--%>

TÓM TẮT 

    Ba xã đảo ven bờ Việt Hải (Hải Phòng), Nhơn Châu (Bình Định) và Nam Du (Kiên Giang) có những đặc điểm riêng biệt về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và đặc điểm kinh tế xã hội đại diện cho ba vùng miền của Việt Nam. Điểm chung của ba xã đảo là có vị trí an ninh quốc phòng quan trọng, điều kiện tự nhiên tương đối hoang sơ, kinh tế chưa phát triển và đang bị ảnh hưởng bởi các thách thức do ô nhiễm môi trường (ÔNMT), trong đó có ô nhiễm kim loại nặng. Nhìn chung, chất lượng môi trường nước biển tại ba xã đảo có chất lượng khá tốt. Hàm lượng các kim loại nặng (Cu, Pb, và Zn) trong mẫu nước biển đều nằm trong giới hạn cho phép của Quy chuẩn Việt Nam. Giá trị trung bình hàm lượng Cu và Zn trong nước biển xã Nam Du cao nhất trong ba khu vực nghiên cứu. Trong khi đó, giá trị trung bình hàm lượng Pb trong nước biển cao nhất ghi nhận tại xã Nhơn Châu. Tại cả ba khu vực nghiên cứu, hàm lượng kim loại nặng (Cu, Pb và Zn) trong mẫu nước tầng đáy thường cao hơn so với nước tầng mặt. Tài liệu, tư liệu trong bài báo này có xuất xứ từ kết quả đề tài khoa học công nghệ cấp Nhà nước KC.08.09/16-20: “Nghiên cứu xây dựng mô hình kinh tế xanh (KTX) cho một số xã đảo tiêu biểu ven bờ Việt Nam” do TS. Lê Xuân Sinh (Viện Tài nguyên và Môi trường biển) làm chủ nhiệm.

Từ khóa: Kim loại nặng, đồng, chì, kẽm, xã đảo ven bờ, Việt Nam.

I. Mở đầu

    Chuyển đổi phương thức phát triển, hướng tới xây dựng nền “KTX” đang là hướng tiếp cận mới tại Việt Nam, nhưng phù hợp với xu thế chung của hệ thống kinh tế toàn cầu. Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) đã định nghĩa nền "KTX” là: “Nền kinh tế nâng cao đời sống con người và cải thiện công bằng xã hội, đồng thời giảm thiểu đáng kể những rủi ro môi trường và những thiếu hụt sinh thái” [8].

   Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) của Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2020 đã khẳng định “tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Phát triển kinh tế, xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu” [7].

    Phát triển KTX tại các xã đảo ven bờ và xa bờ đặc biệt quan trọng vì sự có mặt của cộng đồng cư dân trên các đảo có ý nghĩa lớn đối với phát triển KT-XH biển đảo, góp phần đảm bảo an ninh, khẳng định và giữ vững chủ quyền quốc gia trên các vùng biển đảo của đất nước. Từ những năm 2000 trở lại đây, có nhiều nghiên cứu để định hướng phát triển mô hình KTX tại các đảo gần bờ và xa bờ đã được nghiên cứu, định hướng phát triển phù hợp. Phát triển mô hình KTX phải đảm bảo cân bằng mối quan hệ xã hội - kinh tế - môi trường, đây là mô hình phù hợp với sự phát triển bền vững [3].

    Trong khuôn khổ đề tài KC.08.09/16-20, ba khu vực được lựa chọn nghiên cứu xây dựng mô hình KTX đại diện cho ba miền (Bắc, Trung và Nam) là: xã Việt Hải (Hải Phòng), xã Nhơn Châu (Bình Định) và xã Nam Du (Kiên Giang). Ba xã đảo được lựa chọn có những đặc điểm riêng biệt về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên là cơ sở để phát triển các ngành nghề kinh tế khác nhau. Cụ thể, xã Việt Hải thuộc vùng lõi Vườn quốc gia Cát Bà, nằm trên đảo Cát Bà (đảo Cát Bà bao gồm 8 xã đảo), với 80 hộ dân và 300 người có nhiều tiềm năng để phát triển mô hình du lịch sinh thái cộng đồng. Xã Nhơn Châu nằm trên một hòn đảo duy nhất (Cù lao Xanh), thuộc thành phố Quy Nhơn, với dân số có khoảng 499 hộ và 2.200 người, có vị trí quan trọng về quốc phòng và an ninh của tỉnh Bình Định. Trong khi đó, xã Nam Du (nằm trong quần đảo Nam Du) bao gồm 10 hòn đảo lớn, nhỏ, với dân số khoảng 3.611 người, có nhiều điều kiện tự nhiên - xã hội để phát triển khai thác và nuôi trồng hải sản kết hợp với du lịch sinh thái.

