--%>

     Sau một năm triển khai thực hiện Đề án thí điểm về hoàn thiện, nhân rộng mô hình BVMT trong xây dựng nông thôn mới (NTM) tại các xã khó khăn, biên giới, hải đảo theo hướng xã hội hóa, giai đoạn 2017 - 2020 (theo Quyết định số 712/QĐ-TTg ngày 25/6/2017 của Thủ tướng Chính phủ) đến nay đã đạt được một số kết quả nhất định.

     Về xây dựng cơ chế, chính sách liên quan đến BVMT nông thôn, Bộ NN&PTNT đã phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội rà soát và đề xuất Thủ tướng Chính phủ ban hành chính sách tăng mức cho vay tín dụng tối đa để xây dựng hoặc nâng cấp, cải tạo các công trình cấp nước lên 10 triệu đồng/hộ (trước đây tối đa là 6 triệu đồng/hộ) tại Quyết định số 1025/QĐ-TTg ngày 19/9/2018. Đây là cơ sở quan trọng để hỗ trợ các hộ dân, đặc biệt là các hộ ở vùng sâu, vùng xa cải thiện việc thiếu nước sạch đạt quy chuẩn. Bên cạnh đó, một số địa phương đã chủ động tăng cường ngân sách tỉnh để đẩy mạnh công tác BVMT, như Đồng Nai, Nam Định, Hải Dương, Trà Vinh, Bình Thuận, Hà Tĩnh…

     Hiện trạng các mô hình BVMT tại khu vực nông thôn

     Hiện nay cả nước có khoảng 88,5% số dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh, trong đó, gần 51% sử dụng nước đạt Quy chuẩn 02:2009/BYT, tỷ lệ này có sự chênh lệch tương đối lớn giữa các tỉnh thuộc các khu vực. Tại một số tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng (Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình…), tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch cao, dao động từ khoảng 70 - 80%, trong khi đó các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch ở mức dưới 40%. Số lượng công trình cấp nước sinh hoạt tập trung có tăng lên, song tỷ lệ công trình hoạt động kém hiệu quả và không hoạt động vẫn còn cao. Công tác quản lý, vận hành và khai thác các công trình cấp nước nông thôn chủ yếu quản lý dựa vào cộng đồng (chiếm 76,8%) hoặc đơn vị sự nghiệp của nhà nước.

     Từ thực tế nêu trên, trong thời gian tới, đối với khu vực đồng bằng, nơi có mật độ dân số cao (trên 1.200 người/km2), cần phải đẩy mạnh xã hội hóa, tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư và vận hành, quản lý công trình cấp nước tập trung. Khu vực trung du, mật độ dân số tương đối cao (khoảng 700 - 1.200 người/km2), nhu cầu về sử dụng nước sạch ngày càng tăng, cần tăng mức hỗ trợ vốn của nhà nước cho đầu tư cơ sở hạ tầng cung cấp nước sạch bên cạnh nguồn vốn của doanh nghiệp. Tại một số vùng sâu, vùng xa, mật độ dân số thấp, việc cấp nước gặp nhiều khó khăn, tăng tỷ lệ vốn đầu tư (thậm chí là 100% đầu tư của nhà nước) và do đơn vị sự nghiệp nhà nước đầu tư, vận hành để đảm bảo cơ hội được sử dụng nước sạch cho người dân.

     Trong khi đó, lượng chất thải rắn (CTR) sinh hoạt nông thôn phát sinh ngày càng tăng lên, tỷ lệ thu gom còn thấp, trung bình đạt khoảng 40-55% so với tổng lượng CTR phát sinh (vùng ven đô thị, có nơi đạt đến 80%; vùng sâu, vùng xa, ước chỉ đạt khoảng 10%), còn lại chưa được thu gom và xử lý đúng quy định, là nguồn gây ô nhiễm môi trường. Theo thống kê đến năm 2016, cả nước có 458 bãi chôn lấp CTR sinh hoạt quy mô trên 1 ha, các bãi chôn lấp quy mô nhỏ ở các xã chưa được thống kê đầy đủ; chỉ có một số vùng, rác chủ yếu được chôn lấp hợp vệ sinh, còn lại chôn lấp thông thường, chưa đảm bảo các quy định về bãi chôn lấp CTR hợp vệ sinh. Theo thống kê sơ bộ của 36 tỉnh, hiện nay có 285 lò đốt rác, trong đó có 218 lò quy mô cấp xã (chiếm 76,5%), công suất dưới 5 tấn/ngày; 46 lò quy mô từ 5 - 50 tấn/ngày (chiếm 16,1%); 21 lò công suất trên 50 tấn/ngày (chiếm 7,4%)). Các lò cấp xã chủ yếu sử dụng công nghệ đốt, không sử dụng nhiên liệu nên nhiệt trị thấp, tỷ lệ tro sau khi đốt còn cao; hầu hết không đảm bảo quy trình vận hành thường xuyên, đúng kỹ thuật.

