--%>

     Sinh ra trên mảnh đất giàu truyền thống hiếu học của tỉnh Ninh Bình, GS.TSKH.NGND Phạm Ngọc Đăng luôn nỗ lực học tập, rèn luyện, vượt qua gian khổ để trở thành một nhà khoa học đầu ngành, góp phần xây dựng cho quê hương đất nước. Ông là một trong các nhà khoa học đặt nền móng cho sự phát triển của haibộ môn “Vật lý Kiến trúc - Kiến trúc xanh” và “Môi trường Không khí - quản lý Môi trường Đô thị và Công nghiệp”. Sau gần 60 năm công tác, ông đã cống hiến nhiều công trình khoa học quan trọng về BVMT, xây dựng xanh và phát triển bền vững cho đất nước.

 

GS.TSKH.NGND. Phạm Ngọc Đăng

 

      Những năm tháng phấn đấu và cống hiến

     Năm 1959, ông tốt nghiệp Khóa I - Trường Đại học Bách khoa Hà Nội và được giữ lại làm giảng viên của trường. Năm 1966, khoa Xây dựng tách khỏi trường Đại học Bách Khoa Hà Nội để thành lập Trường Đại học Xây dựng, ông chuyển về Trường Đại học Xây dựng và đảm nhận chức vụ Chủ nhiệm bộ môn Vật lý Kiến trúc, kiêm Phó phòng Quản lý Khoa học và Trưởng phòng Thiết kế. Đây là bộ môn khoa học mới, nghiên cứu về cơ sở khoa học của các giải pháp thiết kế kiến trúc - xây dựng để đảm bảo môi trường trong nhà về nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, âm thanh, thông gió... đáp ứng nhu cầu đời sống của con người ngày càng được nâng cao. Để chuẩn bị đề cương giảng dạy thử nghiệm cho sinh viên, ông mất nhiều năm đi khắp mọi miền của đất nước để khảo sát chế độ nhiệt ẩm của các tòa nhà ở các vùng khí hậu khác nhau, đồng thời nghiên cứu đưa ra những giải pháp kiến trúc - xây dựng phù hợp. Kết quả nghiên cứu trong thời gian này chính là cơ sở quan trọng để ông hoàn thành đề tài luận án tiến sĩ ở Liên Xô.

     Với đề tài “Nghiên cứu chế độ nhiệt ẩm của nhà trong điều kiện khí hậu nhiệt đới của Việt Nam”, năm 1973, ông hoàn thành luận án Phó Tiến sỹ (ở Việt Nam lúc đó gọi là tiến sỹ) tại Trường Đại học Xây dựng Moskva trước thời hạn nửa năm. Năm 1978, ông bảo vệ thành công luận án tiến sĩ khoa học (TSKH) kỹ thuật. Trong luận án TSKH, với phạm vi khoa học rộng lớn về vấn đề môi trường trong nhà, ông đã nghiên cứu chuyên đề “Phương pháp tính toán lượng nhiệt bức xạ mặt trời chiếu qua cửa sổ có kết cấu che nắng vào nhà”. Kết quả nghiên cứu này đã được chấp nhận đưa vào Tiêu chuẩn thiết kế xây dựng của Liên Bang Nga.

     Trở về nước, sau 1 năm ông được bổ nhiệm làm Phó Hiệu trưởng (từ năm 1979 - 1981), rồi Hiệu trưởng (từ năm 1982 - 1990) Trường Đại học Xây dựng Hà Nội. Được Nhà nước và đồng nghiệp tin tưởng giao phó, ông chủ động đề xuất với cấp trên cho phép dành tối đa 50% quỹ thời gian để làm công tác quản lý, 50% thời gian còn lại cống hiến cho giảng dạy và nghiên cứu phát triển khoa học. Năm 1990, ông được đề cử làm Tổng Thư ký đầu tiên của Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước. Tuy bận rộn với công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học, nhưng ông vẫn chú trọng đến việc xây dựng và ban hành các văn bản pháp quy, nề nếp làm việc của Hội đồng Giáo sư, tham khảo các tài liệu của nước ngoài để trực tiếp dự thảo các văn bản quy định, tiêu chuẩn và thủ tục xét phong Phó Giáo sư, Giáo sư của Hội đồng. Tính đến nay đã 27 năm, những vấn đề cơ bản về quy chế hoạt động của Hội đồng Giáo sư vẫn được thực hiện cho tới ngày nay.

