--%>

     Ngày 12/9/2019, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Chương trình quốc gia về bảo tồn các loài rùa nguy cấp của Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030” (Chương trình). Chương trình được phê duyệt nhằm triển khai thực hiện Luật Đa dạng sinh học năm 2008 và Nghị định số 160/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ (Nghị định số 160/2013/NĐ-CP).

      Hiện trạng về các loài rùa ở Việt Nam

     Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có đa dạng sinh học cao trên thế giới. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đa dạng sinh học ở Việt Nam đã và đang bị suy giảm nhanh ở cả ba cấp độ hệ sinh thái, loài và nguồn gen. Trong nhiều năm qua, Chính phủ Việt Nam đã sớm tham gia ký kết và thực hiện các cam kết quốc tế về bảo tồn đa dạng sinh học nói chung, đặc biệt chú trọng đến công tác bảo tồn các loài động vật, thực vật nguy cấp, quý, hiếm. Quốc hội cũng đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm cụ thể hóa các cam kết quốc tế về bảo tồn đa dạng sinh học. Mặc dù đã đạt được những thành tựu nổi bật, đa dạng sinh học ở Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với các mối đe dọa về mất, chia cắt môi trường sống, săn bắn, bẫy, bắt và buôn bán trái pháp luật các loài động vật hoang dã, ô nhiễm môi trường, xâm lấn của các loài ngoại lai xâm hại và biến đổi khí hậu. Các mối đe dọa này tác động nghiêm trọng tới sự tồn tại của các loài động vật, thực vật nguy cấp, quý, hiếm, trong đó có các loài rùa tại Việt Nam.

     Ở Việt Nam, khu hệ rùa đã ghi nhận được 32 loài và phân loài, chiếm gần 10% tổng số loài rùa trên thế giới, bao gồm 5 loài rùa biển, 27 loài và phân loài rùa cạn và rùa nước ngọt. Trong số 32 loài và phân loài rùa của Việt Nam, thì có 30 loài và phân loài đang phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng ngoài tự nhiên. Cụ thể là: 7 loài nằm trong tình trạng rất nguy cấp (CR), 13 loài và phân loài nguy cấp (EN) và 10 loài sắp nguy cấp (VU). Liên minh bảo tồn rùa thế giới đã đưa 3 loài rùa Việt Nam là Giải sin-hoe hay rùa Hoàn Kiếm (Rafetus swinhoei), Rùa hộp ba vạch (Cuora trifasciata) và rùa Trung Bộ (Mauremys annamensis) vào Danh sách 25 loài rùa cạn và rùa nước ngọt nguy cấp nhất trong tổng số 331 loài rùa của thế giới từ năm 2011. Trong số các loài này, 10 loài rùa gồm 5 loài rùa biển và 5 loài rùa cạn và rùa nước ngọt đã có tên trong Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ ban hành kèm theo Nghị định 160/2013/NĐ-CP.

     Từ những năm 1980 - 1990 của thế kỷ trước, các loài rùa bị buôn bán trái phép với số lượng lớn và chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng rùa châu Á nhưng công tác nghiên cứu, bảo tồn và thực thi pháp luật đối với các loài rùa cạn và rùa nước ngọt tại Việt Nam vẫn chưa thực sự được quan tâm, chú trọng đầu tư. Chính vì vậy, hiện nay các loài rùa của Việt Nam vẫn đang bị đe dọa nghiêm trọng do nạn săn bắt, buôn bán trái phép; mất, suy giảm và chia cắt môi trường sống; ô nhiễm môi trường; nhân nuôi thương mại thiếu kiểm soát...

     Thực hiện Luật Đa dạng sinh học và Nghị định số 160/2013/NĐ, Bộ TN&MT chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình bảo tồn các loài rùa nguy cấp của Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030”. Chương trình này là định hướng hoạt động bảo tồn nhằm ngăn chặn sự suy giảm, tăng cường phục hồi và phát triển bền vững các quần thể rùa ngoài tự nhiên, đặc biệt là các loài rùa nguy cấp của Việt Nam.

 

Giải Sin-hoe Rafetus swinhoei (rùa Hoàn Kiếm) là loài quý hiếm nhất thế giới, hiện chỉ còn một con hoang dã ở hồ Đồng Mô (Sơn Tây, Hà Nội)

 

     Bảo vệ và phát triển bền vững các quần thể rùa nguy cấp

     Chương trình bảo tồn các loài rùa nguy cấp của Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030” được xây dựng trên quan điểm bảo tồn các loài rùa nguy cấp góp phần bảo tồn đa dạng sinh học của Việt Nam; Bảo tồn các loài rùa nguy cấp là trách nhiệm của toàn xã hội, của các cơ quan quản lý, mọi tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân; Đẩy mạnh xã hội hóa và tăng cường hợp tác quốc tế trong bảo tồn các loài rùa nguy cấp.