     Để giải quyết vấn đề rác thải nông thôn cần giảm lượng rác phát sinh thông qua việc phân loại, tái chế, tái sử dụng chất thải; tuyên truyền, vận động và huy động sự vào cuộc của các tổ chức chính trị - xã hội; xem xét, quy định mức phí vệ sinh môi trường theo lượng rác phát thải (không khoán theo đầu người hoặc hộ gia đình như hiện nay) để người dân có ý thức giảm thiểu lượng rác phát sinh và tăng cường phân loại rác tại nguồn. Cần phát triển các tổ thu gom hoặc hợp tác xã thu gom rác thải tại các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn về giao thông; ban hành mức phí vệ sinh cao hơn hiện nay; đầu tư, trang bị thiết bị thu gom rác cho các tổ, đội thu gom; có cơ chế chi trả lương, chế độ đãi ngộ thỏa đáng cho người lao động. Về xử lý CTR, tại khu vực đồng bằng, cần ưu tiên xây dựng các lò đốt quy mô cấp huyện (xử lý từ 50 tấn/ngày trở lên) để đảm bảo yêu cầu xử lý đối với khí thải, nước thải, tro thải; địa phương có điều kiện thuận lợi, có thể đầu tư khu xử lý quy mô lớn hơn (trên 200 tấn/ngày) gắn với phát điện để xử lý chất thải liên huyện hoặc cả tỉnh. Đối với khu vực miền núi, trước mắt, việc xử lý theo hình thức chôn lấp hợp vệ sinh là một giải pháp phù hợp với chi phí đầu tư và vận hành thấp.

 

       Cơ quan chức năng tiến hành xử lý chất thải do hóa chất BVTV tồn lưu trên địa bàn tỉnh Quảng Trị

 

     Ngoài ra, việc thu gom và xử lý chất thải chăn nuôi đáp ứng quy định về môi trường còn ở mức thấp. Hiện cả nước có khoảng 68% tổng số trang trại có áp dụng biện pháp để xử lý chất thải chăn nuôi, 32% chưa áp dụng biện pháp xử lý; trong số 68% trang trại có áp dụng biện pháp xử lý, có 30,2% có hệ thống biogas, 25,6% tách phân rắn để bán ra ngoài, 6,4% làm đệm lót sinh học, 1,9% ủ phân compost và 3,9% áp dụng các biện pháp khác. Đối với các hộ gia đình chăn nuôi, tỷ lệ chưa áp dụng biện pháp xử lý chất thải khoảng 47%; đặc biệt, hộ chăn nuôi lợn thường ở quy mô nhỏ, nằm xem lẫn khu dân cư, nước thải chỉ được xử lý bằng biogas nên chưa triệt để các thành phần ô nhiễm.

     Hiện nay, một số cơ sở đã áp dụng thành công các công nghệ xử lý chất thải chăn nuôi, vừa xử lý triệt để tác động đến môi trường, vừa mang lại thu nhập; đồng thời nhiều mô hình chăn nuôi theo quy trình khép kín từ chăn nuôi - trồng trọt - chăn nuôi đã phát huy hiệu quả. Việc tận thu, tái chế, tái sử dụng chất thải chăn nuôi cho các mục đích sử dụng khác (như nuôi trồng thủy sản, trồng nấm, nuôi giun và các loại hình sản xuất nông nghiệp khác) là cần thiết, nhưng còn thiếu các quy định về yêu cầu kỹ thuật cụ thể. Do đó, cần xây dựng và ban hành các chính sách khuyến khích sản xuất và sử dụng phân bón hữu cơ từ chất thải chăn nuôi, nhằm từng bước giảm sử dụng lượng phân hóa học; hình thành chiến lược quản lý chất thải vật nuôi toàn quốc theo hướng coi chất thải chăn nuôi là tài nguyên, nguyên liệu đầu vào cho các ngành sản xuất khác để tạo lập thị trường trao đổi, chế biến, lưu thông và sử dụng hàng hóa; xây dựng cơ chế hỗ trợ ưu đãi đối với các doanh nghiệp thu gom và xử lý chất thải chăn nuôi thành phân bón hoặc cho các mục đích sử dụng khác.

