--%>

     Vịnh Vân Phong (Khánh Hòa) nói riêng và vùng biển Nam Trung Bộ nói chung có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự hình thành, phát triển của các rạn san hô (RSH), rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, các loài hải sản và được xem là một trong những khu vực có tiềm năng đa dạng sinh học cao. Tuy nhiên, việc quy hoạch vịnh Vân Phong thành khu vực kinh tế trọng điểm với chiến lược phát triển đa ngành trong tương lai sẽ tạo nên sức ép lớn về môi trường và tài nguyên đa dạng sinh học. Do vậy, cần phân tích tiềm  năng và các mối tác động đối với các hệ sinh thái (HST) biển làm cơ sở đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, tiến tới sử dụng bền vững tài nguyên môi trường vịnh Vân Phong trong thời gian sắp tới.

     HST san hô biển tại vịnh Vân Phong

     Kết quả nghiên cứu cho thấy, RSH ở vịnh Vân Phong phân bố rộng, không đồng nhất và chủ yếu tập trung ở các khu vực dọc ven bờ ở phía Nam như Xuân Tự, Ninh Phước, Ninh Tịnh, xung quanh các đảo Hòn Lớn (phía Nam và Đông  Nam), Điệp Sơn, Hòn Ông, Hòn Đen, Hòn Mỹ Giang và các đảo nhỏ trong vũng Bến Gỏi, và dọc bán đảo Hòn Gốm (Khải Lương, Vũng Cổ Cò)... Tổng diện tích RSH phân bố trong vịnh Vân Phong khoảng 1.618 ha, trong đó các khu vực có diện tích lớn gồm Vũng Ké (113 ha), Hòn Bịp (107 ha) và Xuân Tự (240 ha). Tuy nhiên, ở những khu vực có diện tích  lớn này chủ yếu là các bãi san hô chết và có một số tập đoàn san hô sống phân bố.

     Khu vực vịnh Vân Phong có tổng cộng 998 loài thuộc 648 giống và 175 họ của 6 nhóm sinh vật rạn chủ yếu (san hô cứng tạo rạn, cá RSH, thân mềm, giáp xác, da gai và giun nhiều tơ) trên các RSH.  Thành phần san hô cứng tạo rạn đã xác định được 294 loài thuộc 67 giống và 14 họ, trong đó các họ có số lượng loài cao gồm Acroporidae (94 loài), Merulinidae (63 loài), Lobophylliidae (26 loài). Đặc biệt, tại vịnh Vân Phong, các nhà khoa học biển Việt Nam thuộc Viện hải dương học Nha Trang đã xác định được 267 loài cá RSH, thuộc 106 giống và 42  họ, trong đó, họ cá thia có thành  phần loài phong phú nhất (52 loài), tiếp theo là cá bàng chài (44 loài), cá bướm (25 loài), cá mó (16 loài), cá sơn (12 loài) và một số họ cá có giá trị thực phẩm cao.

 

RSH tại vịnh Vân Phong

 

     Bên cạnh đó, tại đây có nhóm động vật thân mềm với số lượng loài nhiều nhất, 169 loài thuộc 127 giống và 58 họ. Trong tổng số loài nói trên, các họ có số loài cao  gồm Trochidae (17 loài), Rissoidae (14 loài), Triphoridae (13 loài), Veneridae và Turridae (mỗi họ 9 loài), Turbinidae và Muricidae (mỗi họ có 8 loài) và Mytilidae (7 loài). Nhóm giáp xác cũng đã xác định được trên 68 loài thuộc 39 giống và 8 họ, trong đó họ Xanthidae có 39 loài, tiếp theo là Pilumnidae (12 loài) và họ Portunidae (8 loài)…