     Từ năm 1993 -  2003, ông là Ủy viên Hội đồng Bảo vệ thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau thời gian đó đến nay, ông là Ủy viên Hội đồng Quốc gia về Phát triển bền vững và Năng lực cạnh tranh. Ông cùng với các thành viên khác trong Hội đồng đảm nhiệm chức năng tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ về vấn đề phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh trước tình hình hội nhập thế giới. Ngoài giảng dạy, nghiên cứu khoa học và làm công tác quản lý, ông còn tích cực tham gia vào các Hội Khoa học Kĩ thuật và kiêm nhiệm những vị trí quan trọng: Ban Chấp hành Tổng Hội Xây dựng Việt Nam, Chủ tịch Hội Môi trường Xây dựng Việt Nam (từ năm thành lập1986 đến 2015); Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam (từ năm 2006 đến nay).

 

Năm 2007, Hội đồng chức danh Giáo sư Nhà nước họp do Phó Thủ tướng, Chủ tịch Hội đồng, GS.TS Nguyễn Thiện Nhân chủ trì

 

     Chuyển hướng nghiên cứu các vấn đề khoa học kỹ thuật môi trường vĩ mô, cấp bách của quốc gia

     Trong những năm mới về nước, kết quả nghiên cứu khoa học nổi bật của ông là đề tài “Mái nhà nhiệt đới” do ông chủ trì, với sự cộng tác thực hiện của PGS.TS Lê Văn Nãi và GVCC Hoàng Như Tầng, đã được Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền tác giả (số 85-52-014, ngày 26/1/1980). Cũng trong năm này, kết quả nghiên cứu đề tài “Điều kiện vi khí hậu tiện nghi nhiệt của người Việt Nam” của ông đã được đưa vào tiêu chuẩn, quy chuẩn thiết kế xây dựng của nước ta (Tiêu chuẩn TCXD VN 306: 2004 “Nhà ở và công trình công cộng, các thông số vi khí hậu trong phòng”). Điều kiện tiện nghi nhiệt này cũng đã được một số sách, báo quốc tế chấp nhận và giới thiệu là điều kiện tiện nghi nhiệt đại diện cho các nước nhiệt đới nóng ẩm.

     Năm 1986, ở nước ta xảy ra sự cố nổ điện, phá hỏng hoàn toàn thiết bị lọc bụi tĩnh điện của nhà máy Xi măng Hoàng Thạch ở huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Hàng ngày, nhà máy thải qua ống khói khoảng 100 tấn bụi, gây ô nhiễm không khí trầm trọng cho các vùng xung quanh. UBND tỉnh Hải Hưng, Quảng Ninh đã gửi thư khiếu nại về tình trạng ô nhiễm môi trường (ÔNMT) lên Quốc hội và Chính phủ. Ông được giao nhiệm vụ chủ trì nhiệm vụ: “Nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm, thiệt hại về sức khỏe và kinh tế đối với nhân dân vùng lân cận và đề xuất phương án giải quyết”. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mức độ ô nhiễm bụi trong không khí xung quanh lớn gấp 9 - 14 lần tiêu chuẩn cho phép (TCCP); ô nhiễm khí SO2 cao hơn TCCP 3 - 5 lần; tỷ lệ số người mắc các bệnh về hô hấp tăng khoảng 20 - 25%, thiệt hại năng suất mùa màng khoảng 7 - 42% tùy theo loại cây trồng. Trên cơ sở đó, ông đã báo cáo với cấp trên về tình trạng ÔNMT nghiêm trọng do Nhà máy Xi măng Hoàng Thạch gây ra và đề xuất phương án xử lý. Ngay sau đó, Nhà máy đã đầu tư thiết bị lọc bụi mới và thực hiện đền bù cho nhân dân vùng bị thiệt hại.

     Nhà máy Nhiệt điện Ninh Bình được xây dựng từ những năm 60 của thế kỷ XX, do Trung Quốc thiết kế xây dựng với công nghệ lạc hậu, không bảo đảm môi trường. Trước năm 1995, Nhà máy là một trong các cơ sở gây ÔNMT nghiêm trọng nằm trong Danh mục phải triệt để xử lý theo Quyết định của Thủ Tướng Chính phủ. Từ những vấn đề của thực tiễn, ông được giao nhiệm vụ nghiên cứu đề xuất giải pháp khắc phục ô nhiễm khu vực này. Trên cơ sở kết quả khảo sát môi trường, nghiên cứu lý thuyết và tiến hành thí nghiệm thủy động học trên máng thủy lực, ông đã đưa ra 3 giải pháp: Xây dựng ống khói mới cao 130 m, thay cho ống khói cũ cao 80 m để đảm bảo luồng khói thải vượt lên trên bóng khí động của núi Cánh Diều; Cải tiến công nghệ sản xuất để giảm chỉ tiêu tiêu thụ kg than/kW điện; Thay hệ thống thiết bị lọc bụi Xiclon cũ, có hiệu suất 70 - 75% bằng thiết bị lọc bụi Xiclon mới. Công ty Khảo sát và Thiết kế Điện 1, thuộc Bộ Năng lượng đã triển khai áp dụng các giải pháp trên, khắc phục được hoàn toàn tình trạng ÔNMT của nhà máy Nhiệt Điện Ninh Bình.

