--%>

 

      TÓM TẮT

      Mặc dù có lợi thế về sản xuất nông sản nói chung và rau quả nói riêng, rất nhiều sản phẩm của Việt Nam đã không đáp ứng được các tiêu chuẩn về chất lượng, mẫu mã của thị trường nhập khẩu. Trong bối cảnh Việt Nam tham gia ngày càng sâu và rộng vào thị trường quốc tế, với nhiều hiệp định thương mại tự do được ký kết, những cản trở liên quan tới hàng rào kỹ thuật môi trường sẽ càng nhiều và sẽ càng là khó khăn nếu bản thân các doanh nghiệp không ngừng nâng cao chất lượng và các cơ quan ban ngành không đưa ra những giải pháp hỗ trợ kịp thời. Bài viết phân tích những khó khăn của các doanh nghiệp xuất khẩu rau quả thân thiện với môi trường của Việt Nam trong hoạt động xuất khẩu nông sản vào hai thị trường trọng điểm là Mỹ và EU, đồng thời đưa ra những gợi ý cho các cơ quan quản lý chức năng, cũng như cho các doanh nghiệp trong việc tháo gỡ những khó khăn mang tính “một sống một còn” này.

      Từ khóa: Hàng rào kỹ thuật môi trường, thị trường Mỹ, EU, xuất khẩu rau quả.

 

Studying impacts of environment related trade barriers to the export of Vietnamese environmentally-friendly vegetable and fruit to the US and EU market

Nguyễn Nguyệt Nga, Lê Tiến Đạt, Đinh Thị Phương Anh, Nguyễn Đắc Thành

Thuongmai University

      ABSTRACT

      Although Việt Nam has many advantages of agricultural products, exporting in vegetable products do not meet the requirements of quality system. There are more and more free trade agreements when Việt Nam participates in the global market, consequently domestic export enterprises have to face lots of environment related trade barriers. This paper aims to identify major challenges in exporting activities of Vietnamese enterprises, especially in 2 most important market such as US and EU markets, the study then evaluates strengths and weaknesses of agricultural products in 2 markets, and finally some policy implementations are provided to enterprises in order to assist them overcome the main difficulties.

      Key words: Environment related trade barriers, USA, EU market, vegetable and fruit products exporting.

 

  1. Đặt vấn đề

      Trong kinh doanh quốc tế, doanh nghiệp (DN) có thể phải đối mặt với rất nhiều khó khăn cản trở khác nhau (Paunović & Prebežac 2010). Đặc biệt, trong xuất khẩu (XK), DN thường phải điều chỉnh sản phẩm của mình nhằm đáp ứng các đòi hỏi và yêu cầu của khách hàng. Ngoài ra, sự điều chỉnh sản phẩm đôi khi cũng cần phải theo những quy định của Chính phủ của các nước nhập khẩu (NK), đặc biệt liên quan tới việc bảo vệ sức khỏe và an toàn cho người dân của họ (Leonidou 2004). Trong bối cảnh xu hướng tiêu dùng các sản phẩm thân thiện với môi trường ngày càng gia tăng trên thế giới, đặc biệt ở các thị trường khó tính như Mỹ và EU. Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật BVMT năm 2014 có đưa ra định nghĩa sản phẩm thân thiện với môi trường tại Điều 3, khoản 9. Theo đó, “sản phẩm thân thiện với môi trường là sản phẩm đáp ứng các tiêu chí nhãn sinh thái và được chứng nhận nhãn sinh thái”. Theo định nghĩa này, một sản phẩm được xác định là sản phẩm thân thiện với môi trường khi đáp ứng các tiêu chí nhãn sinh thái và được chứng nhận nhãn sinh thái. Như vậy, để xuất khẩu sản phẩm rau quả thân thiện với môi trường sang thị trường Mỹ và EU, sản phẩm rau quả của Việt Nam cần đáp ứng được các hàng rào kỹ thuật môi trường để có thể xuất khẩu được và được chứng nhận đạt nhãn sinh thái từ các thị trường này để được coi là sản phẩm thân thiện với môi trường.