   Tuy nhiên, ba xã đảo còn hội tụ những đặc điểm chung như đều có điều kiện tự nhiên và KT-XH còn hoang sơ, chưa có mô hình KTX phù hợp. Ngoài ra, các xã đảo này còn đang bị ảnh hưởng bởi các thách thức liên quan đến ÔNMT, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Trong đó, ÔNMT đặc biệt là nguy cơ ô nhiễm kim loại nặng trong nước biển là một thách thức to lớn đối với cả ba khu vực nghiên cứu trên con đường xây dựng mô hình KTX vì khả năng tồn lưu lâu dài trong các hợp phần môi trường và khả năng tích lũy tăng dần theo chuỗi thức ăn sẽ gây ảnh hưởng xấu đến đời sống và sức khỏe con người. Nguy cơ tăng cao theo thời gian là do sự gia tăng dân số và nhu cầu phát triển kinh tế kéo theo sự phát sinh lớn các chất thải có chứa kim loại nặng ra môi trường biển tại ba xã đảo.

    Kim loại nặng là khái niệm chỉ những kim loại có nguyên tử lượng cao và thường có độc tính cao đối với sự sống của con người và sinh vật. Kim loại nặng hiện diện trong tự nhiên ở môi trường đất và nước, nhưng hàm lượng của chúng thường tăng cao do các tác động của con người. Nguồn kim loại nặng đi vào môi trường đất và nước do các hoạt động nhân sinh như: bón phân, thuốc bảo vệ thực vật, khai khoáng, sản xuất công nghiệp, giao thông, nuôi trồng thủy hải sản… [1]

   Có nhiều thông số kim loại nặng được chúng tôi nghiên cứu tại ba xã đảo theo quy chuẩn của nước biển ven bờ như: Cu, Zn, Cd, As… Tuy nhiên, trong khuôn khổ của bài báo này, chúng tôi tập trung nghiên cứu ba thông số Cu, Pb và Zn do nguy cơ phát thải ra môi trường với hàm lượng cao tại cả ba khu vực nghiên cứu từ các hoạt động nhân sinh.

    Đồng (Cu) là kim loại màu quan trọng đối với công nghiệp và kĩ thuật, được sử dụng phổ biến trong sản xuất dây dẫn điện và hợp kim. Ngoài ra, do có khả năng dẫn nhiệt tốt và chịu ăn mòn, Cu còn được dùng chế tạo các thiết bị trao đổi nhiệt, sinh hàn và chân không, chế tạo nồi hơi, ống dẫn dầu và dẫn nhiên liệu. Một số hợp chất của đồng được sử dụng làm chất màu trang trí mỹ thuật, chất liệu trừ nấm mốc và cả thuốc trừ sâu trong nông nghiệp. Đồng là nguyên tố vi lượng cần thiết trong cơ thể người, có nhiều vai trò sinh lí như: tham gia vào quá trình tạo hồng cầu, bạch cầu và là thành phần của nhiều enzym. Tuy nhiên, khi tích tụ đồng với hàm lượng cao trong cơ thể người có thể gây ra một số bệnh liên quan đến gan, thận, não…[1]

    Trong khi đó, nguồn phát sinh chì (Pb) ra môi trường phần lớn từ công nghiệp luyện kim, sản xuất pin, acquy, các vật liệu đánh bắt hải sản… Chì và các hợp chất của chì được xếp vào nhóm độc tố đối với cơ thể con người [1]. Chì có thể xâm nhập vào cơ thể con người qua các quá trình trao đổi chất như: uống (nước uống), hít thở (không khí), tiêu hóa (ăn các loài động thực vật). Đối với sức khỏe con người, nhiễm độc chì sẽ gây ra các bệnh về tai, máu, gan, xương... Trẻ em thường bị ảnh hưởng nghiêm trọng hơn bởi tác nhân chì, đặc biệt là trẻ dưới 6 tuổi vì hệ thần kinh còn non yếu và khả năng thải độc chất của cơ thể phát triển chưa hoàn thiện [1].

