--%>

     Sau khi thành lập Bộ TN&MT, Cục Môi trường được nâng cấp thành Cục Bảo vệ môi trường (BVMT) (2002) và đến nay là Tổng cục Môi trường (2008). Vai trò của công tác BVMT đã được Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành nhìn nhận ngang tầm với các vấn đề về tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội; công tác BVMT trong giai đoạn 2002 - 2017 đã đạt được những thành tựu quan trọng.

      Hệ thống chính sách, pháp luật từng bước được hoàn thiện, trong đó đã có 2 lần sửa đổi Luật BVMT (2005, 2014) và Luật Đa dạng sinh học năm 2008 được ban hành. Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm tăng cường công tác BVMT. Nhận thức về tầm quan trọng của môi trường sống và nhiệm vụ BVMT của các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình ở địa bàn dân cư được nâng cao; ý thức chấp hành các quy định pháp luật về BVMT của các doanh nghiệp cũng có nhiều chuyển biến. Công tác bảo tồn đa dạng sinh học đã đạt được những kết quả nhất định. Hoạt động kiểm soát ô nhiễm, quản lý chất thải đã được quan tâm thực hiện; chất thải nguy hại được quản lý tốt hơn thông qua việc kiểm soát nguồn phát thải, thu gom, lưu giữ, vận chuyển và xử lý; nhiều khu vực môi trường bị ô nhiễm được khắc phục, cải tạo và phục hồi; các vấn đề toàn cầu, ô nhiễm, tác động môi trường xuyên biên giới được ứng phó hiệu quả hơn…

 

Tổ chức thành công Hội nghị Môi trường toàn quốc lần thứ IV ngày 30/9/2015 nhấn mạnh cam kết và thống nhất hành động BVMT

 

     Hệ thống chính sách, pháp luật về BVMT từng bước được hoàn thiện

     Trong những năm qua, việc bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về BVMT tiếp tục được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước. Bộ Chính trị (khóa IX) đã ban hành Nghị quyết 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của về BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) đã ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 3/6/2013 về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và BVMT. Đây là những Nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Trung ương Đảng đề cập một cách toàn diện các quan điểm, chủ trương, chính sách đối với công tác BVMT. Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; đặc biệt là Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 18/3/2013 của Chính phủ về một số vấn đề cấp bách trong lĩnh vực BVMT và Chỉ thị số 25/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp cấp bách về BVMT, cùng nhiều chương trình, chiến lược, kế hoạch chuyên ngành khác.

     Hệ thống pháp luật về BVMT luôn được cập nhật, điều chỉnh, bổ sung với việc Quốc hội đã thông qua Luật BVMT năm 2005 và 2014, có nhiều quy định mới đề cập đến những vấn đề nóng phát sinh trong công tác BVMT; cùng với đó là các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành. Hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường cũng được rà soát, sửa đổi và ban hành đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn. Việc Quốc hội thông qua Luật Đa dạng sinh học năm 2008 đã tạo một bước tiến mới trong việc hình thành và phát triển hành lang pháp lý về bảo tồn đa dạng sinh học.

     Đặc biệt, Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi một số quy định về tội phạm môi trường trong Bộ luật hình sự năm 1999. Trong đó, đã có những sửa đổi, bổ sung quan trọng mà quan trọng nhất trong số đó là quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với một số loại tội phạm về môi trường, góp phần tăng cường hiệu quả của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về môi trường.

      Tổ chức bộ máy được kiện toàn và hoạt động ổn định

     Từ năm 2002 đến nay, hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về BVMT từ Trung ương đến địa phương đã từng bước được kiện toàn và đi vào hoạt động ổn định. Ở Trung ương, việc thành lập Tổng cục Môi trường trực thuộc Bộ TN&MT giúp thống nhất thực hiện chức năng quản lý môi trường trên phạm vi cả nước. Tại các Bộ, ngành đều đã thành lập các đầu mối quản lý môi trường. Việc phối hợp với Bộ Công an xây dựng lực lượng cảnh sát môi trường thể hiện bước tiến lớn trong hoạt động phòng ngừa, đấu tranh, phòng, chống tội phạm về môi trường, góp phần nâng cao năng lực giám sát và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về BVMT.

Ở địa phương, Bộ TN&MT phối hợp với Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư liên tịch số 50/2014/TTLT-BTNMT-BNV ngày 28/8/2014 hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở TN&MT thuộc UBND tỉnh, TP trực thuộc Trung ương, Phòng TN&MT thuộc UBND huyện, quận, thị xã, TP thuộc tỉnh cho phù hợp với tình hình mới. 63/63 địa phương đã thành lập Chi cục BVMT.