      Theo EUMUNTRAP (2016), đối với các hàng rào kỹ thuật môi trường, các thị trường XK khó tính như Mỹ và EU thường quy định hàng hóa XK phải đáp ứng các điều kiện sau:

  • Quy định về chất lượng thương mại và nhãn mác

      Phần lớn các quy định thông thường đều tập trung đến phẩm chất, kích thước, trọng lượng và ghi nhãn bao bì. Quy định ghi nhãn mác yêu cầu các thông tin như: Nước xuất xứ, tên sản phẩm, chủng loại và số lượng. Những yêu cầu liên quan đến chất lượng thương mại là chủng loại, màu sắc, thời hạn sử dụng, hư hỏng bên ngoài và hình dạng của sản phẩm.

  • Quy định về an toàn thực phẩm

Các quy định về an toàn thực phẩm thường tập trung vào hai vấn đề chính:

      + Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật/ thuốc trừ sâu tối đa trong sản phẩm. Như, trái cây muốn NK vào thị trường EU phải phù hợp với các tiêu chuẩn của Ủy ban Tiêu chuẩn thực phẩm quốc tế Codex. EU đã quy định mức dư lượng tối đa (MRL) có trong và trên các loại thực phẩm nói chung và trên nhãn, vải tươi nói riêng. Các sản phẩm này nếu chứa dư lượng thuốc trừ sâu cao hơn mức cho phép thì sẽ bị buộc rút khỏi thị trường EU.

      + Truy xuất nguồn gốc xuất xứ: Nhằm làm rõ nguồn gốc sản phẩm, các nước thường sử dụng những chứng nhận tự nguyện bền vững như phân tích nguy cơ và kiểm soát tới hạn (HACCP) cùng với việc áp dụng thực hành vệ sinh tốt (GHPs) và thực hành nông nghiệp tốt (GAPs). Đây là những tiêu chuẩn tự nguyện nhưng hiện nay đang được Chính phủ các nước áp dụng như tiêu chuẩn bắt buộc đối với các sản phẩm NK.

  • Quy định kiểm dịch thực vật

      Giấy chứng nhận kiểm dịch thực phẩm áp dụng với rau củ quả của Cơ quan Giám định thực phẩm có thẩm quyền của nước sản xuất để đảm bảo không bị côn trùng và bệnh tật. Luật Sản phẩm môi trường của EU (European Union Environment Product Legislation) nhấn mạnh, việc xử lý nguyên nhân của vấn đề môi trường, hơn là đối phó với các rắc rối đã xảy ra.

  • Sản phẩm hữu cơ

      Riêng đối với NS XK cần thêm chứng nhận về nông nghiệp hữu cơ đối với đơn hàng hữu cơ. Ví dụ như chứng nhận nông nghiệp hữu cơ (IFOAM) hoặc chứng nhận USDA Organic.

  • Các quy định về hệ thống quản lý tại đơn vị sản xuất

Các quy định về hệ thống quản lý tại đơn vị sản xuất như Chứng nhận ISO 14001, hệ thống kiểm toán và quản lý sinh thái (Eco-Management and Audit Scheme - EMAS), chứng nhận SA8000 cũng là điều kiện cần thiết để XK được sản phẩm sang các thị trường Âu Mỹ.

      2. Thực trạng xuất khẩu rau quả Việt Nam vào Mỹ và EU

      Có thể nói hoạt động XK rau quả vào một số thị trường khó tính trong thời gian gần đây đã có những tín hiệu đáng mừng. Không chỉ riêng thị trường Mỹ mà tại nhiều thị trường khó tính, với yêu cầu kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt như Ôxtrâylia, Nhật Bản, Hàn Quốc, New Zealand, đặc biệt là EU… hiện, trái cây XK của Việt Nam đều gia tăng cả về lượng lẫn giá trị.

      2.1. Thực trạng xuất khẩu rau quả Việt Nam vào thị trường Mỹ

      Hiện nay, Mỹ là một trong những nước nhập siêu rau quả lớn nhất thế giới với tổng trị giá 11,4 tỷ USD, trong đó 3,6 tỷ USD rau xanh, 4,6 tỷ USD trái cây và hạt, 3,2 tỷ USD rau quả chế biến. Trong đó, trái cây NK chiếm khoảng 40% tổng nhu cầu tiêu thụ trái cây của quốc gia này. Nguồn cung cấp rau quả chủ yếu cho Mỹ là các nước láng giềng (Mêxicô và Canađa chiếm gần 50% kim ngạch NK rau quả của Mỹ) và các nước Nam Mỹ. Ngoài ra, Mỹ cũng NK từ một số nước châu Á và châu Âu. Những mặt hàng NK chính của Mỹ là chuối, cà chua, hạt điều, nho và khoai tây.

