--%>

TÓM TẮT

    Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá mức độ đa dạng của quần xã phiêu sinh thực vật (PSTV) và thông qua cấu trúc quần xã PSTV và các chỉ số hóa ly đánh giá chất lượng môi trường nước khu vực bãi chôn lấp (BCL) Đa Phước. Kết quả phân tích PSTV thu tại 17 điểm khảo sát đã ghi nhận được 237 loài thuộc 7 ngành. Trong đó hai ngành BacillariophytaChlorophyta chiếm ưu thế cả hai đợt. Kết quả phân tích các chỉ số sinh học như chỉ số đa dạng H’ và chỉ số ưu thế D cũng cho thấy, cấu trúc quần xã PSTV ở các điểm khảo sát tương đối ổn định và môi trường nước tại khu vực khảo sát bị ô nhiễm hữu cơ ở mức sạch đến trung bình. Đồng thời với sự xuất hiện của một số loài PSTV có nguồn gốc nước lợ, mặn và các loài thuộc nhóm tảo lam với mật độ khá cao đã cho thấy môi trường nước tại khu vực này đang chịu ảnh hưởng của sự xâm nhập mặn và nguồn ô nhiễm hữu cơ.

Từ khóa: Phiêu sinh thực vật, bãi chôn lấp Đa Phước, chất lượng nước.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

    Trong hệ sinh thái (HST) nước ngọt phiêu sinh thực vật là một trong ba nhóm sinh vật quang hợp lớn. Là một phần quan trọng của HST, chúng được xem như nền tản của chuỗi thức ăn, là nguồn thức ăn quan trọng của động vật phù du, cá, tôm..., có tác động mạnh mẽ đến HST của các thủy vực.Những thay đổi của các sinh vật trong thủy vực nước ngọt liên quan đến các biến đổi của môi trường được Kolenati (1848) và Cohn (1853) lần đầu tiên ghi nhận. Nhiều loài trong số chúng có khả năng hấp thụ các nguyên tố kim loại nặng và một vài khoáng chất vì vậy chúng được xử dụng như nhân tố để xử lý môi trường nước bị ô nhiễm.Với những sự thay đổi trong cấu trúc quần xã cũng như sự xuất hiện của các loài PSTV chị thị cũng được xem như một chỉ thị sinh học trong việc đánh giá chất lượng môi trường nước.Các nhà khoa học trên thế giới cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về PSTV và những đánh giá về ảnh hưởng của môi trường đến cấu trúc và những thay đổi trong cấu trúc quần xã của PSTV. Hicham Khattabi và cs.(2005) thấy rằng, quần xã PSTV bị tác động bởi các chất gây ô nhiễm ở lưu vực Etueffont. Nghiên cứu này cũng cho thấy, khi môi trường nước bị nhiễm bẩn nặng thì các loài thuộc Euglenophyta xuất hiện nhiều và khi chất lượng môi trường nước được cải thiện thì thay thế vào đó là các loài thuộc BacillariophytaChlorophyta. Bên cạnh đó, các chỉ số sinh học cũng được sử dụng khá hiệu quả trong các công trình nghiên cứuđể phân loại chất lượng môi trường nước, ở Ấn Độ, Thakur và cs (2013) sử dụng các chỉ số lý hóa và chỉ số sinh học của PSTV đã cho thấy chất lượng nước tại hồ Prashar là tốt nhất trong ba hồ nghiên cứu trong khi đó tại hồ Rewalsas bị ô nhiễm nặng. Phạm Thanh Lưu và cs. (2017) cũng đã cho thấy, sự ô nhiễm môi trường nước tại đập Ba Lai thông qua chỉ số sinh học H’ và chỉ số D.

