--%>

   Tây Nguyên gồm địa giới hành chính của 5 tỉnh (Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng) với diện tích tới 56.119 km, chiếm 17,5% diện tích cả nước. Tây Nguyên được khẳng định là địa bàn chiến lược quan trọng không chỉ về quốc phòng, kinh tế mà còn về môi trường. Chính vì vậy, sau khi giải phóng miền Nam, Nhà nước đã tổ chức hai chương trình khoa học công nghệ: “Điều tra tổng hợp Tây Nguyên năm 1976 - 1980” và “Xây dựng cơ sở khoa  học cho quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) vùng Tây Nguyên (48C* - Chương trình Tây Nguyên II  từ năm 1984 - 1988)”. Tiếp đến, vào năm 1996, đề tài “Nghiên cứu xây dựng luận cứ khoa học cho định hướng phát triển KT - XH các tỉnh Tây Nguyên giai đoạn 1996 - 2010” nhằm thực hiện yêu cầu, bất kỳ dự án phát triển nào ở Tây Nguyên đều phải đạt hiệu quả về KT - XH và môi trường.

   Thời gian qua, Tây Nguyên đã đạt được những thành quả to lớn về nhiều mặt. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, để Tây Nguyên phát triển bền vững, cần thiết phải có những điều chỉnh nhằm sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên quý giá mà thiên nhiên ưu đãi dành cho Tây Nguyên, đó là sự kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa sự phát triển KT - XH và BVMT.

 

Biển Hồ - Thắng cảnh tự nhiên nổi tiếng của Gia Lai

 

   Trong “Lời nói đầu” của công trình “Các vùng tự nhiên Tây Nguyên” (1986), cố GS.TS Nguyễn Văn Chiển đã nhận định “ Thế mạnh trước mắt của Tây Nguyên là rừng, cây công nghiệp dài ngày và chăn nuôi gia súc lớn”. Tuy nhiên, chỉ trong vòng 10 năm (1991 - 2000) đất nông nghiệp ở Tây Nguyên tăng lên rất nhanh, từ 8% năm 1991 lên đến 22,6% năm 2000 (454.300 ha so với 1.233.600 ha) gấp 2,7 lần, trong khi đó đất lâm nghiệp giảm từ 59,2% xuống còn 54,9% (3,329 triệu ha so với 2,993 triệu ha).

    Cùng với đất lâm nghiệp bị thu hẹp dẫn đến việc giảm diện tích rừng kéo theo giảm độ che phủ. Năm 1995, độ che phủ rừng Tây Nguyên là 57%, nhưng con số này cũng nhanh chóng bị thay đổi sự suy giảm diện tích rừng Tây Nguyên vẫn diễn ra với tốc độ đáng lo ngại, mặc dù Nhà nước đã đề ra nhiều giải pháp, nhưng vì nhiều lý do, hiệu quả thu được còn thấp. Số liệu mới nhất (2017), tổng diện tích rừng Tây Nguyên là 2.557.322 ha, trong đó có 2.206.975 ha rừng tự nhiên và 350.347 ha rừng trồng, tỷ lệ che phủ chỉ còn 46,01%. Một số liệu khác cho thấy, trong 30 năm qua, 1/3 diện tích rừng ở Tây Nguyên bị tàn phá với diện tích hơn 1,5 triệu ha (không phải sửa). Mất rừng đồng nghĩa với việc mất vai trò giữ và tích lũy nước ở bất kỳ dạng nào - làm tăng lượng nước trong đất, giảm bốc, thoát hơi nước, tăng mực nước ngầm, giảm dòng chảy bề mặt, hạn chế xói mòn đất qua đó làm tăng và ổn định lượng nước sông suối cũng như làm sạch nước.

   Một ví dụ điển hình về việc mất rừng, đó là việc chuyển đổi rừng khộp sang trồng cao su ở Đắk Lắk. Theo Quy hoạch phát triển cao su đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2020, để ổn định diện tích cao su vào khoảng 280.000 ha, Tây Nguyên sẽ phải trồng mới khoảng 95.000 - 100.000 ha, trong đó riêng Đắk Lắk là 42.500 ha. Điều này dẫn đến việc phải chuyển đổi một số diện tích rừng tự nhiên, chủ yếu là rừng khộp sang trồng cao su.

   Rừng khộp là một kiểu rừng đặc trưng, ưu thế cây họ Dầu có ở Tây Nguyên và một số nước Đông Nam Á như Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanma. Sự tồn tại của rừng khộp góp phần duy trì cân bằng sinh thái nhờ sự phục hồi rất nhanh vào mùa mưa. Cần lưu ý rằng, rừng khộp phân bố trên các loại đất xấu, nghèo dinh dưỡng, tầng mỏng, trong khi cao su là cây kén đất, tầng dầy, giầu dinh dưỡng nên ảnh hưởng xấu đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây cao su. Những năm đầu mới trồng, cao su phát triển bình thường, nhưng sau 5 - 6 năm, cây kém phát triển, sản lượng mủ thấp. Hậu quả là việc chuyển đổi không đạt được mục tiêu kinh tế mà rừng thì bị mất.

   Ngoài ra, phần chính lượng dự trữ dinh dưỡng của hệ sinh thái rừng khộp nằm trong sinh vật (động vật và thực vật), chỉ một phần nhỏ nằm trong thành phần của đất. Lá cây, hoa, quả và các bộ phận khác của cây, hàng ngày cung cấp cho mặt đất một lượng chất hữu cơ đáng kể. Nếu không còn rừng, đất sẽ nhanh chóng bị thoái hóa.