      Trong danh mục NS XK sang Mỹ của Việt Nam 9 tháng đầu năm 2017, nổi bật nhất là hạt điều tăng 34%, đạt 931,13 triệu USD.

Bảng 1. Xuất khẩu nông sản sang Mỹ 9 tháng đầu năm 2017

                                                                                                                                                                                                        Đơn vị tính: USD

Mặt hàng

9T/2017

9T/2016

(%) so sánh

Hạt điều

931.132.325

693.068.548

+34,35

Cà phê

330.713.024

332.631.778

-0,58

Hạt tiêu

186.462.211

296.477.651

-37,11

Hàng rau quả

75.928.063

59.724.172

+27,13

Chè

5.356.864

5.140.187

+4,22

                                                                                                                                                                               Nguồn: Tổng cục Hải quan (2017)

      Hiện, Mỹ đã cho phép NK hàng loạt các loại trái cây của Việt Nam, đó là thanh long ruột trắng, ruột đỏ, chôm chôm, nhãn, vải (yêu cầu chiếu xạ) và đang tiếp tục hoàn tất thủ tục để cho phép NK xoài, vú sữa. Tín hiệu XK trái cây vào Mỹ hiện nay rất tiềm năng và rộng mở.

      Trong XK vào thị trường Mỹ, lợi thế của DN NS Việt Nam là các mặt hàng sản phẩm được ưa chuộng. Không như suy nghĩ của nhiều người cho rằng, XK NS sang Mỹ chủ yếu để phục vụ cho cộng đồng người Việt ở nước ngoài, tỷ lệ tiêu thụ của người Việt tại các thị trường này cũng không nhiều mà phần lớn vẫn là do người dân bản địa. Do đó khả năng tăng trưởng XK NS trái cây của Việt Nam sang thị trường Mỹ vẫn còn rất nhiều dư địa.

      2.2. Thực trạng xuất khẩu rau quả Việt Nam vào thị trường EU

      EU là thị trường NK rau quả tươi hàng đầu thế giới và khá cởi mở với các sản phẩm mới. Đặc biệt, nhu cầu đối với những hương vị, chủng loại hoa quả mới, độc đáo ngày càng có xu hướng tăng.

      Theo nghiên cứu của CBI, tình hình nhập khẩu các loại hoa quả nhiệt đới mới lạ ở EU đang có xu hướng tăng trong những năm gần đây, đặc biệt từ năm 2012. Tổng giá trị nhập khẩu các loại hoa quả nhiệt đới tươi bao gồm me, điều, vải, mít, hồng xiêm, lạc tiên, khế và thanh long có tốc độ tăng trưởng tương đối đều từ năm 2012 - 2015, đạt mức 35.000 tấn tương ứng hơn 100 triệu Euro trong năm này. Trong đó, Đức và Pháp là thị trường tiêu thụ chính đối với các loại hoa quả nhiệt đới trên, đứng thứ 3 là Anh. Ở một số nước khu vực Nam Âu, nhu cầu đối với các sản phẩm này cũng được đánh giá là đang có dấu hiệu tăng trưởng tốt, như tại Tây Ban Nha, nơi có thể thấy rất nhiều quầy hoa quả với nhiều chủng loại ngoại lai, hiếm có nhất đến từ khắp nơi trên thế giới.

Hình 1. Biểu đồ nhập khẩu me, điều, vải, mít, hồng xiêm, lạc tiên, khế và thanh long vào EU

      Có thể thấy, thị trường EU đang mở ra nhiều cơ hội cho trái cây XK Việt Nam. Việt Nam có thể sản xuất một số loại trái cây cho trái quanh năm như thanh long, bưởi. Đồng thời, Việt Nam cũng có lợi thế về các loại trái cây nhiệt đới đặc sản, lạ, có sức hấp dẫn đối với nhu cầu đổi mới và thích mới lạ của người tiêu thụ. Ngoài quả bưởi, các sản phẩm chủ lực khác có cơ hội phải kể đến như thanh long, măng cụt, xoài, nhãn. Đồng thời, giá nhân công thấp hơn có thể là đòn bẩy cho việc làm tăng giá trị sản phẩm ngay tại nơi cung ứng, như sơ chế, cắt gọt.