    Trên thế giới việc xử lý rác thải là một vấn đề nan giải và những ảnh hưởng của chúng đến môi trường vẫn là một vấn đề được quan tâm. Một thực trạng đáng lưu ý là nước rỉ rác tại các bãi rác, bãi chôn lấp sẽ ảnh hưởng đến chất lượng môi trường nước ở các khu vực lân cận. Các nghiên cứu đánh giá chất lượng môi trường nước khu vực xung quanhcác bãi rác bãi chôn lấp chủ yếu liên quan đến các chỉ tiêu hóa lý rất ít các công trình nghiên cứu liên quan đến ảnh hưởng của các bãi chôn lấp đến hệ PSTV. Các yếu tố hóa lý phần lớn tác động tức thời lên môi trường, diễn biến nhanh tuy nhiên cấu trúc thủy sinh chịu tác động từ môi trường trong một quá trình dài, do vậy đánh giá chất lượng nước dựa vào hệ PSTV cho biết diễn biến môi trường trong khoảng thời gian tương đối. Việc đánh giá chất lượng môi trường nước khu vực BCL Đa Phước là cần thiết cho những tiền đề phát triển các chỉ số sinh học, đánh giá các tác động của bãi chôn lấp đến chất lượng môi trường nước khu vực.

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. PHƯƠNG PHÁP THU MẪU

    Mẫu PSTV được thu ở 17 điểm được ký hiệu từ D1-D17 tại các điểm BCL Đa Phước vào đợt 1(tháng 4) và đợt 2 (tháng 10) năm 2017 được thể hiện (Hình 1).Đối với mẫu định tính (xác định thành phần loài): tại mỗi điểm thu mẫu dùng lưới vớt thực vật phù du với kích thước mắt lưới từ 20-25 µm đặt miệng lưới cách mặt nước 15-20 cm rồi kéo lưới theo hình ziczắc. Cố định mẫu bằng formalin 4%, lắc đều và ghi chú mẫu. Đối với mẫu định lượng (xác định mật độ tế bào), dùng xô hay chậu lấy 10L nước tại điểm thu mẫu đổ qua luới vớt PSTV để lọc mẫu, sau đó chuyển mẫu (ở ống đáy) qua lọ đựng mẫu. Kế đó cố định mẫu bằng formalin 4%, lắc đều và đánh dấu mẫu.

 


Hình 1. Bản đồ vị trí thu mẫu tại khu vực lân cận BCL Đa Phước

 

Bảng 1. Thành phần và tính chất nước mặt trong quá trình nghiên cứu

Vị trí

Vĩ độ

Kinh độ

Vị trí

Vĩ độ

Kinh độ

D1

N 10o40’41,9

E 106o39’49,0

D10

N 10o40’20,9

E 106o39’45,4

D2

N 10o40’29,7

E 106o39’54,5

D11

N 10o40’20,0

E 106o39’49,0

D3

N 10o40’11,6

E 106o40’34,1

D12

N 10o39’47,7

E 106o40’42,1

D4

N 10o39’55,4

E 106o40’35,0

D13

N 10o40’15,3

E 106o40’18,4

D5

N 10o39’54,8

E 106o40’31,4

D14

N 10o39’37,59

E 106o41’4,78 

D6

N 10o39’47,7

E 106o40’42,1

D15

N 10o40’26,27

E 106o40’8,24

D7

N 10o40’18,5

E 106o39’43,5

D16

N 10o39’31,14

E 106o40’16,85

D8

N 10o39’51,7

E 106o40’36,4 

D17

N 10o40’20,07

E 106o40’4,56

D9

N 10o40’7,84

E 106o40’40,6

 

 

 

 

2.2. PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH MẪU PHIÊU SINH THỰC VẬT

    Các loài PSTV được định danh bằng phương pháp so sánh hình thái học, xác định thành phần loài sử dụng kính hiển vi quang học Olympus CX40 ở độ phóng đại ×100–400 và được định danh dựa trên các tài liệu trong và ngoài nước như Akihito Shirota (1966), Trương Ngọc An (1993), Dương Đức Tiến và Võ Hành (1997), Nguyễn Văn Tuyên (2003). Mật độ tế bào được xác định theo phương pháp sử dụng buồng đếm Sedgewick Rafter. Mẫu thu được để lắng 48h, loại bỏ phần nước trong và chuyển vào ống đong để xác định thể tích. Trước khi phân tích, mẫu trong ống đong được trộn đều, hút ra và cho vào buồng đếm Sedgewick Rafter.