     Nguy cơ ô nhiễm môi trường và suy thoái HST san hô biển

     Hiện nay, phần lớn HST san hô trong vịnh Vân Phong không còn duy trì trong tình trạng tốt, trong đó rất ít rạn có độ phủ san hô sống đạt mức độ tốt và nhiều rạn có độ phủ < 10%. Số liệu giám sát ở những điểm rạn cố định tại khu vực Hòn Đen, Bãi Tre, phía Nam Hòn Mỹ Giang từ năm 2003 - 2016 cho thấy, độ phủ san hô chết có xu hướng gia tăng trong khi nguồn lợi sinh vật rạn đều trở nên khan hiếm. Trong khi đó, RSH ở khu vực Cùm Meo, Rạn Tướng phần lớn đã bị chết, ngoại trừ các tập đoàn san hô dạng khối và san hô mềm còn sống sót. Nguyên nhân gây nên sự suy thoái và giảm chất lượng của các RSH do một số các tác động sau:

     Khai thác quámc

     Nhìn chung, nguồn lợi sinh vật trong  vịnh, đặc biệt là các vùng ven bờ có dấu hiệu suy giảm rất rõ rệt. Đáng kể nhất là nguồn lợi cá nổi và cá đáy nhưng hiện nay sản lượng đã bị suy giảm nhiều. Số liệu điều tra nguồn lợi trên các RSH năm từ năm 2003 đên nay đều cho thấy sự khan hiếm hoặc vắng mặt của các nhóm cá có giá trị thực phẩm cao, kích thước lớn (> 30cm) như cá mú, cá hồng, cá hè, cá kẽm, cá bò da, cá cam… Các nhóm loài có giá trị như hải sâm, tôm hùm, trai tai tượng, ốc  tù và, nhum sọ, ốc đụn được ghi nhận với mật độ rất thấp do đã bị khai thác cạn kiệt. Tu hài được xem là nguồn lợi có giá trị kinh tế cao được phát hiện và khai thác chủ yếu ở khu vực Rạn Trào đã bị giảm nhanh chóng xuống tới hang chục lần còn khoảng 15 kg/ngày. Các loài hải sâm có giá trị kinh tế cao như hải sâm mít, hải sâm vú... hầu như không được ghi nhận trên các rạn. Do nguồn lợi trên các RSH đã bị cạn kiệt, vì vậy nguồn lợi khai thác được hiện nay chủ yếu từ những vùng xa bờ.

     Các hoạt động khai thác hủy diệt như đánh mìn, dùng hóa chất độc hại, khai thác san hô sống làm hàng mỹ nghệ diễn ra trong vịnh, nhưng những dẫn liệu từ các đợt khảo sát trong vòng 3 năm trở lại đây đều ghi  nhận những di chứng của các hoạt động khai thác này trên một số rạn ở khu vực Hòn Đỏ, Cùm Meo, Bãi Tre, Bắc và Nam Hòn Mỹ Giang. Theo ngư dân Xuân Tự thì mỗi ngày trung bình có ít nhất 2 – 3 vụ đánh cá bằng chất nổ diễn ra tại Cùm Meo.

     Sự bùng nổ của sinh vật địch hại:

     Sao biển gai phát triển mạnh trong vịnh Vân Phong.  Tại Bãi Tre, Hòn Đen, phía Bắc và Nam Hòn Mỹ Giang, với mật độ sao biển gai rất cao, trung bình 1,0 - 1,9 cá thể/100m2. Một số nơi như Hòn Đỏ và phía Nam Hòn Mỹ Giang có thể ghi nhận được > 6,3 cá thể/100m2. Bên cạnh đó, ốc gai cũng được ghi nhận với mật độ ca. Sự hiện diện với mật độ cao của các nhóm sinh vật địch hại này đã góp phần tiêu diệt san hô, làm giảm chất lượng và gây suy thoái cho nhiều khu vực  rạn ở vịnh Vân Phong.

     Lắng đọng trầm tích

     Một số RSH trong vụng Bến Gỏi (như xung quanh cụm đảo Hòn Bịp) đang bị suy thoái do tình trạng bùn hóa nền đáy, nhất là ở đới chân rạn và đây có thể là quá trình  tự nhiên với sự xâm lấn của nền đáy bùn phía ngoài rạn, vốn là nền đáy phổ biến trong vụng Bến Gỏi. Các đánh giá nhanh mức độ lắng đọng trầm tích trên rạn cho thấy một số khu vực như Cùm Meo, Rạn Tướng, phía Tây Nam Rạn Trào, Bãi Ông bị che phủ khá dày bởi lớp trầm tích mịn. Sự hiện diện với mức độ cao hàm lượng lắng đọng trên rạn có thể là do sự gia tăng lượng chất thải và trầm tích từ đầm nuôi tôm và các hoạt động ven bờ phát tán đến các RSH ở những khu vực nói trên.