      3. Những khó khăn trong xuất khẩu rau quả Việt Nam vào Mỹ và EU

      Việt Nam là nước rất có lợi thế về sản xuất trái cây, tuy nhiên, trên thực tế, trái cây của chúng ta thường không đáp ứng được các tiêu chuẩn về chất lượng, mẫu mã theo yêu cầu của các nước NK. Trong đó, khó khăn lớn nhất là rào cản kỹ thuật về kiểm dịch thực vật, nhất là trong thời gian tới, khi Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do. Các thuế suất giảm nhanh và bằng 0 thì các rào cản kỹ thuật sẽ được các nước nâng lên cao hơn nhiều so với hiện nay. Trong khi đó, các thị trường khó tính như Mỹ và EU thường có quy định chặt chẽ về kiểm dịch thực vật NK, đặc biệt là đối với các loại quả tươi.

      3.1. Khó khăn trong xuất khẩu rau quả Việt Nam vào thị trường Mỹ

      Có thể nói, Việt Nam là một nước có tiềm năng về nông nghiệp và thực tế đã XK hàng triệu tấn NS, trong đó nhiều loại được đánh giá cao về chất lượng và phong phú về chủng loại. Tuy nhiên, trái cây là những sản phẩm NS dễ hỏng và đòi hỏi công nghệ bảo quản cao sau thu hoạch. Do đó, ở các thị trường XK cao cấp như Mỹ các rào cản kĩ thuật về chất lượng đòi hỏi DN muốn XK được vào thị trường này phải kiểm soát được chất lượng đầu vào, trong đó, có rất nhiều yếu tố như kiểm dịch thực vật, kiểm soát được các loại tạp chất dư lượng trong thực vật, sản phẩm thực vật NS như thuốc trừ sâu, thuốc tăng trưởng… Điều này đòi hỏi các DN phải có ý thức về điều này và chủ động hỗ trợ người dân tại các vùng trồng nguyên liệu, cung cấp nguyên liệu đầu vào mới có thể đảm bảo tiêu chuẩn của những thị trường khó nhất như Mỹ.

      Thị trường Mỹ luôn được đánh giá là thị trường có tiềm năng lớn. Đây là thị trường NK lớn thứ 2 trên thế giới. Mỹ tiêu thụ khoảng 12 triệu tấn trái cây tươi, chủ yếu là cam, nho, táo, chuối, khóm. Trong đó, Mỹ có khả năng sản xuất 70% và phải NK 30% tổng lượng tiêu thụ. Tuy nhiên, để vào thị trường này, trái cây Việt Nam hiện phải vượt qua nhiều rào cản về tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, cạnh tranh với sản phẩm giá rẻ từ các nước Thái Lan, Trung Quốc... Ngày nay, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm được liệt vào danh mục hàng đầu. Trong đó, vấn đề truy xuất nguồn gốc được khách hàng quan tâm và Global GAP là tiêu chuẩn tối thiểu. Thị trường này đặt ra tiêu chuẩn kiểm dịch thực vật khắt khe, bắt buộc phải xử lý chiếu xạ cho trái cây nhiệt đới với chi phí xử lý cao và có thể ảnh hưởng đến chất lượng trái cây. Người tiêu dùng quan tâm về vệ sinh an toàn thực phẩm nên sẽ gia tăng nhu cầu các sản phẩm hữu cơ.

      Bộ Nông nghiệp Mỹ quy định rõ, NS phải đáp ứng các tiêu chuẩn về vệ sinh - an toàn thực phẩm như phải được trồng ở vùng đăng ký và được Cục Bảo vệ thực vật Việt Nam theo dõi, đảm bảo không có mầm bệnh, trước khi XK phải được chiếu xạ chống ký sinh trùng, mỗi lô hàng phải có chứng chỉ về an toàn thực phẩm của cơ quan Việt Nam và chứng chỉ nguồn gốc xuất xứ... mới được phép XK vào Mỹ. Đặc biệt, các loại NS cũng phải chịu các quy định ngặt nghèo liên quan đến dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Đây là một trong những quy định rất ngặt nghèo nhất của Mỹ đặt ra đối với các hàng hóa nông sản của các nước vào thị trường này. Ở một khía cạnh khác, do Mỹ hiện cũng đang là nhà nhập khẩu lớn của các mặt hàng hoa quả Thái Lan, New Zealand… nên sự cạnh tranh đối với những nhà XK này cũng trở nên gay gắt hơn nhiều.