    Phân tích, đánh giá cấu trúc quần xã PSTV được thông qua các chỉ số sinh học như chỉ số đa dạng Shannon– Weiner (H’) và chỉ số ưu thế (D). Các số liệu và chỉ số sinh học được tính toán bằng phần mềm Excel 2010.

3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. THÀNH PHẦN LOÀI PHIÊU SINH THỰC VẬT

    Kết quả phân tích thành phần loài thủy sinh thực vật ở khu vực BCL Đa Phước khá đa dạng (Hình 2) đã ghi nhận được 237 loài thuộc 7 ngành, lớp. Trong đó ngành Bacillariophyta chiếm ưu thế với 89 loài chiếm 37,55%, kế đến là ngành Chlorophyta 82 loài chiếm 34,60%, Cyanobacteria36 loài, chiếm 15,19%, Euglenohyta 26 loài, chiếm 10,97%  thấp nhất là ngành Dinophyta 02 loài chiếm 0,84%, CharophytaChrysophyta với 01 loài được phát hiện, chiếm 0,42%. Kết quả phân tích này cao hơn so với nghiên cứu ở sông Bạch Đằng 116 loài (Nguyễn Thùy Liên và Phạm Thị Nguyệt, 2011), vùng ven biển Sóc Trăng-Bạc Liêu với 232 loài (Mai Viết Văn và cs, 2012) và số loài PSTV phát hiện được ở khu vực BCL Đa Phước cũng cao hơn so với số loài PSTV ở sông Thị Vải với 98 loài (Đào Thanh Sơn và Hồ Thị Ngọc Hà, 2015).

 

 Hình 2. Thành phần loài PSTV ở khu vực BCL Đa Phước

 

     Đợt thu mẫu thứ 1 đã ghi nhận được 206 loài (Hình 2) thuộc 7 ngành, lớp. Trong đó ngành tảo lụcChlorophyta chiếm ưu thế với 78 loài, kế đến là ngành tảo silic Bacillariophyta với 70 loài, tảo lam Cyanobacteria 29 loài, tảo mắt Euglenohyta 24 loài, chiếm thấp nhất là ngành tảo giáp Dinophyta3 loài, CharophytaChrysophytavới 1 loài phát hiện. Trong khi đó vào đợt thu mẫu thứ 2 chỉ ghi nhận được 180 loài (Hình 2) trong đó có đến 73 loài tảo silic, 53 loài tảo lục, 32 loài tảo lam, 20 loài tảo mắt và 1 là số loài phát hiện được của ngành tảo ánh kim và tảo giáp.Nhìn chung, thành phần loài PSTV phát hiện được ở haiđợt không có sự khác biệt lớn, tuy nhiên ở cả hai đợt ngành tảo silic và tảo lục có số loài chiếm ưu thế. Có sự chuyển biến trong cấu trúc quần xã PSTV từ đợt 1 sang đợt 2, cụ thể là ngành tảo silic và tảo lam vào mùa mưa đa dạng hơn so với màu khô, tăng từ 29 lên 32 đối với khuẩn lam và từ 70 lên 73 đối với tảo silic, nhưng đối với ngành tảo lục và tảo mắt lại có sự suy giảm về thành phần loài, vào mùa khô số lượng loài tảo lục và tảo mắt lần lượt là 78 và 25 loài, nhưng khi đến mùa mưa thành phần loài tảo lục và tảo mắt lại giảm xuống còn 53 và 20 loài. Sự gia tăng về số loài của tảo lam cũng là vấn đề đáng lo ngại, vì chúng là những loài chỉ thị cho môi trường có nồng độ dinh dưỡng cao.Bên cạnh sự hiện diện của các loài PSTV nước ngọt còn có sự hiện diện của một số loài có nguồn gốc nước lợ, mặn như Coscinodiscus spp., Chaetoceros spp., Sketonema spp… Điều này đã cho thấy ảnh hưởng của sự xâm nhập nước mặn vào khu vực khảo sát.

