--%>

    Hiện nay, vấn đề ô nhiễm môi trường đã và đang gây ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sống của con người, trong đó có tình trạng ô nhiễm chất thải hữu cơ ở các khu vực ao hồ, chuồng trại chăn nuôi. Các biện pháp truyền thống như dùng hóa chất không xử lý một cách triệt để mà còn tiêu diệt các vi khuẩn có ích, tạo điều kiện cho các vi khuẩn có hại phát triển. Để khắc phục tình trạng trên, nhóm nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu thành công chế phẩm sinh học Sagi Bio, đây là phương pháp xử lý chất thải bằng công nghệ sinh học, với cơ chế dựa trên các hoạt động sống của vi sinh vật, chủ yếu là vi khuẩn dị dưỡng hoại sinh có trong chất thải, để xử lý chất thải. Các chế phẩm sinh học Sagi Bio gồm các chủng vi khuẩn và xạ khuẩn được tuyển chọn và được đánh giá có mức độ an toàn sinh học cao.

    Trước đây, tình trạng nước thải nuôi bò chảy tràn trên đường, hệ thống mương và ao hồ bốc mùi hôi thối là nỗi lo của nhiều người tại một số xã của huyện Gia Lâm, Hà Nội như Đặng Xá, Phù Đổng, Lệ Chi. Nhận thấy các vấn đề này, ngành môi trường và khoa học công nghệ của Hà Nội cũng như chính quyền các xã đã xây dựng các mô hình nuôi giun và xây dựng nhiều biogas để xử lý chất thải chăn nuôi của các hộ gia đình đã bắt đầu được áp dụng, nhưng lượng thải ra môi trường vẫn lớn. Riêng thôn Đổng Xuyên, xã Đổng Xá chỉ có 33/93 hộ chăn nuôi lắp đặt bể biogas, các hộ gia đình còn lại không áp dụng công nghệ nào để xử lý nước thải chăn nuôi cũng như nước thải sinh hoạt, tất cả nước thải lẫn chất thải rắn đều thải ra hệ thống mương chung của thôn, sau đó chảy thẳng vào sông Giàng và bốc mùi hôi thối. Do đó, nhóm nghiên cứu đã xây dựng một mô hình tổng thể gồm: Sử dụng chế phẩm sinh học Sagi Bio để xử lý mùi ngay tại chuồng trại;  Nước thải chăn nuôi, sinh hoạt từ các hộ dân được thu gom vào hệ thống mương sau đó đưa nước thải vào hệ thống các bể lọc đất ngập nước và cuối cùng đẩy sang bể thủy sinh. Nhóm nghiên cứu sử dụng chế phẩm sinh học Sagi Bio (sản phẩm đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích số 2-0001762, được công bố ngày 25/7/2018), gồm các chủng vi khuẩn Bacillus, xạ khuẩn Streptomyces chịu nhiệt và ưa nhiệt sinh tổng hợp mạnh các enzym ngoại bào (xenlulaza, amylaza và proteinaza) để xử lý mùi, làm hoai phân nhanh chóng. Ưu điểm của chế phẩm sinh học Sagi Bio là các chủng vi khuẩn đều được phân lập từ nguồn đất tự nhiên của Việt Nam và được lưu giữ trong bộ sưu tập giống vi sinh tại phòng thí nghiệm của Viện Công nghệ môi trường, có hoạt tính sinh học đặc hiệu cao, đặc tính ưa nhiệt, phù hợp để phối trộn và ủ phân. Các chủng này vừa có khả năng sinh trưởng, phát triển ở nhiệt độ cao, vừa sinh tổng hợp các enzym ngoại bào, đồng thời các xạ khuẩn còn có khả năng sản sinh ra một số chất kháng sinh ức chế các vi sinh vật có hại trong chất thải của vật nuôi.

 

Người dân ở Gia Lâm, Hà Nội sử dụng chế phẩm Sagi Bio để xử lý môi trường 

 