      Thị trường Mỹ cũng đòi hỏi đối tác của mình rất nhiều yêu cầu, trong đó, đặc biệt là an toàn thực phẩm theo Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (GAP) đang được áp dụng đối với các nước thành viên của WTO, quy định về nhãn mác thương hiệu, bao bì và quy tắc xuất xứ đối với hoa quả XK... Nếu DN Việt Nam không đáp ứng được quy định này, họ sẽ áp dụng các lệnh trừng phạt, khi đó chúng ta sẽ đánh mất thị trường và cơ hội quay trở lại sẽ rất khó. Điều quan trọng nhất lúc này chính là xây dựng chỉ dẫn địa lý cho quả vải, thực hiện tiêu chuẩn GAP trong nuôi trồng, đóng gói và XK… Cần xây dựng chuỗi cung ứng, sản xuất và XK sạch để gây dựng niềm tin, giữ vững thị trường.

      3.2. Khó khăn trong XK rau quả Việt Nam vào thị trường EU

      Để thâm nhập thị trường EU đối với sản phẩm nông sản, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm được liệt vào danh mục hàng đầu. Trong đó, vấn đề truy xuất nguồn gốc được khách hàng quan tâm và Global GAP là tiêu chuẩn tối thiểu. Riêng thị trường EU thêm vào các tiêu chuẩn riêng của nhà bán lẻ như MRLs về mức dư lượng tối đa cho phép, BRC về tiêu chuẩn cho sau thu hoạch... Các vấn đề về đạo đức và môi trường cũng được đặt ra như trách nhiệm xã hội DN, có trách nhiệm với nguồn cung ứng...

      Mấy năm qua, rau quả tươi xuất sang EU như: Ớt, rau húng, quế, thanh long… thường bị cảnh báo về mức độ an toàn vệ sinh thực phẩm. Thậm chí, có thời điểm EU đưa ra cảnh báo sẽ cấm toàn bộ các mặt hàng rau quả của Việt Nam nếu phát hiện đủ 5 lô hàng không đảm bảo. Điều này khiến cơ quan quản lý Nhà nước phải áp dụng phương án tạm dừng XK để chấn chỉnh.

Theo các chuyên gia, mặc dù, các loại rau gia vị bị EU cảnh báo nhiều lần trong thời gian qua có kim ngạch XK không lớn trong tổng số kim ngạch XK rau quả nói chung, tuy nhiên, nếu tình trạng này vẫn tiếp diễn, lâu dài có thể gây ra những hậu quả khó lường. Đó là làm giảm uy tín, tạo ấn tượng xấu đối với sản phẩm rau quả XK không chỉ ở thị trường EU mà cả các thị trường khác.

      Tình trạng một số mặt hàng rau quả của Việt Nam XK vào EU thường xuyên bị cảnh báo về mặt chất lượng, các chuyên gia cho rằng, do EU là thị trường NK lớn với những yêu cầu, tiêu chuẩn cao. Trong khi đó, quá trình sản xuất, đặc biệt là bảo quản sau thu hoạch các sản phẩm NS nói chung, mặt hàng rau quả nói riêng của Việt Nam còn nhiều bất cập. Hệ thống sản xuất vẫn manh mún, khó kiểm soát, chưa đủ điều kiện để đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật đặt ra.

Bên cạnh đó, một trong những yếu tố quan trọng dẫn tới trình trạng trên là bởi các DN chưa chủ động và thiếu trung thực. Trên thực tế, khi XK sản phẩm sang các thị trường khó tính, sản phẩm phải đáp ứng những yêu cầu nghiêm ngặt, như phải chiếu xạ hay khử trùng... Nếu làm đầy đủ tất cả các yêu cầu đặt ra thì DN sẽ bị đội chi phí, gây tổn thất, nên một bộ phận DN có tâm lý lách được bao nhiêu tốt bấy nhiêu.

      4. Chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam vượt qua các khó khăn trong xuất khẩu rau quả vào một số thị trường trọng điểm như Mỹ và EU

      Để hỗ trợ cho các DN XK rau quả vào các thị trường trọng điểm như Mỹ và EU, các Bộ, cơ quan ban ngành đã triển khai nhiều hoạt động. Chẳng hạn, liên quan tới hỗ trợ DN XK trong vấn đề chiếu xạ sản phẩm, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Khoa học và Công nghệ đã xây dựng, nâng cấp thành công một cơ sở chiếu xạ ở miền Bắc đã giúp cho chi phí chiếu xạ, đặc biệt là cho quả vải giảm được 16 triệu đồng/tấn. Ngoài ra, vừa qua các hãng hàng không, nhất là Vietnam Airlines đã cam kết với 2 tỉnh Bắc Giang và Hải Dương sẽ dành tải trọng và tạo điều kiện tốt nhất để XK vải sang các thị trường mới mở.