     Từ đây, ông nhận thấy vấn đề BVMT trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước là rất cấp thiết. Trên cơ sở khoa học cơ bản về vật lý xây dựng và khoa học môi trường trong công trình, ông đã tự trau dồi và chuyển hướng nghiên cứu sang các vấn đề có tính vĩ mô, cấp bách của quốc gia. Đó là vấn đề ÔNMT đô thị và công nghiệp mà nước ta đang phải đối mặt. Để có những đóng góp cho việc xây dựng cơ chế, chính sách và các giải pháp khoa học BVMT, phát triển bền vững của đất nước, ông đã học hỏi kinh nghiệm khoa học kỹ thuật tiên tiến trên thế giới và áp dụng sáng tạo vào Việt Nam. Vì thế, trên cơ sở nền tảng khoa học được đào tạo bài bản và vốn ngoại ngữ đã có (Trung, Nga, Anh), ông có thể trao đổi tri thức với những nhà khoa học nước ngoài tại các hội thảo khoa học quốc tế. Tính đến nay, ông đã tham gia các đoàn khảo sát và tham dự các hội thảo khoa học của hơn 30 nước trên thế giới.

     Các công trình khoa học tiêu biểu

     Trong thời kỳ đổi mới đất nước (từ năm 1990 - 2008), ông đã chủ trì 6 đề tài nghiên cứu khoa học thuộc các Chương trình khoa học cấp Nhà nước và trên 30 đề tài cấp Bộ, điển hình như: Đánh giá diễn biến và dự báo môi trường hai vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, phía Nam và đề xuất các giải pháp BVMT; Nghiên cứu đánh giá diễn biến môi trường và đề xuất các giải pháp BVMT các TP. Hà Nội, Hải Phòng và Việt Trì; Nghiên cứu thiết kế và chế tạo lò đốt chất thải công nghiệp nguy hại; Đề án BVMT Phú Quốc và Đề án BVMT Côn Đảo đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.

     Đặc biệt, đề tài “Nghiên cứu thiết kế xây dựng lò đốt chất thải công nghiệp nguy hại”, thực hiện trong hai năm 2004 - 2005, do ông chủ trì với sự cộng tác tích cực của 3 PGS.TS: Vũ Công Hòe, Nguyễn Bá Toại và Bùi Sỹ Lý, đã thành công và được Bộ KHCN&MT cấp bằng độc quyền sáng chế số 5710, cấp theo Quyết định số 5508/QĐ-SHTT, ngày 12/6/2006. Lò đốt chất thải công nghiệp nguy hại này được đặt tên là CEETIA -150 (CEETIA là tên Trung tâm, 150 là công suất đốt 150 kg chất thải công nghiệp nguy hại mỗi giờ). Đây là lò đốt chất thải công nghiệp nguy hại đầu tiên do người Việt tự thiết kế, chế tạo và vận hành, đạt tiêu chuẩn quốc tế, được lắp đặt và sử dụng từ đó đến nay tại Khu liên hợp xử lý chất thải Nam Sơn, Hà Nội.

     Những năm gần đây, ông đã chủ trì thực hiện nhiều đề tài, nhiệm vụ khoa học của Bộ Xây dựng như xây dựng Quy chuẩn Quốc gia về hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu; Hướng dẫn kiểm toán năng lượng công trình dân dụng; Chiến lược Quốc gia về phát triển công trình xanh đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; đồng thời tham gia nghiên cứu đề tài “Xây dựng Quy chuẩn Việt Nam về công trình sử dụng năng lượng có hiệu quả”. Bên cạnh đó, ông đã tham gia hoặc chủ trì nghiên cứu, xây dựng rất nhiều đề án BVMT, đánh giá, phân tích môi trường và xây dựng nhiều quy chuẩn/tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia của ngành môi trường; Chủ trì biên soạn Báo cáo Môi trường Việt Nam hàng năm của Bộ TN&MT để trình Quốc hội từ năm 1996 - 2005. Sau năm 2005 đến nay, ông vẫn tiếp tục tư vấn cho Tổng cục Môi trường trong việc xây dựng Báo cáo Môi trường Việt Nam hàng năm.