    Nhờ đó, các chế phẩm này không chỉ rút ngắn thời gian hoai mục của phân (từ 1,5 tháng xuống còn khoảng 4 tuần) mà còn sinh nhiệt cao (55 - 600C) giúp diệt trừ hết các mầm bệnh, giúp giun nuôi bằng phân hoai mục này khỏe hơn, sạch bệnh. Còn hệ thống nước qua xử lý bằng vi sinh vật và ba bể lọc đã được hấp thụ hết các chất hữu cơ và kim loại nặng, đạt các tiêu chuẩn về môi trường sau khi kiểm định độc lập. Theo tính toán sơ bộ của nhóm nghiên cứu, hệ thống này có kinh phí đầu tư rẻ hơn các hệ thống sử dụng phương pháp xử lý môi trường hiếu khí - thiếu khí tới hơn một nửa. Việc đưa ra mô hình xử lý với giá cả hợp lý, không phát sinh ô nhiễm thứ phát này rất có ý nghĩa với các khu vực nông thôn nói chung và ở Gia Lâm nói riêng vì đây là hiện trạng nan giải ở hầu hết các tỉnh, thành phố bởi chăn nuôi hộ gia đình vẫn đang là hình thức chủ yếu. Hiện cả nước có khoảng 12 triệu hộ gia đình chăn nuôi, mỗi năm thải khoảng 84,5 triệu tấn chất thải, mà mới chỉ khoảng 20% được xử lý, còn lại 80% thải ra môi trường.

    Nhằm phát huy cao độ tính năng và công dụng của chế phẩm này, các nhà khoa học đã nghiên cứu chia tách sản phẩm ra thành hai loại chế phẩm sinh học: Sagi Bio 1 có tác dụng xử lý mùi chuồng trại chăn nuôi và bãi chôn lấp chất thải. Sagi Bio 2 với công dụng xử lý nước thải giàu chất hữu cơ, dùng cho các công trình xử lý nước thải giàu hữu cơ hiếu khí, thiếu khí và ao hồ bị ô nhiễm hữu cơ, thúc đẩy nhanh quá trình phân hủy chất thải hữu cơ làm sạch môi trường nước.

    Không chỉ xử lý môi trường cho những xã điển hình về ô nhiễm môi trường, giải pháp này còn được các doanh nghiệp môi trường một số địa phương áp dụng. Trong đó có Công ty TNHH MTV quản lý công trình đô thị Hà Tĩnh, đơn vị đã đề nghị được tham gia hợp tác để áp dụng chế phẩm sinh học. Đồng thời, Công ty còn đầu tư kinh phí xây dựng phòng thí nghiệm và mua sắm thêm các trang thiết bị như tủ lưu giữ chủng giống vi sinh, máy nghiền nguyên liệu, tủ sấy dụng cụ, máy đo pH để bàn, thiết bị lên men vi sinh… nhằm phục vụ cho công tác xử lý rác. Ngoài phân giải chất hữu cơ, chế phẩm Sagi Bio còn có tác dụng hạn chế mùi, ngăn chặn quá trình sinh trưởng của các ổ ấu trùng ruồi, muỗi, qua đó giảm thiểu hóa chất diệt ruồi. Về lâu dài, việc xử lý toàn bộ lượng rác thải đưa về nhà máy đã đạt tới 97% đã góp phần tiết kiệm chi phí đầu tư dài hạn, tiết kiệm quỹ đất chôn lấp chất thải. Như vậy, thay vì cung cấp toàn bộ chế phẩm thì nay chỉ cần cung cấp giống sản xuất để các cán bộ ở đây tự sản xuất chế phẩm vi sinh, qua đó, giảm tới 50% giá thành sản phẩm so với trước đây.

    Từ mẻ phân bón hữu cơ vi sinh đầu tiên, nhóm nghiên cứu đã đem trồng khảo nghiệm ngay trong nhà máy, trên các loại đất cát bạc màu mang từ nhiều nơi về với các loại rau màu phổ biến như ngô, dưa hấu, cải xanh… Sau khi thu hoạch, sản phẩm đều được gửi đến các đơn vị có chức năng phân tích để đánh giá dư lượng của các kim loại nặng và vi sinh vật gây bệnh. Kết quả cho thấy, hàm lượng chì trong bắp ngô của chúng tôi thấp hơn bắp ngô bán ngoài chợ. Để có được kết quả xác thực hơn, sản phẩm đã được gửi đi xét nghiệm tại Trung tâm chứng nhận phù hợp (Quacert) và Công ty cổ phần Chứng nhận và kiểm định (Vinacontrol). Kết quả cũng cho thấy, các kim loại nặng như asen, chì, thủy ngân, cadmi cũng như những vi khuẩn có hại trong sản phẩm đều không có, hoặc nếu có thì ở dưới mức cho phép. Bên cạnh đó, đất trồng các loại rau màu này đã trở nên tơi xốp, cải thiện được tính chất đất. Đặc biệt, các chế phẩm sinh học Sagi Bio đã được Bộ TN&MT cấp giấy phép sử dụng trong lĩnh vực xử lý môi trường và Bộ NN&PTNT đưa các sản phẩm phân bón sản xuất từ chất thải rắn sinh hoạt của Công ty TNHH MTV quản lý công trình đô thị Hà Tĩnh vào danh mục phân bón được cấp giấy phép lưu hành.