3.2. MẬT ĐỘ TẾ BÀO VÀ LOÀI ƯU THẾ

  1. Mật độ tế bào PSTV

     Mật độ PSTV ở hai mùa được trình bài (Hình 3), vào đơt 1 mật độ PSTV dao động từ 127.460-3.768.900 tế bào/lít, cao nhất tại vị trí D2 với sự chiếm ưu thế của các loài sống tập đoàn thuộc nhóm tảo lam và thấp nhất tại vị trí D3. Trong khi đó mật độ PSTV vào đợt 2 lại dao động từ 207.960-202.7040 cá thể/lít và cao nhất tại D13 và thấp nhất tại D12. Qua thời gian, đã có sự thay đổi mật độ cá thể trong các nhóm ngành, cụ thể là mật độ tảo lam và tảo mắt có sự gia tăng về mật độ vào đợt 2 đây là những loài chiếm ưu thế trong các môi trường giàu dinh dưỡng.Trong khi tảo silic và tảo lục lại có sự giảm sút về mật độ. Điều này cho thấy có sự chuyển biến xấu về chất lượng nước từ đợt khảo sát 1 đến đợt khảo sát 2.

 

Hình 3. Mật độ PSTV ở BCL Đa Phước

 

  1. Loài ưu thế

    Vào đợt 1hầu hết các loài ưu thế tại các vị trí khảo sát đều có nguồn gốc nước ngọt (Bảng 2), sự phát triển mạnh mẽ của các loài ưu thế tại các vị trí khảo sát có 8/17 điểm là thuộc nhóm tảo lam, chỉ thị cho môi trường ô nhiễm hữu cơ, 8/17 điểm có loài ưu thế thuộc nhóm tảo silic với hai loài là Cyclotella comtaAulacoseira granulatechỉ thị cho môi trường bị ô nhiễm hữu cơ ở mức trung bình (Onyema 2013) và tại điểm D1 có loài ưu thế là Actinastrum aciculare thuộc nhóm tảo lục.

    Trong khi đó vào đợt 2 tại các vị trí thu mẫu, các loài PSTV chiếm ưu thế đều thuộc nhóm ngành tảo lam (Bảng 2), cụ thể là có 8/17 điểm khảo sát có loài ưu thế thuộc chi Oscillatoria, 2/17 điểm có loài ưu thế làPhormidium chalybeum, và có 6/17 điểm có loài ưu thế là Spirulina platensis riêng điểm D7 có loài ưu thế riêng là Microcystis wesenbergii. Việc các loài ưu thế tại các điểm khảo sát đều thuộc nhóm tảo lam cho thấy, chất lượng môi trường nước ở các điểm khảo sát vào đợt 2 kém hơn so với đợt 1và cần chú ý theo dõi vì những loài thuộc nhóm tảo lam rất dễ phát triển mạnh tạo nên hiện tượng nước nở hoa và có thể sinh ra độc tố ảnh hưởng xấu đến chất lượng môi trường nước và đời sống dân sinh.

 

Bảng 2. Loài ưu thế tại các vị trí thu mẫu BCL Đa Phước

Vị trí thu mẫu

Loài ưu thế

Đợt 1

Đợt 2

D1

Actinastrum aciculare

Phormidium chalybeum Gom.

D2

Oscillatoria lemmermannii

Phormidium chalybeum Gom.

D3

Oscillatoria sp.