      Bên cạnh các giải pháp mà các Bộ/ngành liên quan đưa ra như giải pháp về quy hoạch sản xuất nông nghiệp, chế biến bảo quản, khoa học công nghệ và khuyến nông, tổ chức tiêu thụ sản phẩm, chính sách hỗ trợ, để gia tăng giá trị XK, cần ưu tiên cơ cấu rau quả XK theo thứ tự: Tươi - Chế biến đông lạnh - Chế biến đóng hộp - Chế biến nước ép và sấy khô. Bên cạnh đó, cần tiếp tục hình thành nên vùng nguyên liệu tập trung sản xuất lớn đủ sức cung ứng ổn định cho DN cũng như có chính sách bảo hiểm đầu tư trong nông nghiệp, bảo hiểm hợp đồng tiêu thụ dài hạn đặc biệt đối với các loại cây XK vốn có thị trường tiêu thụ tương đối ổn định, tạo an tâm và giảm rủi ro cho các DN khi đầu tư, xây dựng vùng nguyên liệu ổn định lâu dài.

      Về chính sách thuế, cần điều chỉnh giảm thuế GTGT đối với sản phẩm chế biến rau quả từ thuế suất 10% xuống còn 5%. Ngoài ra cần có chính sách khuyến khích ưu đãi đầu tư vào lĩnh vực sản xuất, bảo quản, chế biến rau quả; Khuyến khích, hỗ trợ hình thành nhiều hợp tác xã, nhiều cơ sở XK theo vùng trên cơ sở liên kết quyền lợi chặt chẽ giữa những người trồng rau quả; Tạo chủ động liên kết giữa các viện, trường, trung tâm với các nhà XK, nhà vườn nhằm ứng dụng các nghiên cứu có tính thực tiễn cao; Cần tiếp tục hỗ trợ các chương trình xúc tiến thương mại nhằm tìm kiếm mở rộng thị trường XK nhiều hơn nữa cũng như hỗ trợ giá cước vận chuyển rau quả từ Việt Nam đi các thị trường trọng điểm như EU, Mỹ.

      Đặc biệt, chi phí đăng ký đạt chuẩn cho một số tiêu chuẩn như VietGAP hiện còn quá cao so với người nông dân, vì thế sự hỗ trợ là hết sức cần thiết. Vấn đề nữa không thể thiếu vai trò của Nhà nước là cần mở rộng hơn mối quan hệ với các nước thông qua giới thiệu, quảng bá hình ảnh trái cây Việt Nam.

      Về phía DN, ngoài mối liên kết với nhà vườn, sự liên kết giữa các DN với nhau cũng hết sức quan trọng. Nhiều DN chưa đủ sức tự tìm kiếm khách hàng, nên việc liên kết với các DN khác rất cần thiết. Chính vì vậy, liên kết để hỗ trợ nhau tạo sức mạnh chung. Tuy nhiên để thuận lợi trong việc tìm kiếm đối tác, DN lại rất cần sự hỗ trợ từ Nhà nước. Những chuyến công tác, những hội chợ quảng bá sản phẩm của Việt Nam sẽ là con đường thuận lợi cho các DN tiếp cận với đối tác NK.

      4.1. Chính sách hỗ trợ cho xuất khẩu rau quả Việt Nam vào thị trường Mỹ

      Riêng đối với các thị trường lớn như Mỹ, để có thể phát huy tối đa cơ hội khi các thị trường lớn “mở cửa” cần có sự liên kết phối hợp chặt chẽ giữa 4 “nhà” với nhau. Trong đó, nhà nước giữ vai trò quản lý, ngoài việc hỗ trợ nông dân làm VietGAP, GlobalGAP cần có định hướng cho DN không để XK cạnh tranh thiếu lành mạnh, giành giật thị trường… Nhà nước cũng cần phải có chính sách cụ thể hơn nữa để hỗ trợ cho từng loại cây chủ lực theo hướng tập trung và đặc biệt là tránh phá vỡ quy hoạch.