     Trong khi đó, mỗi năm cả nước phát sinh khoảng trên 11.000 tấn bao gói thuốc BVTV, khoảng 40% lượng bao gói thuốc BVTV phát sinh được thu gom, 17,7% được xử lý theo phương pháp đốt đúng quy định, còn lại 82,3% được xử lý như chất thải thông thường (chôn lấp hoặc đốt ở nhiệt độ thấp). Hiện nay, bước đầu hình thành những mô hình quản lý hiệu quả bao gói thuốc BVTV sau sử dụng trên cơ sở giảm thiểu lượng phát sinh, như: Mô hình “cánh đồng không vỏ bao thuốc BVTV” tại huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình; mô hình Hội Nông dân vận động cán bộ hội viên thu gom bao gói thuốc BVTV…

     Tuy nhiên, ở nhiều địa phương, ý thức của người dân về việc thu gom và xử lý bao gói thuốc BVTV, hạn chế sử dụng thuốc BVTV trong canh tác nông nghiệp còn chưa cao. Do đó, cần chú trọng đến việc tuyên truyền, khuyến cáo người dân về việc hạn chế việc sử dụng hóa chất, thuốc BVTV trong trồng trọt. Ngoài ra, cần tăng cường trách nhiệm của cơ sở sản xuất thuốc BVTV trong việc thu gom, xử lý bao gói thuốc BVTV đã qua sử dụng thông qua cơ chế thu hồi các sản phẩm thải bỏ, tính toán chi phí xử lý trong giá thành thuốc BVTV để hạn chế sử dụng, thu phí xử lý bao gói đối với các cơ sở cung cấp...

     Trong thời gian qua, công tác tuyên truyền đã được các địa phương, các tổ chức Hội, đoàn thể quan tâm, đẩy mạnh với một số phong trào gắn với thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới (NTM), như: Mô hình Câu lạc bộ “3 sạch”, Giáo dục cộng đồng thực hiện vệ sinh môi trường; Hỗ trợ xây dựng hố xí; “Tuyến đường phụ nữ tự quản”; “Đoạn đường nở hoa” (trồng hoa); “Nhóm liên gia tự quản”; “Tổ phụ nữ thu gom rác”; “Đoạn đường thanh niên tự quản” “Ngày thứ 7 tình nguyện, Ngày Chủ nhật xanh”, “Thanh niên tình nguyện BVMT”; “Phân loại rác tại nguồn và hạn chế sử dụng túi ni lông”…Tuy nhiên, công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức BVMT cho hội viên còn tập trung vào các hoạt động bề nổi, chưa có cơ chế tài chính bền vững để duy trì hoạt động tuyên truyền viên BVMT tại cơ sở…

     Xây dựng các mô hình thí điểm về BVMT

     Đây là một trong những nội dung quan trọng của Đề án 712, nhằm thí điểm các công nghệ xử lý chất thải, cơ chế duy trì, vận hành các hệ thống sau đầu tư, huy động nguồn lực thực hiện, trên cơ sở đó sẽ đề xuất các chính sách phù hợp. Có 15 tỉnh/thành phố đã đăng ký nhu cầu cấp nước uống cho trạm y tế và nước uống của các xã đảo, được Trung tâm Quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tổng hợp, xây dựng Dự án cấp nước uống cho trường học, trạm y tế tại các xã đảo; 18 tỉnh đã đăng ký xây dựng 23 mô hình thí điểm, trong đó có 7 mô hình cấp nước sạch tập trung; 9 mô hình xử lý chất thải rắn; 3 mô hình xử lý chất thải chăn nuôi; 4 mô hình xử lý bao gói thuốc BVTV.

