--%>

     Rác thải nhựa (RTN) đã và đang giết chết các loài thủy, hải sản, gây ô nhiễm môi trường biển, thiệt hại kinh tế cho các cộng đồng ven biển, đe dọa sức khỏe con người… Để giảm thiểu RTN trên biển, Trung tâm Hỗ trợ Phát triển Xanh (GreenHub, thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã triển khai Dự án Hướng đến các TP kiểu mẫu về quản lý rác thải ở khu vực ven biển phía Bắc Việt Nam. Dự án  được  Cơ quan Phát triển quốc tế Mỹ (USAID) và Chương trình tái chế rác thải đô thị (MWRP) hỗ trợ. Nhằm hiểu rõ hơn về các mục tiêu của Dự án, cũng như giải pháp quản lý, giảm thiểu rác thải nhựa, Tạp chí Môi trường đã phỏng vấn Bà Trần Thị Hoa - Giám đốc GreenHub về vấn đề này.

 

Bà Trần Thị Hoa - Giám đốc GreenHub

 

     PV: Xin bà cho biết các nguy cơ ô nhiễm môi trường biển từ RTN ở Việt Nam, đặc biệt là tại quần đảo Cát Bà (Hải Phòng), vịnh Hạ Long (Quảng Ninh)?

     Bà Trần Thị Hoa: Theo Chương trình Môi trường Liên hợp quốc, ước tính, mỗi năm có khoảng 8 triệu tấn chất thải nhựa xâm nhập vào đại dương, trong đó châu Á chiếm hơn 60% lượng rác thải. Việt Nam là một trong 4 quốc gia hàng đầu về rác thải nhựa, chỉ đứng sau  Trung Quốc, Inđônêxia và Philipin.

     Hải Phòng là một trong những địa phương của Việt Nam có nhiều RTN trôi nổi trên biển từ các nguồn chất thải đô thị, sinh hoạt, nông nghiệp, bệnh viện, nuôi trồng thủy sản, giao thông vận tải biển… Đáng lo ngại, rác thải nhựa trên biển còn bắt gặp ở các cửa sông, khu neo đậu tàu thuyền, khu dân cư và khu phát triển du lịch. RTN gồm những loại phao, xốp, nhựa, túi ni lông… là rác không phân hủy, gây ảnh hưởng đến hệ sinh thái, môi trường biển. Theo kết quả khảo sát của GreenHub (2018) tại đảo Cát Bà (Hải Phòng), số lượng phao xốp chiếm hơn 20% trong tổng số vật liệu nổi được sử dụng; trong đó có các loại bọc bạt dứa, bạt ô tô, hoặc các mảnh vụn của chai, lọ, nhựa, hộp xốp bị vỡ.... Cùng với đó, kết quả kiểm toán rác thải tại một số khách sạn và nhà hàng tại thị trấn Cát Bà năm 2018 cho thấy, về mặt thể tích, nhựa không thể tái chế chiếm một phần lớn lượng rác thải từ nhà hàng. Trong đó, túi ni lông và các loại bao bì chiếm 87% tổng lượng RTN không thể tái chế.

     Tương tự, tại khu vực ven biển Hạ Long, ô nhiễm cũng làm ảnh hưởng đến danh tiếng của kỳ quan thiên nhiên này, đặc biệt trong mắt du khách quốc tế. Tại khu vực giáp ranh với quần đảo Cát Bà, rác là các mảnh phao xốp nổi trắng cả một vùng. Trong khi đó, dọc tuyến ven bờ, đặc biệt vào những ngày mưa, nước triều cường, rác vây kín nhiều khu vực. Ngoài  rác thải từ các cơ sở nuôi trồng thủy sản, các tàu đánh cá cũng là những nhân tố gây ô nhiễm biển, ngư dân thường xuyên vứt rác thải hàng ngày (như đồ đựng thức ăn và đồ uống) xuống biển, chứ không thu gom rác vào đất liền để xử lý.

     Từ năm 2016 - 2018, Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) đã phối hợp với GreenHub đã phối hợp hoạt động sự kiện làm sạch bờ biển và thu thập số liệu về rác thải biển. Kết quả thống kê sau 4 lần tổ chức sự kiện này cho thấy, với sự tham gia của 425 tình nguyện viên, 4739 kg rác thải được thu gom trên 4,4 km bờ biển, trong đó, rác xốp thu được chiếm nhiều nhất (hơn 50%), tiếp theo là các túi và chai nhựa.