    Zn có tính bền vững cao nên sẽ tồn tại rất lâu trong môi trường. Zn xâm nhập vào các hệ sinh thái môi trường thông qua các hoạt động công nghiệp khai khoáng, công nghiệp sợi tổng hợp, sản xuất và sử dụng thuốc diệt nấm...[1] Đối với con người và một số sinh vật, Zn là một vi chất có lợi, tham gia vào thành phần cấu trúc tế bào, giúp tăng cường điều hòa và trao đổi chất trong cơ thể. Tuy nhiên khi tiếp xúc với Zn tại một nồng độ lớn, con người sẽ bị một số các triệu chứng như nôn mửa, mất nước, hôn mê, tổn thương tuyến tụy, và suy thận.

II. Phạm vi và phương pháp nghiên cứu

2.1. Phạm vi nghiên cứu

    Phạm vi nghiên cứu: 3 đợt khảo sát chất lượng nước được tiến hành tại 3 xã đảo trong thời gian hai năm: xã Việt Hải (năm 2017), xã Nhơn Châu và xã Nam Du (năm 2018). Tại mỗi xã đảo, các cán bộ khoa học tại Viện Tài nguyên và Môi trường biển, VAST tiến hành thu mẫu tại 15 trạm (tổng là 5 mặt cắt, 3 trạm/1 mặt cắt) đại diện cho toàn bộ môi trường nước biển của các xã đảo, tại mỗi trạm khảo sát tiến hành thu mẫu nước tầng mặt và tầng đáy. Các trạm được bố trí cách bờ tối đa là 5km.

    Vị trí các trạm thu mẫu được trình bày trong các hình 1, 2, 3.

 

Hình 1. Vị trí các trạm khảo sát xung quanh xã đảo Việt Hải (Hải Phòng) năm 2017

 

Hình 2. Vị trí các trạm khảo sát xung quanh xã đảo Nhơn Châu (Bình Định) năm 2018

 

Hình 3. Vị trí các trạm khảo sát xung quanh xã đảo Nam Du (Kiên Giang) năm 2018

 

2.2. Phương pháp nghiên cứu

    Một hệ phương pháp nghiên cứu về đánh giá chất lượng môi trường đã được sử dụng, bao gồm các phương pháp truyền thống như: Kỹ thuật lấy mẫu, bảo quản và xử lý mẫu được thực hiện theo tiêu chuẩn Việt Nam 5998-1995 (ISO 5667-9: L992) [4]. Tiến hành thu mẫu nước bằng thiết bị lấy mẫu nước biển chuyên dụng dạng Niskin (5 lít). Các mẫu nước được thu tại tầng mặt và tầng đáy đối với các trạm có độ sâu >5m. Mẫu nước tầng mặt được thu cách mặt nước 1m, mẫu nước tầng đáy được thu cách đáy 1m.

    Các phương pháp phân tích kim loại nặng bằng máy hấp phụ nguyên tử AAS-6601 theo TCVN 6193:1996 và ISO 8288:1986 [5].

    Ngoài ra, nhóm tác giả cũng sử dụng phương pháp xử lý số liệu theo thông từ về Hướng dẫn đảm bảo chất lượng, kiểm soát chất lượng trong quan trắc và phân tích môi trường để loại bỏ các sai số, các kết quả bất thường [6].

III. Kết quả nghiên cứu

3.1. Hàm lượng kim loại Cu trong nước biển 3 xã đảo ven bờ

a. Xã Việt Hải

 

Hình 4. Hàm lượng Cu trong nước biển tại các trạm khảo sát xã Việt Hải

 

    Theo hình 4, kết quả hàm lượng Cu trong nước biển khu vực xã Việt Hải không đồng đều giữa các trạm khảo sát, thường cao tại mặt cắt II, III, IV và thấp tại mặt cắt I và V. Giá trị hàm lượng Cu cao nhất được phát hiện tại mẫu nước tầng mặt của trạm MCI-3 (đạt 91,54µg/l). Trong khi đó, không phát hiện Cu trong mẫu nước tầng đáy tại trạm MCI-2. Đối chiếu với giá trị thấp nhất của QCVN 10-MT: 2015/BTNMT cột 1 (Vùng nuôi trồng thủy sản, bảo tồn thủy sinh) (200µg/l) [2] thì hàm lượng Cu trong môi trường nước biển tại các trạm khảo sát xã Việt Hải đều thấp hơn GHCP, chưa có dấu hiệu ô nhiễm Cu.