     Huy động nguồn lực tài chính đầu tư cho BVMT

     Quán triệt quan điểm “Đầu tư BVMT là đầu tư phát triển”, trong những năm qua, đầu tư cho BVMT đã có những chuyển biến tích cực. Từ năm 2006, ngân sách cho BVMT đã được bố trí thành một nguồn riêng (chi sự nghiệp môi trường) với quy mô không thấp hơn 1% tổng chi ngân sách nhà nước. Chi thường xuyên cho sự nghiệp BVMT hầu hết được tăng dần hàng năm. Việc bảo đảm nguồn chi sự nghiệp môi trường nói trên là cố gắng lớn của Nhà nước trong việc đáp ứng các điều kiện cần thiết cho công tác BVMT, góp phần quan trọng hỗ trợ, thúc đẩy mạnh mẽ công tác BVMT ở các Bộ, ngành và địa phương.

     Giai đoạn vừa qua cũng đã thể hiện những bước tiến đáng kể trong việc huy động vốn hỗ trợ, vốn vay của các quốc gia, tổ chức quốc tế cho công tác BVMT ở Việt Nam. Các nguồn vốn huy động được đã đóng góp một phần quan trọng cho đầu tư các công trình xử lý môi trường tập trung ở các địa phương. 

     Bên cạnh đó, xã hội hóa công tác BVMT được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm. Hành lang pháp lý thúc đẩy xã hội hóa công tác BVMT đã được hình thành và đang dần đi vào cuộc sống. Đến nay, đã có nhiều tổ chức và cá nhân tham gia đầu tư phát triển vào lĩnh vực môi trường từ nhiều nguồn vốn, bước đầu hình thành hệ thống dịch vụ môi trường ngoài công ích. Một số lĩnh vực dịch vụ môi trường đã có sự phát triển mạnh như: thu gom, vận chuyển rác thải, cơ sở xử lý rác thải; thu gom, vận chuyển chất thải rắn nguy hại (kể cả chất thải y tế); xử lý nước thải sinh hoạt tập trung; xử lý nước thải sinh hoạt quy mô nhỏ phân tán,…

     Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, hợp tác quốc tế trong BVMT

     Hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ về BVMT đã được đẩy mạnh ở Trung ương và địa phương, qua đó góp phần thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ trong lĩnh vực BVMT. Nhiều chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia, cấp Bộ đã được triển khai thực hiện; Các kết quả nghiên cứu đã có nhiều đóng góp và áp dụng hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước về BVMT, cung cấp cơ sở lý luận, khoa học và thực tiễn trong công tác xây dựng cơ chế, chính sách, pháp luật về BVMT. Nổi bật trong số đó là việc triển khai thành công Chương trình khoa học công nghệ trọng điểm cấp nhà nước: “Phòng tránh thiên tai, BVMT và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, mã số KC.08/06-10”; Chương trình khoa học và công nghệ KC.08/11-15 và Đề án phát triển ngành công nghiệp môi trường.

     Hợp tác quốc tế tiếp tục được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng góp phần thúc đẩy các hoạt động BVMT tại Việt Nam. Việt Nam đã chủ động, tích cực tham gia 20 điều ước quốc tế về môi trường, từ đó tranh thủ được sự hỗ trợ của quốc tế để thực hiện các chương trình, dự án về BVMT. Nhiều chương trình dự án lớn về BVMT đã và đang được thực hiện với các đối tác chính là Nhật Bản, Hàn Quốc, Thụy Sỹ, Đan Mạch, Thụy Điển,... và với sự tài trợ thực hiện của các tổ chức quốc tế khác như: UNDP, UNEP, WB, GEF, ADB, GIZ, JICA,... Trong giai đoạn 2006 - 2015, Việt Nam đã thu hút hơn 50 dự án quốc tế về môi trường với tổng kinh phí lên tới hơn 819 triệu USD, hỗ trợ không chỉ ở cấp trung ương mà còn ở nhiều địa phương. Hoạt động hợp tác quốc tế đã góp một phần đáng kể trong việc huy động nguồn vốn tăng cường năng lực khoa học công nghệ cho ngành; tiếp cận được phương pháp luận hiện đại, tiếp thu kinh nghiệm của các nước vào công tác quản lý môi trường ở Việt Nam.

     Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm về BVMT của người dân và cộng đồng

     Công tác giáo dục, tuyên truyền để nâng cao nhận thức về BVMT liên tục được đẩy mạnh thực hiện. Việc tổ chức các sự kiện môi trường như: Ngày Môi trường thế giới (05/6), Chiến dịch Làm cho thế giới sạch hơn (tuần thứ 3 tháng 9), Ngày Trái Đất (22/4), Ngày Đa dạng sinh học thế giới (22/5), Giải thưởng Môi trường Việt Nam, Liên hoan phim môi trường,… ngày càng được nhiều Bộ, ngành và địa phương hưởng ứng với các hoạt động tuyên truyền thiết thực, hiệu quả, hình thức phong phú, hấp dẫn. Ngày càng nhiều tin, bài phản ánh đa dạng và chuyên sâu về các vấn đề môi trường; các cơ quan thông tấn báo chí đã dành thời lượng xứng đáng trong ngày, trong tuần cho các chuyên mục, chuyên trang, chương trình về môi trường; kịp thời phản ánh các hành vi gây ô nhiễm môi trường, sử dụng lãng phí tài nguyên thiên nhiên, đồng thời nêu gương các tổ chức, cá nhân có thành tích tốt về BVMT.

     Bộ TN&MT đã ký nhiều Nghị quyết liên tịch về việc phối hợp hành động BVMT với các tổ chức chính trị - xã hội, bao gồm: Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam; Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh; Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam;…; đã ký 3 Nghị quyết về phối hợp tuyên truyền BVMT với các cơ quan truyền thông đại chúng là Đài Truyền hình Việt Nam; Đài Tiếng nói Việt Nam và Thông tấn xã Việt Nam.

     Hoạt động trao tặng Giải thưởng Môi trường cho các cá nhân, tổ chức, cộng đồng và doanh nghiệp có thành tích tiêu biểu, xuất sắc về BVMT được duy trì hàng năm và tại các sự kiện. Nhiều mô hình tốt, nhiều gương người tốt việc tốt trong lĩnh vực BVMT đã xuất hiện, phù hợp với cách tiếp cận xã hội hóa công tác BVMT.

     Đặc biệt, từ năm 2016 đến nay, Bộ TN&MT đã triển khai phát động Tháng hành động về môi trường. Đây là điểm mới, nổi bật của hoạt động hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới 5/6 và là hoạt động có ý nghĩa, huy động sự tham gia của cả hệ thống chính trị - xã hội và nhân dân trên cả nước.

     Phòng ngừa, giảm thiểu các nguồn gây ô nhiễm, tác động xấu lên môi trường; khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường

     Công tác đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC), đánh giá tác động môi trường (ĐTM) ngày càng được chú trọng và nâng cao chất lượng để góp phần phòng ngừa ô nhiễm, giảm thiểu các tác động xấu đối với môi trường; nội dung, quy trình, thủ tục thẩm định ĐMC, ĐTM ngày càng rõ ràng, minh bạch hơn theo hướng cải cách hành chính nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu về chất lượng của công tác thẩm định. Thông qua công tác đánh giá tác động môi trường, nhiều dự án đầu tư đã bị từ chối vì lý do không đáp ứng được các yêu cầu về BVMT. Yêu cầu kiểm tra, xác nhận các công trình BVMT trước khi dự án đi vào hoạt động liên tục được quy định cụ thể, rõ đối tượng nhằm bảo đảm các dự án phải đáp ứng các yêu cầu về BVMT.

     Công tác rà soát, đánh giá, phân loại, lập danh mục và tổ chức thực hiện xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đã được xây dựng, triển khai quyết liệt, có hiệu quả. Việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22/4/2003 về xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và Quyết định số 1788/QĐ-TTg ngày 1/10/2013 phê duyệt Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đến năm 2020, đã giúp công tác quản lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được tập trung, thu hút sự quan tâm của các cấp quản lý, sự giám sát của cộng đồng.

     Công tác quản lý chất thải cũng được nâng lên thông qua việc ban hành danh mục và quản lý chất thải nguy hại theo mã số. Các văn bản quy định cho hoạt động này liên tục được cập nhật nhằm quản lý chặt chẽ, phù hợp với tình hình thực tế phát sinh. Việc phát triển các doanh nghiệp tư nhân hoạt động theo cơ chế thị trường giúp cho hoạt động quản lý chất thải có tính cạnh tranh cao, tạo điều kiện cho các chủ nguồn thải chất thải nguy hại cần chuyển giao có thể chọn lựa doanh nghiệp xử lý có kinh nghiệm và dịch vụ phù hợp, tránh tình trạng độc quyền và ép giá xử lý. Việc hình thành các Ủy ban BVMT lưu vực sông đã giúp tổ chức chỉ đạo, điều phối liên ngành, liên vùng để thống nhất thực hiện các nội dung của Đề án tổng thể bảo vệ và phát triển bền vững môi trường sinh thái cảnh quan lưu vực sông.