     PV: Được biết, GreenHub đang triển khai Dự án Hướng đến các TP kiểu mẫu về quản lý rác thải ở khu vực ven biển phía Bắc Việt Nam, Bà có thể cho biết kết quả, cũng như thuận lợi, khó khăn khi thực hiện Dự án?

     Bà Trần Thị Hoa: Để giảm thiểu ô nhiễm RTN trên biển, Dự án được triển khai từ tháng 3/2018 - 3/2020, với mục tiêu nhằm giảm thiểu ô nhiễm RTN thông qua sự hợp tác của các bên nhằm tăng cường hiệu quả quản lý rác thải trong các ngành nuôi trồng và đánh bắt thủy sản. Đồng thời, đặt nền móng cho việc xây dựng TP. Hạ Long và TP. Hải Phòng thành khu vực kiểu mẫu về quản lý rác thải.

 

Lượng  RTN trôi nổi gây ô nhiễm môi trường biển

 

     Hiện Dự án đã tiến hành khảo sát, nghiên cứu và triển khai thí điểm các biện pháp thân thiện với môi trường trong sử dụng phao xốp ở công trình nổi của khu nuôi thủy sản lồng bè quần đảo Cát Bà, vịnh Hạ Long. Đây được xem là “thủ phạm” gây ô nhiễm chính của 2 khu vực biển này. Các chuyên gia của Dự án đã tổ chức đào tạo và hỗ trợ thực hiện các biện pháp giảm thiểu và quản lý rác thải cho các ngư dân ở vịnh Hạ Long và quần đảo Cát Bà. Bên cạnh đó, đã được tổ chức chiến dịch nâng cao nhận thức về ô nhiễm RTN và các cuộc khảo sát về RTN nhằm tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong việc giảm thiểu ô nhiễm RTN. Chính quyền địa phương sẽ phối hợp với Dự án trong việc thúc đẩy thực hiện kế hoạch hành động để giảm rác thải biển trên địa bàn. Trong quá trình thực hiện, Dự án đã tổ chức các sự kiện làm sạch bờ biển bởi các thiếu niên và tình nguyện viên;  đồng thời, tiến hành kiểm toán rác thải ở một số nhà hàng, hộ gia đình, khách sạn; thực hiện thí điểm các giải pháp thay thế (phao xốp được phủ sơn Line - X, ủ rác hữu cơ); điều phối cuộc họp giữa chính quyền địa phương và ngư dân thực hiện cải thiện môi trường trong khu nuôi trồng thủy sản lồng bè; tổ chức hội thảo về những thách thức trong quản lý rác thải và thực hiện quy định về môi trường, đặc biệt là vấn đề rác phao xốp trong khu vực lồng bè nuôi trồng thủy sản.

     Trong quá trình triển khai, Dự án có những thuận lợi như đã thu hút được sự quan tâm của các bên liên quan và các tổ chức quốc tế. Hiện nay, chính quyền địa phương và đại bộ phân cư dân nhìn nhận được các thiệt hại to lớn của RTN tới môi trường biển nói chung và con người nói riêng nên khi bắt tay vào thực hiện Dự án thì được sự ủng hộ nhiệt tình từ chính quyền địa phương và các cư dân khu vực ven biển. Cụ thể là khi nhận được số liệu rác thải trong lần đầu thu thập của GreenHub vào năm 2016, UBND TP. Hạ Long đã có Công văn số 349/TB yêu cầu hạn chế và hướng đến cấm sử dụng phao xốp trong hoạt động nuôi trồng thủy sản trên vịnh Hạ Long. Một năm sau, UBND tỉnh Quảng Ninh ban hành quyết định số 4760/QĐ-UBND về việc hạn chế sử dụng phao xốp trong hoạt động nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, Dự án cũng gặp một số khó khăn: Việc nghiên cứu và thí điểm giải pháp thân thiện với môi trường cho vật liệu nổi có rất nhiều chỉ số cần xem xét và có những rủi ro xảy ra mà GreenHub phải liên tục giám sát, kịp thời để có những điều chỉnh. Bên cạnh đó, rác thải biển là một vấn đề mang tính khu vực và toàn cầu, vì rác trôi theo nguồn nước từ nơi này sang nơi khác.Vì vậy, đòi hỏi các giải pháp phải có sự phối hợp đồng bộ giữa các tỉnh lân cận và các quốc gia ven biển có liên quan.