     Biến đổi khí hậu gây ra hiện tượng tẩy trắng sanhô:

     San hô bị tẩy trắng ở khu vực Hòn Đen với độ phủ chỉ đạt 4,9%, trong đó các giống có tỷ lệ tẩy trắng cao gồm Montipora (2,5%) và Galaxea (2,4%). Điều này cho thấy rằng, các RSH ở vịnh Vân Phong cũng đang chịu tác động bởi biến cố tẩy trắng liên quan đến tình trạng biến đổi  khí hậu hiện nay.

     Đề xuất các giải pháp BVMT và phát triển bền vững

     Để giảm thiểu các tác động và nâng cao hiệu quả bảo vệ bền vững môi trường biển, trước hết cần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các bên liên quan về bảo tồn san hô, sinh vật biển và sử  dụng bền vững tài nguyên; tổ chức các cuộc hội thảo truyền thông và tham vấn đúng biện pháp và có nội dung phù hợp theo từng nhóm đối tượng cụ thể sẽ góp phần nâng cao sự hiểu biết, nhận thức đúng trách nhiệm và tăng cường sự hợp tác giữa các thành phần trong việc sử dụng bền vững tài nguyên theo định hướng lâu dài.

     Đồng thời, quy hoạch phân vùng chứng năng và xây dựng mô hình quản lý dựa vào cộng đồng và các bên lien quan phù hợp. Nên phân vùng và xây dựng phương án bảo tồn những khu vực đại diện có tầm quan trọng về khía cạnh sinh thái cũng như nghề cá sẽ góp phần bảo tồn và duy trì các giá trị đa dạng sinh học và nguồn lợi liên quan đến các HST, đặc biệt là RSH phục vụ các định hướng và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội theo hướng đa mục tiêu trong thời gian trước mắt cũng như lâu dài ở Khu kinh tế Vân Phong.

     Trong những năm qua, một số vùng rạn đã được quản lý theo hình thức phân cấp quản lý cho chính quyền địa phương và cộng đồng (Khu bảo tồn biển Rạn Trào) và cho doanh nghiệp (Hòn Ông). Mặc dù còn nhiều khó khăn, song việc quản lý theo phương thức này đã đạt được một số kết quả rất đáng khích lệ trong việc bảo tồn và nâng cao ý thức, trách nhiệm của các bên liên quan trong việc bảo vệ tài nguyên. Vì vậy, việc mở rộng phạm vi và phân cấp quản lý tài nguyên theo phương thức giao quyền quản lý cho các đơn vị doanh nghiệp và cộng đồng ở những khu vực khác có tầm quan trọng, đặc biệt những khu vực bãi tập trung, bãi đẻ và bãi ươm giống của các đối tượng nguồn lợi thủy sản sẽ hình thành mạng lưới các khu bảo tồn quy mô nhỏ nhằm góp phần nâng cao hiệu quả bảo tồn và quản lý tài nguyên trong thời gian sắp tới.

     Các kết quả khảo sát và nghiên cứu trong nhiều năm qua cho thấy, tình trạng các RSH không còn duy trì trong điều kiện tốt và nhiều khu vực đang trong tình trạng suy thoái do những tác động của tự nhiên và con người. Do vậy, việc tiến hành phục hồi HSTở những khu vực suy thoái là hết sức cần thiết nhằm gia tăng số lượng và  thúc đẩy nhanh quá trình phục hồi của các RSH. Việc phục hồi và quản lý tốt các khu vực quan trọng sẽ góp phần giảm áp lực cho các khu vực đang bị quá tải, đồng thời tạo ra những điểm đến mới cho hoạt động  du lịch trong tương lai…

 

Dư Văn Toán

Viện Nghiên cứu biển và hải đảo

(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường, số 5/2018)

 

 

 

Thống kê

Lượt truy cập: 1401164