     Hoạt động kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm đã trở thành hoạt động thường xuyên, liên tục của cơ quan quản lý về môi trường các cấp, qua đó góp phần phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm, làm thay đổi nhận thức và ý thức trách nhiệm của tổ chức và cá nhân đối với công tác BVMT. Đặc biệt, từ năm 2013 đến nay, mức xử lý vi phạm hành chính về BVMT tăng lên tối đa 2 tỷ đồng (đối với tổ chức) và 1 tỷ đồng (đối với cá nhân) đã tạo tính răn đe cao, phát huy hiệu quả và là công cụ hữu hiệu trong công tác BVMT.

     Bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học

     Hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học được triển khai mạnh mẽ, có hệ thống, đặc biệt từ khi Luật Đa dạng sinh học được thông qua năm 2008 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2009. Các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật cũng nhanh chóng được ban hành như Nghị định hướng dẫn thực hiện Luật, Nghị định quản lý an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen, sản phẩm hàng hóa có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen. Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về bảo tồn đa dạng sinh học đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 thực hiện Công ước Đa dạng sinh học và Nghị định thư Cartagena về an toàn sinh học. Chương trình thực hiện Luật Đa dạng sinh học cũng đã được Bộ TN&MT phê duyệt và đang tích cực được triển khai.

     Quy hoạch tổng thể bảo tồn đa dạng sinh học đầu tiên của Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; trên cơ sở đó, đã có 11 tỉnh, TP phê duyệt quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học của địa phương và 8 tỉnh, TP đang xây dựng đề cương quy hoạch. Việc thành lập, quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên đã và đang được quan tâm thực hiện có hiệu quả thông qua nhiều cơ chế, chính sách. Trên phạm vi cả nước có 166 khu bảo tồn được phân hạng. Bộ TN&MT tích cực phối hợp với các địa phương xây dựng, hoàn thiện hồ sơ đề cử khu Ramsar và đã được Ban Thư ký Công ước Ramsar công nhận 8 khu Ramsar.

     Để tăng cường, bảo tồn và quản lý, bảo vệ hiệu quả các loài hoang dã, nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ, Chính phủ, các Bộ, ngành đã ban hành nhiều văn bản quan trọng như: Nghị định số 160/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 về tiêu chí xác định và chế độ quản lý loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm, được ưu tiên bảo vệ; Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

     Quan trắc, xây dựng cơ sở dữ liệu, ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác BVMT

     Hệ thống quan trắc môi trường quốc gia trong giai đoạn qua liên tục được mở rộng, gắn liền với mạng lưới trạm quan trắc tài nguyên và môi trường quốc gia. Tính đến nay, trên phạm vi cả nước đã có 57 tỉnh, TP thành lập các Trung tâm Quan trắc môi trường để thực hiện công tác quan trắc môi trường trên địa bàn. Có 50 tỉnh, TP đã phê duyệt chương trình quan trắc môi trường tổng thể. Hoạt động quan trắc ngày càng chuyên nghiệp; công nghệ quan trắc ngày càng đa dạng, hiện đại với hàng loạt các thiết bị, hình thức quan trắc được ứng dụng rộng rãi, đặc biệt là việc tăng cường các hoạt động quan trắc môi trường bằng các thiết bị tự động; ngày càng tiến gần hơn với hoạt động quan trắc của các nước trong khu vực và trên thế giới, góp phần cung cấp thông tin môi trường đến các nhà quản lý và người dân được kịp thời và chính xác.

     Công tác xây dựng báo cáo hiện trạng môi trường theo chuyên đề, báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia luôn được Bộ TN&MT và các Bộ, ngành, địa phương quan tâm thực hiện. Các báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia đã góp phần cung cấp các thông tin, số liệu đáng tin cậy về hiện trạng chất lượng môi trường nói chung, những vấn đề môi trường nổi cộm nói riêng, hỗ trợ hiệu quả cho công tác quản lý nhà nước về môi trường.

     Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực môi trường đã được quan tâm hơn. Hệ thống dịch vụ công trực tuyến thủ tục hành chính trong lĩnh vực môi trường mức độ cao, hệ thống thông tin, hoạt động quản lý nhà nước về môi trường đã được cập nhật thường xuyên, kịp thời trên Cổng thông tin điện tử Bộ TN&MT, Tổng cục Môi trường, các Bộ, ngành, địa phương, phục vụ tốt công tác quản lý nhà nước về môi trường ở Trung ương và địa phương. Trong đó, Cổng thông tin của Tổng cục Môi trường đã được các cơ quan quản lý, các tổ chức quốc tế, người dân và doanh nghiệp đánh giá cao về chất lượng thông tin và mức độ thân thiện.

 

Châu Long (Theo CTTĐT)

Thống kê

Lượt truy cập: 3130640