Oscillatoria lemmermannii

D4

Cyclotella comta

Spirulina platensis

D5

Cyclotella comta

Oscillatoria tenuis

D6

Aphanothece stagnina

Oscillatoria lemmermannii

D7

Cyclotella comta

Microcystis wesenbergii

D8

Cyclotella comta

Oscillatoria tenuis

D9

Cyclotella comta

Spirulina platensis

D10

Cyclotella comta

Oscillatoria tenuis

D11

Phormidium chalybeum

Oscillatoria tenuis

D12

Aulacoseira granulata

Spirulina platensis

D13

Oscillatoria brevis

Spirulina platensis

D14

Phormidium autumnale

Spirulina platensis

D15

Microcystis aeruginosa

Spirulina platensis

D16

Aulacoseira granulata

Aulacoseira granulata

D17

Spirulina platensis

Oscillatoria tenuis

 

 

3.3. CÁC CHỈ SỐ SINH HỌC

     Chỉ số Shannon–Weiner (H’) vào đợt 1 và đợt 2 khảo sát được tại các điểm thu mẫu ở khu vực BCL Đa Phước được trình bài ở hình 5. Kết quả phân tích đã cho thấy, chỉ số H’ vào đợt 1 dao động từ 2,25-3,52, thấp nhất tại điểm D11 và cao nhất tại điểm D6, nhưng khi đến đợt 2 chỉ số H’ giảm hơn so với đợt 1, dao động từ 1,70-3,09, thấp nhất tại D8 và D17 và cao nhất tại D6. Điều này đã cho thấy đợt 1 có mức độ đa dạng sinh học cao hơn so với đợt 2 và kết quả cũng cho thấy, chất lượng môi trường nước tại các vị trí khảo sát vào đợt 2 kém hơn so với đợt 1. Đặc biệt là vào đợt 2 có 3 điểm là D8, D15, D17 có giá trị 1<H’<2 đây là 3 điểm có chất lượng môi trường kém nhất so với các điểm còn lại và theo thang điểm phân loại chất lượng nước thì 3 điểm này đã bị ô nhiễm hữu cơ ở mức trung bình. Trong khi đó, điểm D6 là điểm luôn có giá trị H’cao nhất cả hai đợt, điều này cho thấy tại điểm D6 chất lượng môi trường nước ổn định nhất và tốt nhất.

 

Hình 4. Chỉ số đa dạng H’ của quần xã PSTV tại các khu vực BCL Đa Phước

 

    Chỉ số ưu thế D được thể hiện ở hình 6 phản ánh mức độ phát triển của nhóm ngành ưu thế, thông qua đó ta có thể thấy được cấu trúc quần xã đó có ổn định hay không và sự phát triển của nhóm ngành ưu thế là mạnh như thế nào. Vào đợt 1 chỉ số ưu thế dao động từ 0,09-0,49; cao nhất tại D10 và thấp nhất tại D8. Chỉ số ưu thế vào đợt 2 dao động từ 0,21-0,49. Kết quả này cho thấy cấu trúc quần xã PSTV ở khu vực này tương đối ổn định.

 

Hình 5. Chỉ số ưu thế D của quần xã PSTV tại các khu vực BCL Đa Phước

 

4. KẾT LUẬN

    Kết quả phân tích các chỉ số hóa lý có thể xếp chất lượng nước mặt tại các điểm lấy mẫu BCL Đa Phước được xếp vào loại B2 dùng cho mục đích giao thông thủy và các mục đích khác với yêu cầu nước chất lượng thấp. Số loài PSTVđã phát hiện được tại khu vực BCL Đa Phước là 237 loài thuộc 7 ngành, lớp. Trong đó, hai ngành BacillariophytaChlorophyta chiếm ưu thế cả hai đợt. Hầu hết các loài phát hiện được ở khu vực khảo sát có nguồn gốc nước ngọt, tuy nhiên vẫn có sự xuất hiện của một số loài có nguồn gốc nước lợ, mặn, điều này cho thấy, môi trường nước khu vực này có hiện tượng xâm nhập mặn. Kết quả phân tích các chỉ số sinh học của quần xã PSTV đã cho thấy cấu trúc quần xã PSTV vàođợt 1 đa dạng hơn đợt 2. Chất lượng môi trường nước ở đợt 2 kém hơn so với đợt 1 và có sự chiếm ưu thế của các loài thuộc nhóm ngành tảo lam, cần chú ý theo dõi, tuy nhiên cấu trúc quần xã PSTV ở các điểm khảo sát tương đối ổn định. Nhìn chung thông qua các chỉ số sinh học cho thấy chất lượng môi trường nước ở các điểm khảo sát đều nằm ở mức ô nhiễm nhẹ đến sạch ngoại trừ điểm D8, D15, D17 vào đợt 2 ô nhiễm ở mức trung bình.