     Không chỉ làm nghiên cứu khoa học, ông còn tích cực tham gia xây dựng các văn bản pháp luật về BVMT của quốc gia, như Luật BVMT (1994, 2005,2014); Chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; Chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21); Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020. Chủ trì thực hiện xây dựng Kế hoạch hành động quốc gia về kiểm soát ô nhiễm môi trường khu công nghiệp/cụm công nghiệp đến năm 2020; Chiến lược phát triển công nghệ môi trường Việt Nam giai đoạn 2009 - 2015, định hướng đến năm 2020...

     Mặt khác, các kết quả nghiên cứu khoa học của ông trong nhiều năm đã được viết và trình bày trong 19 quyển sách khoa học kỹ thuật (được xuất bản chính thức), cùng với khoảng 180 bài báo đăng trên các tạp chí chuyên môn ở trong nước và ngoài nước. Các sách của ông được dùng làm tài liệu học tập, nghiên cứu cho nhiều thế hệ sinh viên, nghiên cứu sinh, các thầy giáo ở nhiều ngành học có liên quan như xây dựng, kiến trúc và môi trường. Cuộc đời của ông luôn luôn gắn bó với sự nghiệp đào tạo đại học và trên đại học và cho đến nay ông đã trực tiếp đào tạo hàng nghìn sinh viên tốt nghiệp kỹ sư, hàng chục thạc sỹ và hướng dẫn 6 nghiên cứu sinh đã bảo vệ thành công luận án tiến sỹ.

     Với những thành tích của ông về nghiên cứu khoa học và giảng dạy - đào tạo đại học, sau đại học, ông được phong học hàm Phó Giáo sư năm 1984, rồi đến học hàm Giáo sư vào năm 1991. Ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo Ưu tú năm 1988 và Nhà giáo Nhân dân năm 2002. Để ghi nhận những cống hiến của ông với nền khoa học nước nhà, ông được tặng Bằng khen của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (năm 1982); Huân chương Lao động hạng Ba (năm 198); Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước (năm 1987); Giải thưởng Môi trường Việt Nam (năm 2004) và nhiều bằng khen của các Bộ: KH&CN, TN&MT, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Xây dựng và Chủ tịch UBND TP. Hà Nội.

 

GS.TSKH.NGND. Phạm Ngọc Đăng (đứng thứ 5 từ trái qua phải) tham gia

Đoàn cán bộ của Bộ TN&MT khảo sát Quản lý chất lượng không khí ở Hàn Quốc, tại Viện Môi trường Hàn Quốc năm 2012

 

     Mặc dù đã bước sang tuổi 80, ông vẫn miệt mài say mê nghiên cứu khoa học. Ông cùng với các nhà khoa học thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu lập Báo cáo Đánh giá môi trường chiến lược đối với Dự án “Quy hoạch sử dụng Biển và Hải đảo Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035” (Bộ TN&MT), để trình Chính phủ và Quốc hội thông qua; “Xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích cộng đồng tham gia BVMT” (Tổng cục Môi trường); “Đánh giá thực trạng môi trường vi khí hậu và không khí của các nhà làm việc và đề xuất các biện pháp cải thiện” (Bộ Xây dựng).

     Nhìn lại cuộc đời làm khoa học của ông, bất cứ ai cũng phải thán phục. Từ một cậu học trò xuất thân trong gia đình nghèo, sau bao năm nỗ lực phấn đấu học tập và nghiên cứu khoa học, ông đã trở thành một nhà nghiên cứu đầu ngành Môi trường và Xây dựng xanh, đảm nhận nhiều chức vụ quản lý quan trọng, được bạn bề quốc tế và đồng nghiệp tin yêu, kính trọng. Như con thuyền lênh đênh đi tìm tri thức, ông đã mạnh dạn bẻ lái đưa con thuyền học vấn của mình đi từ dòng nước nhỏ ra đại dương mênh mông. Bất chấp sóng to gió lớn, ông như người thủy thủ vẫn kiên định, vững tâm: Giương buồm lên đưa thuyền thẳng tiến.

 

Châu Loan

(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường, số 7/2017)

 

Thống kê

Lượt truy cập: 2005863