      Đặc biệt, bản thân các DN cũng phải xây dựng xong bản đồ liều lượng. Cũng giống như thanh long và chôm chôm, trái vải và nhãn muốn xuất sang Mỹ, trước hết phải được áp dụng VietGap trong sản xuất. Đây mới chỉ là điều kiện cần, còn sản phẩm Việt Nam có thực sự vào được Mỹ hay không thì vai trò đầu tàu của các DN cần phải được phát huy nhiều hơn nữa. Khi có thị trường rồi, lúc đó sẽ liên kết với nông dân và cơ quan quản lý nhà nước, cùng nhau dốc sức để làm ra sản phẩm đạt yêu cầu của đối tác.

      Để hỗ trợ DN XK mặt hàng NS, Bộ Công Thương cần tiếp tục chú trọng phát triển nguồn hàng XK, cần có biện pháp dài hạn, hiệu quả hỗ trợ DN, nông dân tháo gỡ khó khăn nhằm đảm bảo tính bền vững, nhất là đối với mặt hàng NS, thủy sản XK chủ lực. Bên cạnh đó, Bộ cần  tiếp tục đổi mới các hoạt động XTTM, có giải pháp hỗ trợ phù hợp đối với các ngành hàng XK chủ lực vào các thị trường trọng điểm, thị trường mới có nhiều tiềm năng gắn với nâng cao chất lượng sản phẩm và xây dựng thương hiệu. Tăng cường công tác dự báo thị trường, bám sát tình hình thị trường và nâng cao hiệu quả công tác thông tin, dự báo thị trường. Qua đó, đẩy mạnh hoạt động XK, cải thiện chất lượng hàng hóa tránh rủi ro cho DN khi thực hiện các hợp đồng XK.

Bộ Công Thương cũng cần có biện pháp dài hạn, hiệu quả hỗ trợ DN, nông dân, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm, bảo đảm ổn định, bền vững, nhất là các mặt hàng NS, thủy XK chủ lực…

      4.2. Chính sách hỗ trợ cho xuất khẩu rau quả Việt Nam vào thị trường EU

      Trong các nỗ lực nhằm hỗ trợ cho các DN trong XK thanh long vào thị trường EU, việc xây dựng các chương trình nhằm nâng cao năng lực XK cho các DN là rất cần thiết. Các chương trình đào tạo này thường được tổ chức bởi các tổ chức như Trung tâm tư vấn và hỗ trợ nông nghiệp hay Trung tâm xúc tiến thương mại, Trung tâm xúc tiến NK, với các nội dung đa dạng như cung cấp những thông tin cho các DN kỹ năng, kiến thức về thị trường, hỗ trợ kỹ thuật về sản phẩm và cải tiến quy trình sản xuất, kiểm tra chất lượng sản phẩm, thâm nhập thị trường EU. Các DN tham gia phải chọn sản phẩm rau quả tươi có tiềm năng XK sang thị trường EU, sau đó chọn những địa phương có khả năng sản xuất ra sản phẩm đó. Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng liên quan cần tăng cường hỗ trợ nông dân, DN, địa phương xây dựng chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thanh long, bưởi nhằm đáp ứng các quy định của các nước NK EU.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. CBI (Centre for the promotion of imports from developing country), 2016, Báo cáo về xuất khẩu trái cây nhiệt đới ngoại lai vào EU (Exporting fresh exotic tropical fruit to Europe).
  2. Dự án hỗ trợ chính sách thương mại và đầu tư của EU (EUMUNTRAP), 2016, Các yêu cầu kỹ thuật về thanh long của thị trường EU.
  3. Daniels, JD, Radebaugh, LH & Sullivan, DP 2013, International business: Environments and operations, 14thedn., Pearson, Boston.
  4. Edinburgh Group 2014, Growing the global economy through SMEs, UK.
  5. Leonidou, LC 2004, 'An analysis of the barriers hindering small business export development', Journal of Small Business Management, vol. 42, no. 3, pp. 279-302.
  6. Paunović, Z & Prebežac, D 2010, 'Internationalisation of small and medium-sized enterprises', INTERNACIONALIZACIJA POSLOVANJA MALIH I SREDNJIH PODUZEĆA., vol. 22, no. 1, pp. 57-76
  7. Nguyễn Nguyệt Nga, Lê Tiến Đạt, Đinh Thị Phương Anh, Nguyễn Đắc Thành

    Đại học Thương Mại

  8. (Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường, Chuyên đề I/2018)

Thống kê

Lượt truy cập: 1610789