     Theo đó, các mục tiêu cụ thể đối với công tác bảo tồn các loài rùa nguy cấp gồm: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được hoàn thiện tạo cơ sở pháp lý cho công tác bảo tồn các loài rùa nguy cấp; Tăng cường các hoạt động điều tra, đánh giá, nghiên cứu về các loài rùa nguy cấp, đặc biệt đối với các loài rùa nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; Xây dựng mô hình, thiết lập, quản lý hiệu quả các khu vực bảo vệ; công tác cứu hộ; nhân nuôi bảo tồn các loài rùa nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ được thực hiện hiệu quả; Tăng cường hiệu quả công tác quản lý và thực thi pháp luật về bảo tồn các loài rùa nguy cấp; Nâng cao nhận thức và sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động bảo tồn các loài rùa nguy cấp. Để đạt được mục tiêu trên, nhiệm vụ phải triển khai trong thời gian tới là:

     Rà soát, hoàn thiện các quy định pháp luật, hướng dẫn kỹ thuật về bảo tồn các loài rùa nguy cấp: Rà soát và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học nhằm tạo cơ sở pháp lý cho công tác bảo tồn các loài rùa nguy cấp, đặc biệt là các loài rùa thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; Hoàn thiện các văn bản pháp luật về quản lý các trang trại nuôi động vật hoang dã vì mục đích thương mại ở Việt Nam và thực hiện các giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý, kiểm soát các trang trại này; Xây dựng các quy định nhằm quản lý, kiểm soát hiệu quả tình trạng khai thác, đánh bắt, buôn bán, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, tiêu thụ trái phép và mua bán trực tuyến trên các mạng xã hội các loài rùa được bảo vệ; Xây dựng các hướng dẫn kỹ thuật về công tác cứu hộ, chăm sóc, quản lý trong điều kiện nuôi nhốt, nhân nuôi và tái thả về tự nhiên đối với các loài rùa nguy cấp tại Việt Nam.

     Tăng cường các hoạt động điều tra, đánh giá, nghiên cứu về các loài rùa nguy cấp: Điều tra, đánh giá hiện trạng các loài rùa nguy cấp tại Việt Nam; Cập nhật phân loại học và đề xuất tình trạng bảo tồn của các loài rùa cạn và rùa nước ngọt tại Việt Nam đối với Sách Đỏ Việt Nam và Danh lục Đỏ IUCN; Xây dựng và hoàn thiện mô hình phân bố các loài rùa nguy cấp của Việt Nam; nghiên cứu xác định khu vực phân bố của các loài rùa nguy cấp; Tiến hành nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học nhằm hỗ trợ cho công tác bảo tồn các loài rùa nguy cấp; Áp dụng, thử nghiệm các phương pháp nghiên cứu hiện đại hỗ trợ công tác nghiên cứu và bảo tồn các loài rùa nguy cấp tại Việt Nam.

     Xây dựng mô hình, thiết lập, quản lý hiệu quả các khu vực bảo vệ; duy trì, phục hồi quần thể; hỗ trợ công tác cứu hộ; nhân nuôi bảo tồn các loài rùa nguy cấp: Thu thập, tổng hợp thông tin về các loài rùa nguy cấp; xây dựng, cập nhật cơ sở dữ liệu về các loài rùa của Việt Nam; Khảo sát, đánh giá và xác định các sinh cảnh ưu tiên, các bãi đẻ tự nhiên cần được bảo vệ cho các loài rùa nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; Thành lập 3 khu bảo tồn loài và sinh cảnh mới cho các loài rùa cạn và rùa nước ngọt nguy cấp (Dự kiến triển khai đối với: các quần thể loài rùa Trung bộ (Mauremys annamensis) tại khu vực huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi; rùa Hoàn Kiếm (Rafetus swinhoei) tại thị xã Sơn Tây, TP. Hà Nội và nhóm các loài rùa hộp thuộc giống Cuora tại khu vực huyện Đông Hòa và Tây Hòa, tỉnh Phú Yên);