     Bên cạnh đó, còn thực hiện lồng ghép thực hiện các mô hình thí điểm vào Chương trình khoa học công nghệ phục vụ xây dựng NTM. Một số đề tài, dự án được xem xét, lồng ghép nội dung thực hiện: Nghiên cứu và xây dựng 2 mô hình cấp nước sinh hoạt cho các vùng ô nhiễm đặc thù tại Bình Thuận và Trà Vinh; cải tạo, nâng cấp 4 hồ treo cấp nước tại Hà Giang; hỗ trợ hoàn thiện các mô hình xử lý chất thải chăn nuôi bằng công nghệ đệm lót sinh học, xử lý bằng màng lọc biogill tại Trang trại Trang Linh tại Bà Rịa - Vũng Tàu; thí điểm 4 mô hình xử lý chất thải sinh hoạt và chăn nuôi quy mô vừa và nhỏ phù hợp với đặc thù của vùng Bắc Trung bộ… Ngoài ra, các địa phương cũng tích cực, chủ động bố trí kinh phí từ ngân sách để thực hiện các đề tài, dự án quy mô cấp tỉnh, cấp cơ sở để triển khai các nội dung liên quan đến Đề án 712, đặc biệt là việc tìm kiếm giải pháp để xử lý CTR sinh hoạt nông thôn, xử lý chất thải chăn nuôi…

     Với việc ban hành và triển khai thực hiện Đề án 712 đã huy động sự quan tâm, vào cuộc của các Bộ, ngành Trung ương; tổ chức chính trị - xã hội; địa phương và sự hưởng ứng của các doanh nghiệp dịch vụ môi trường. Ngoài ra, còn có sự quan tâm của các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ, cơ quan nghiên cứu và chuyên gia về môi trường. Đồng thời, quá trình triển khai thực hiện Đề án 712 đã gắn kết với thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng NTM, là một trong những nội dung trọng tâm, nâng cao chất lượng trong xây dựng NTM; đã huy động nhiều nguồn lực khác nhau để triển khai Đề án từ các doanh nghiệp trong nước và nước ngoàibước đầu có các dự án đầu tư tại nhiều địa phương; Chương trình khoa học và công nghệ phục vụ xây dựng NTM, huy động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này.

     Bên cạnh những kết quả nêu trên, việc triển khai thực hiện Đề án còn gặp những khó khăn, vướng mắc, cụ thể: Các thủ tục lập, phê duyệt dự án thường mất 2-3 năm, liên quan đến nhiều lĩnh vực như đất đai, hạ tầng, quy trình thẩm định của nhiều ngành,…trong khi thời gian thực hiện Đề án gần 3 năm (từ 2017- 2020) là chưa đủ để thí điểm về công nghệ xử lý, chỉ mới đủ thời gian để thí điểm về cơ chế huy động vốn đầu tư và cơ chế quản lý thực hiện các Dự án. Việc phân công trách nhiệm thẩm định công nghệ xử lý chất thải giữa các cơ quan hiện nay còn chồng chéo, chưa rõ, dẫn đến lúng túng trong khâu xây dựng và thẩm định hồ sơ các dự án; sự phối hợp của các ngành liên quan còn chưa chặt chẽ…Ngoài ra, năng lực của các địa phương trong xây dựng hồ sơ đề xuất còn hạn chế, dẫn đến tiến độ thực hiện còn chậm. Về xây dựng mô hình tuyên truyền viên BVMT cấp xã, chưa có cơ chế tài chính cụ thể để chi trả phụ cấp cho tuyên truyền viên, dẫn đến chưa có cam kết, ràng buộc lâu dài đối với đội ngũ này.

     Nhìn chung, hơn 1 năm triển khai Đề án đã mang lại những kết quả nhất định trong việc xây dựng cơ chế, chính sách; rà soát, đánh giá các mô hình hiện có; xây dựng các mô hình thí điểm về BVMT nông thôn, trong đó tập trung vào các khu vực khó khăn theo hướng xã hội hóa. Việc triển khai thực hiện Đề án đã góp phần tích cực cho thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới, từng bước tháo gỡ các khó khăn và định hướng giải pháp để giải quyết các vấn đề môi trường theo đặc thù của từng địa phương, vùng miền. Để đẩy mạnh thực hiện Đề án, trong năm 2019 cần tập trung đánh giá các mô hình hiện có theo chiều sâu (trên cơ sở kết quả đánh giá đã thực hiện trong năm 2018) để đề xuất các chính sách phù hợp; tiếp tục triển khai các mô hình thí điểm về cấp nước, xử lý chất thải (sinh hoạt, chăn nuôi, bao gói thuốc BVTV) và đẩy mạnh thực hiện mô hình tuyên truyền viên BVMT cấp xã.

 

Đình Anh - Tô Thúy Nga
Văn phòng Điều phối nông thôn mới Trung ương

(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường, số 12/2018)

 

 

 

 

Thống kê

Lượt truy cập: 1611236