   Việc chuyển đổi rừng khộp sang trồng cao su dẫn đến làm mất đi một số hệ sinh thái đặc thù, suy giảm đa dạng sinh học (ĐDSH) đồng thời còn làm giảm sinh kế của người dân địa phương bởi vì rừng khộp cũng có thể được sử dụng để chăn nuôi gia súc lớn.

   Tây Nguyên là một vùng đất bazan lớn nhất nước. Đất bazan đặc biệt thích hợp với một số cây công nghiệp như cà phê, cao su…, tạo ra sản phẩm có giá trị kinh tế cao. Chủ trương biến Tây Nguyên thành một vùng trọng điểm kinh tế của cả nước chính là dựa phần lớn vào ưu thế này.Tuy nhiên, sức chịu đựng cây công nghiệp của Tây Nguyên dẫu lớn nhưng cũng có hạn, phát triển quá một mức nào đó sẽ phải chuyển đổi rừng. Thực tế cho thấy, không chỉ cao su mà cà phê hôm nay đã vượt ngưỡng cho phép, dù muốn hay không vẫn phải thừa nhận cây cà phê, cây cao su và ngay cả rừng trồng đều không thể thay thế rừng nhiệt đới nguyên sinh ở Tây Nguyên trong vai trò BVMT, bảo tồn ĐDSH, là nhân tố quan trọng hàng đầu đảm bảo sự phát triển bền vững ở Tây Nguyên. Bởi vì, sự gia tăng nhu cầu sử dụng nước, đặc biệt là nước tưới cây cho cây công nghiệp vượt quá khả năng đáp ứng nguồn nước của Tây Nguyên vào mùa khô. Có một nghịch lý dễ nhận thấy, cà phê là cây trồng có nhu cầu tiêu thụ nước cao, trong khi tại Đắk Lắk quy hoạch đến năm 2020 đối với cây cà phê là 180.000 ha, nhưng đến nay đã là 204.808 ha.

   Hơn bất kỳ nơi nào trên đất nước ta, nhịp điệu mùa được ghi lại có dấu ấn của mình một cách rõ rệt như ở Tây Nguyên với ba tháng mưa liên tục, lượng mưa chiếm 45 - 60% lượng mưa năm.Trung bình hàng năm các lưu vực Tây Nguyên đón nhận một lượng mưa gần 2000 mm. Đó là nguồn cung cấp khá lớn. Kinh nghiệm khai thác nguồn nước tự nhiên ở nhiều nơi cho thấy, với nguồn cung cấp như vậy có thể không lo thiếu nước nếu nguồn nước đó chỉ dùng cho nhu cầu cục bộ trong vùng. Vượt ra ngoài khuôn khổ đó, nước Tây Nguyên còn là nguồn cung cấp quan trọng cho các vùng chung quanh có yêu cầu phát triển kinh tế (nước sông Ba dùng cho đồng bằng Phú Yên, Khánh Hòa, nước sông Đồng Nai chuyển sang sông Cái Phan Rang và đồng bằng vùng hạ du…); Trung bình hàng năm sông suối Tây Nguyên chuyển ra khỏi lãnh thổ này trên 40 tỷ m3 nước. Năm ít nước, lượng nước chuyển đi cũng khoảng 30 tỷ. Trung bình hàng năm mỗi km2 đất đai Tây Nguyên cung cấp một lưu lượng là 26 lít/giây.

    Hiện nay, việc sử dụng không khôn khéo đang làm tăng nguy cơ thiếu nước ở Tây Nguyên. Ngoài các dòng chảy tự nhiên phát sinh từ vùng đất Tây Nguyên đổ về các khu vực phụ cận xung quanh, còn có những công trình nhân tạo chuyển nước từ Tây Nguyên sang các lưu vực khác. Hiện có ít nhất 4 công trình thủy điện lớn: Đắk Đrinh, An Khê, Kanak, Đa Nhim và Đại Ninh chuyển nước từ Tây Nguyên sang các lưu vực sông khác ở miền Trung Việt Nam với khối lượng lớn, khoảng 130 m3/s, làm cho Tây Nguyên mất khoảng 2,9 tỷ m3/năm, gây thiếu hụt nguồn nước và nhiều vấn đề môi trường nghiêm trọng ở khu vực hạ lưu các hồ chứa vào mùa khô.

   Ý thức được điều này, tại TP. Đà Lạt (Lâm Đồng), Bộ NN&PTNT đã tổ chức Hội nghị triển khai đề án bảo vệ, khôi phục và phát triển bền vững vùng Tây Nguyên giai đoạn 2016 - 2030, vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt với tổng số vốn thực hiện là 28.554 tỷ đồng nhằm ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng mất rừng, từng bước khôi phục, phát triển rừng ở Tây Nguyên, đến năm 2030 diện tích rừng đạt khoảng 2,72 triệu ha, nâng độ che phủ lên 49,2%. Hy vọng Đề án không chỉ BVMT sinh thái, ĐDSH, cải thiện sinh kế, mà còn góp phần giữ vững an ninh quốc phòng là cơ hội để phát triển bền vững Tây Nguyên. Vì thế, để Tây Nguyên phát triển bền vững, bất kỳ dự án phát triển nào đầu tư ở đây đều phải đạt được hiệu quả về KT-XH và môi trường.

    

   TS. Lê Trần Chấn

(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường, số 6/2019)

Thống kê

Lượt truy cập: 1061520