     Bên cạnh đó, xây dựng, thực hiện các dự án phục hồi quần thể đối với một số loài rùa cạn và rùa nước ngọt thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ (Dự kiến lựa chọn triển khai tại các tỉnh, thành phố trực thuộcTtrung ương: Hà Nội, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên và Khánh Hòa); Bảo vệ, phục hồi sinh cảnh, bãi đẻ cho các loài rùa biển, tập trung tại các khu vực: Bái Tử Long và Cô Tô - Thanh Lân (Quảng Ninh), Hải Lăng (Quảng Trị), Núi Chúa (Ninh Thuận), Cam Lâm (Khánh Hòa), Hòn Khô - Hải Giang (Bình Định), Hòn Cau (Bình Thuận), Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu) và Thố Chu (Kiên Giang) và phục hồi bãi đẻ, nơi sinh cư của rùa biển bị suy thoái tại các khu vực: Bạch Long Vỹ (Hải Phòng), Phú Quý (Bình Thuận), Phú Quốc (Kiên Giang) và quần đảo Trường Sa (Khánh Hòa); Thành lập và vận hành 02 trạm cứu hộ rùa biển tại các tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và Khánh Hòa; Phát triển, tích hợp và lồng ghép kế hoạch quản lý và giám sát quần thể rùa nguy cấp tại các khu vực ưu tiên với sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ, cơ quan chuyên môn và nhà khoa học.

      Tăng cường hiệu quả công tác quản lý và thực thi pháp luật về bảo tồn các loài rùa nguy cấp: Tăng cường phối hợp giữa các lực lượng Công an, Kiểm lâm, Kiểm Ngư, Quản lý thị trường, Hải quan, Biên phòng, Cảnh sát biển... đẩy mạnh hoạt động kiểm tra, kiểm soát hoạt động buôn bán, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, giết mổ, tiêu thụ trái phép các loài rùa nguy cấp; Tập huấn cho các cán bộ quản lý, bảo tồn, thực thi pháp luật về các chính sách, quy định pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học và các loài rùa nguy cấp; nâng cao năng lực về nhận dạng, áp dụng các văn bản pháp luật và biện pháp xử lý các cá thể rùa tịch thu được từ các vụ buôn bán, vận chuyển trái phép; công tác cứu hộ, chăm sóc, nuôi dưỡng và tái thả về tự nhiên đối với các loài rùa nguy cấp tại Việt Nam; Tổ chức các khóa đào tạo, tập huấn kỹ năng điều tra thực địa về rùa cạn, rùa nước ngọt và các loài rùa biển cho các nhà nghiên cứu và bảo tồn; Tập huấn cho cán bộ quản lý khu bảo tồn biển thực hiện các biện pháp bảo vệ nơi sinh sống, bãi đẻ, nơi ấp trứng của rùa biển; Tăng cường công tác quản lý, kiểm tra các trang trại nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng các loài rùa vì mục đích thương mại và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến nguồn gốc, xuất xứ của động vật và các quy định về gây nuôi động vật hoang dã. 

     Tuyên truyền, phổ biến pháp luật, truyền thông nâng cao nhận thức về bảo tồn, ngăn ngừa các hoạt động săn bắt, buôn bán trái phép các loài rùa nguy cấp: Thực hiện các hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật và nâng cao nhận thức cho các nhóm đối tượng (nhà quản lý, chủ cơ sở gây nuôi, cộng đồng) về tầm quan trọng của các loài rùa và trách nhiệm bảo tồn các loài rùa nguy cấp trên các phương tiện thông tin đại chúng; Hướng dẫn, phổ biến thực hiện các biện pháp bảo tồn các loài rùa và khuyến khích cộng đồng tham gia bảo tồn các loài rùa Việt Nam; Thiết lập mạng lưới và xây dựng cơ chế trao đổi thông tin về bảo tồn các loài rùa, khuyến khích cộng đồng không sử dụng các sản phẩm từ rùa trong y học cổ truyền, thực phẩm hoặc làm vật cảnh; Lồng ghép các hoạt động giáo dục bảo tồn và nâng cao nhận thức về bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ các loài rùa nguy cấp trong các nội dung học tập tại trường học; phát triển và tích hợp hệ thống các bài giảng chuyên sâu về nghiên cứu, bảo tồn các loài rùa vào chương trình đào tạo ở bậc đại học, cao đẳng có đào tạo chuyên ngành liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh học.

Nguyễn Hằng

(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường số 9/2019)

Thống kê

Lượt truy cập: 607926