    Ngoài ra, chế phẩm sinh học Sagi Bio còn được ứng dụng vào xử lý tàn dư đồng ruộng và lần đầu tiên được ứng dụng vào thực tế là dự án xử lý 70 ha đất thuộc 5 huyện của tỉnh Nam Định. Hiệu quả của chế phẩm cũng được khẳng định, khi những người nông dân tại đây nhận thấy, quá trình phân hủy chất thải hữu cơ diễn ra nhanh hơn, thời gian ủ được rút ngắn, không sinh mùi hôi thối, tiêu diệt được các vi sinh vật gây bệnh, tạo ra nguồn phân bón hữu cơ sạch. Chế phẩm vi sinh này còn được ứng dụng vào xử lý các chất thải hữu cơ khác như: Thân lá các loại rau; phân gia súc, gia cầm... để sản xuất phân bón. Đặc biệt, chế phẩm Sagi Bio đã được nhà máy sản xuất, chế biến phân hữu cơ từ rác thải ở Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh) sử dụng. Nhà máy không còn mùi hôi, mùn hữu cơ thu được sau quá trình xử lý được chế biến thành phân hữu cơ vi sinh phục vụ nông nghiệp, hoặc sản xuất gạch không nung.

    Tuy nhiên, trong quá trình ứng dụng các chế phẩm này vẫn còn những vướng mắc bên ngoài phạm vi giải quyết của công nghệ. Với ô nhiễm dân sinh ở Gia Lâm, triển vọng giải quyết rất tốt nhưng khó áp dụng, bởi vì nếu cấp phát miễn phí chế phẩm sinh học cho người dân thì họ dùng ngay nhưng phải mua thì sẽ khó. Đến nay, nhóm nghiên cứu vẫn phải cung cấp miễn phí cho Hợp tác xã làng Gióng (thôn Đổng Xuyên) để duy trì mô hình do đơn vị hiện tại đang đảm nhiệm thu phân bò của người dân để ủ nuôi giun quế nhưng không có nguồn thu. Trên thực tế, việc thu phân bò sữa của các hộ gia đình ở đây không mang lại nhiều lợi nhuận, chỉ đủ chi trả cho các khoản tiền thuê nhân công thu gom, mua chế phẩm ủ hoai cho việc nuôi giun. Bên cạnh đó, hệ thống mương thu gom xử lý nước thải của Đổng Xuyên vẫn cần phải bổ sung chế phẩm vi sinh để khử mùi, thu gom bùn lắng đọng. Do đó, vấn đề tài chính không chỉ là bài toán của HTX làng Gióng hay các xã Đặng Xá, Lệ Chi, mà đây cũng là bài toán của tất cả các mô hình, dự án xử lý môi trường ở nông thôn Việt Nam nói chun. Thực ra hiện nay, các mô hình, giải pháp về xử lý môi trường ở các vùng nông thôn Việt Nam hoàn toàn có và khả thi nhưng sau khi dự án kết thúc, có thể áp dụng vào thực tế hay không? Sẽ cần một bài toán tổng thể và chính sách chung, còn công nghệ chỉ có thể giải quyết được khâu đầu tiên.

    Đối với các công ty xử lý rác thải, để áp dụng hiệu quả chế phẩm này, các công ty môi trường phải thu gom và phân loại rác tại nguồn, mà trên thực tế đây vẫn là bài toán khó, chưa được giải quyết triệt để. Nếu chưa có giải pháp phân loại ngay từ khâu người dùng, thì các công ty vệ sinh môi trường dù huy động nguồn lực lớn thì vẫn không thể thu gom hiệu quả và phải tốn nhiều nhân lực phân loại rác ở khâu cuối. Do đó, cần các chính sách tổng thể hơn, giúp thay đổi hành vi và ý thức người dân để thu gom và phân loại ngay từ khâu đầu tiên. Có như thế, “cuộc chiến” với rác thải mới thực sự hiệu quả và môi trường của Việt Nam sẽ được bảo vệ tốt hơn.

 

Vũ Nhung

(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường số 9/2020)

Thống kê

Lượt truy cập: 2769445