering Committee 33 (C33); Institute of Biotechnology and Environment, Viet Nam Academy of Science Technology; The Ford Foundation. 2010. Bioremediation Pilot Studies for Soil at Da Nang Former US Airbase, Viet Nam.
  7. Dwernychuk LW và NNK. 2002. Chemosphere. 2002. No. 47:117-137pp.
  8. Stellman, JM. 2003. The extent and patterns of usage of Agent Orange and other herbicides in Viet Nam. Nature 422, 17 April, 2003.

Về các tác giả:

  1. TS. Nguyễn Ngọc Sinh, Chủ tịch, Hội Bảo vệ Thiên nhiên và MT (VACNE); vn@vacne.org.vn; Tel: 0913210914; ĐC: Tầng 9 KS Công Đòan, 14 Trần Bình Trọng, Hà Nội; tel: 39420280
  2. PGS. TS. Lê Bắc Huỳnh, Phó Tổng thư ký, VACNE, lebachuynh@yahoo.com; 0932223866
  3. Dr. Choi Yong Seol, Chủ tịch, Công ty BJC, Hàn Quốc, bjc6869@hanmail.net; ĐC: 35B-2L Namdong Industrial Complex 611-6, NAMCHON-DONG, NAMDONG-GU.INCHEON, Korea; Tel: +82-32-821-2090;
  1. PGS.TS. Phùng Tửu Bôi, VACNE, boi.phungtuu@gmail.com; 0912179834;
  2. Dr. Kwon Kae Kyoung, Adjunct Professor, Nghiên cứu KH trưởng, Viện Khoa học và Công nghệ Đại dương Hàn Quốc, kkkwon@kiost.ac; ĐC: 787, Haeanro, Ansan 426-744, Korea; Tel: +82-31-400-6242;
  3. Ph.D. Seo Jong Su, Nghiên cứu viên trưởng, Viện Độc học Hàn Quốc (KIT), jsseo@kitox.re.kr; ĐC: 17 Jeigok-gil, Munsan-eup, Jinju, Gyeongsangnam-do 660-844, Korea; Tel: +82-55-750-3750
  4. Ths. Nguyễn Danh Trường, VACNE, truongvacne@gmail.com;  39420280

 

TS. Nguyễn Ngọc Sinh, Chủ tịch, Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường

PGS. TS. Lê Bắc Huỳnh, Tổng Thư ký, Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường

TS. Choi Yong Seol, Chủ tịch, Công ty BJC, Hàn Quốc

PGS.TS. Phùng Tửu Bôi, Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường

TS. Kwon Kae Kyoung, Viện Khoa học và Công nghệ Đại dương Hàn Quốc

TS. Seo Jong Su, Viện Độc học Hàn Quốc

Ths. Nguyễn Danh Trường, Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường

(Tạp chí Môi trường số chuyên đề III năm 2017)

 

Thống kê

Lượt truy cập: 3639606