 

Nguyễn Thị Thanh Phượng, Lê Thị Trang, Lê Huỳnh Bảo Quyên

Viện Môi trường và Tài nguyên, ĐHQG-HCM

(Bài đăng trên Tạp chí Môi trường, số Chuyên đề Tiếng Việt 1 năm 2019)

LỜI CẢM ƠN

Nghiên cứu được tài trợ bởi Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh trong khuôn khổ Đề tài mã số C2017-24-05/HĐ-KHCN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Đào Thanh Sơn, Hồ Thị Ngọc Hà (2015), Đánh giá chất lượng nước mặt sông Thị Vải trên cơ sở thực vật phù du, Khoa học và ứng dụng 21:68-71.

  2. Dương Đức Tiến, Võ Hành (1997), Tảo nước ngọt Việt Nam, phân loại bộ tảo lục (Chlorococales), NXB Nông nghiệp, Hà Nội.

  3. Hicham Khattabi, Lotfi Aleya, Jacky Mania (2005), Patio-Temporal distribution and characterization of phytoplankton populations coupled with abiotic and biotic changes in landfill leachate treatment basins(Etuffont, Belfort, France),Water, Air, and Soil Pollution 174:107-125.

  4. Mai Viết Văn, Trần Đắc Định, Nguyễn Anh Tuân (2012), Thành phần loài và mật độ sinh vật phù du phân bố ở vùng ven biển Sóc Trăng - Bạc Liêu,Tạp chí Khoa học 23a:89-99.

  5. Nguyễn Thùy Liên, Phạm Thị Nguyệt (2011), Biến động thành phần loài vi tảo phù du trên sông Bạch Đằng, đoạn chảy qua huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng, giai đoạn 2006-2010, Tạp chí Khoa học Đại hoc quốc gia Hà Nội, Khoa học Tự nhiên và Công nghệ 27:233-238.

  6. Nguyễn Văn Tuyên (2003), Đa dạng sinh học tảo trong thủy vực nội địa Việt Nam triển vọng và thử thách, NXB Nông nghiệp, TP. Hồ Chí Minh.

  7.  Phạm Thanh Lưu, Trần Thị Ngọc Dung, Trần Thành Thái, Nguyễn Thị Mỹ Yến, Ngô Xuân Quãng (2017), Khu hệ thực vật phù du trong mối quan hệ với các thông số môi trường ở sông Ba Lai, Bến Tre, Tạp chí Khoa học nông nghiệp Việt Nam 15(5): 631-641.

  8. Trương Ngọc An (1993), Phân loại tảo silic phù du biẻ̂n Việt Nam, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.

  9. Onyema, I. C. (2013), Phytoplankton Bio-indicators of Water Quality Situations in the Iyagbe Lagoon, South-Western Nigeria, Research Journal of Pharmaceutical, Biological and Chemical Sciences 4(3):639-652.

  10. Shirota A.(1968), The plankton of South Vietnam - Fresh water and marine plankton, Overseas Technical Cooperation Agency Japan.

  11. Thakur. R. K, Jindal. R, Uday Bhan Singh, Ahluwalia. A. S. (2013), Plankton diversity and water quality assessment of three freshwater lake of Mandi (Himachal Pradesh, India with special reference to planktonic indicators, Environ Monit Assess.185(10): 8355-8373.

Thống kê

Lượt truy cập: 2815413