     Hy vọng, với những kết quả mang lại, Dự án sẽ tạo nền tảng cho các nỗ lực xây dựng TP kiểu mẫu về quản lý rác thải tại khu vực Hạ Long - Cát Bà - Hải Phòng. Mặt khác, Dự án góp phần nâng cao nhận thức cho cộng đồng về rác thải biển, từ đó chung tay BVMT biển Việt Nam.

     PV: Từ thực tiễn thực hiện các hoạt động BVMT biển, Bà có đề xuất gì để góp phần quản lý hiệu quả rác thải nhựa trên biển?

     Bà Trần Thị Hoa: Trước tiên, các cơ quan chức năng tại các địa phương trong khu vực biển cần phối hợp đồng bộ để thực hiện các biện pháp giảm thiểu rác thải; xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật, tổ chức bộ máy về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển; vận động chính quyền địa phương đẩy mạnh hệ thống chế tài xử lý những vi phạm về quản lý rác thải biển.

 

Sản phẩm thuyền buồm tái chế từ can nước rửa bát được trưng bày tại Lễ khởi động Dự án ngày 21/3/2019

 

     Đồng thời, tăng cường triển khai các giải pháp thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải nhựa; áp dụng các biện pháp xử lý nghiêm đối với các cơ quan, doanh nghiệp vi phạm quy định tại Nghị định số 38/NÐ-CP của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu, Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT của Bộ TN&MT về quản lý chất thải nguy hại; xây dựng quy trình phân loại và thu gom phế thải nhựa có thể tái chế và triển khai hình thức dán nhãn mác đối với các vật liệu để xác định khả năng tái chế chất thải nhựa…

     Bên cạnh đó, các cơ quan liên quan cần nghiên cứu, xây dựng phương pháp xác định lượng chất thải nhựa trên biển Việt Nam; áp dụng công cụ kinh tế để phòng ngừa, giảm thiểu chất thải nhựa; ứng dụng khoa học và công nghệ nhằm giảm tác động của các thiết bị nuôi trồng, đánh bắt hải sản sau thải bỏ.

   Không chỉ trên biển, tại các văn phòng, cơ quan công sở không sử dụng chai nước nhựa dùng một lần, đồng thời tìm giải pháp thay thế sản phẩm nhựa; đánh giá hiện trạng sử dụng nhựa tại các văn phòng, cơ quan; vận động nhân viên tham gia giảm thiểu chất thải nhựa, giúp thay đổi thói quen trong sử dụng, giảm thiểu; cần tái sử dụng và thu gom nhựa tái chế…

    Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh tuyên truyền về cơ chế, chính sách, pháp luật BVMT, nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi của cộng đồng nhằm giảm thiểu việc thải bỏ chất thải nhựa ra môi trường, trong đó, cộng đồng địa phương phải có những nhân tố đóng góp cho sự thành công để hướng đến TP kiểu mẫu về quản lý rác thải biển. Người dân phải luôn nỗ lực xây dựng một TP xanh, sạch, đẹp. Từ đó, cả chính quyền và người dân phải chủ động BVMT, cũng như duy trì hình ảnh về TP của họ, đồng thời, cần đón nhận sự hỗ trợ từ bên ngoài và tiếp quản các sáng kiến đó để quản lý rác thải tốt hơn.

     Ngoài ra, cần nhân rộng và ứng dụng các sáng kiến tái chế nhựa như sản phẩm nghệ thuật có sử dụng nguyên liệu tái chế; hỗ trợ mô hình xưởng tái chế rác thải nhựa; khuyến khích các tổ chức, cá nhân nghiên cứu, sản xuất các loại vật liệu thân thiện với môi trường thay thế cho các sản phẩm nhựa, ni lông sử dụng một lần…

     Xin cảm ơn Bà!

 

Châu Loan (Thực hiện)

(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường, số 4/2019)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thống kê

Lượt truy cập: 2541394