b. Xã Nhơn Châu

    Kết quả hàm lượng Cu trong nước biển khu vực xã Nhơn Châu tương đối đồng đều giữa các trạm khảo sát, dao động trong khoảng từ 54,81 - 70,32µg/l, trung bình đạt 64,26µg/l. Cụ thể, giá trị hàm lượng Cu cao nhất được phát hiện tại mẫu nước tầng đáy của trạm MCI-1 - khu vực bãi tắm của xã đảo Nhơn Châu, thu hút đông đảo khách du lịch nên lưu giữ nhiều loại chất thải rắn khác nhau, trong đó có các loại chất thải chứa kim loại. Trong khi đó, giá trị hàm lượng Cu thấp nhất được tìm thấy trong mẫu nước tầng đáy tại trạm MCIV-2. Về sự phân bố thẳng đứng của thông số Cu trong cột nước, các dẫn liệu từ hình 5 cho thấy hàm lượng Cu tập trung nhiều hơn ở tầng đáy (10/15 trạm) so với tầng mặt (5/15 trạm) (hình 5).

 

Hình 5. Hàm lượng Cu trong nước biển tại các trạm khảo sát xã Nhơn Châu

 

    Qua hình 5, Đối chiếu với QCVN 10-MT: 2015/BTNMT cột 1 (Vùng nuôi trồng thủy sản, bảo tồn thủy sinh) (200µg/l) [2] thì hàm lượng Cu trong môi trường nước biển tại các trạm khảo sát xã Việt Hải đều thấp hơn GHCP, chưa có dấu hiệu ô nhiễm Cu.

c. Xã Nam Du

 

Hình 6. Hàm lượng Cu trong nước biển tại các trạm khảo sát xã Nam Du

 

   Qua hình 6, kết quả hàm lượng Cu trong nước biển khu vực xã Nam Du khá đồng đều giữa các trạm khảo sát, dao động trong khoảng từ 59 - 78,39µg/l, trung bình đạt 69,06µg/l cao hơn giá trị trung bình tại xã Việt Hải (60,80µg/l) và xã Nhơn Châu (64,24µg/l). Nguyên nhân giá trị trung bình hàm lượng kim loại Cu trong nước biển tại Nam Du cao nhất là do dân số tại Nam Du là đông nhất trong ba xã đảo. Ngoài ra, các hoạt động kinh tế tại Nam Du cũng đa dạng nhất nên kéo theo nhiều nguy cơ phát sinh nhiều chất thải chứa kim loại Cu. Trong số đó, nổi bật là các hoạt động khai thác, nuôi trồng hải sản và hoạt động du lịch sôi động tại hòn Bờ Đập, hòn Mấu.

    Giá trị hàm lượng Cu thấp nhất được phát hiện tại mẫu nước tầng đáy của trạm MCIV-1. Trong khi đó, giá trị hàm lượng Cu cao nhất được tìm thấy trong mẫu nước tầng đáy tại trạm MCIII-1. Về sự phân bố thẳng đứng của thông số Cu trong cột nước, các dẫn liệu từ hình 6 cho thấy hàm lượng Cu tập trung nhiều hơn ở tầng đáy (9/15 trạm) so với tầng mặt (6/15 trạm).

    Đối chiếu với QCVN 10-MT: 2015/BTNMT cột 1 (vùng nuôi trồng thủy sản, bảo tồn thủy sinh) (200µg/l) [2] thì hàm lượng Cu trong môi trường nước biển tại tất cả các trạm khảo sát xã Việt Hải đều thấp hơn GHCP, nên nước biển vẫn an toàn đối với nguyên tố Cu.

3.2. Hàm lượng kim loại Pb trong nước biển 3 xã đảo ven bờ

  1. Xã Việt Hải

 

Hình 7. Hàm lượng Pb trong nước biển tại các trạm khảo sát xã Việt Hải

 

   Từ hình 7, Pb được phát hiện trong nước biển khu vực xã Việt Hải tại 10/15 trạm (ngoại trừ 5 trạm: MCI-2, MCIII-1, MCIV-1, MCIV-3, MCV-2). Giá trị hàm lượng Pb cao nhất được phát hiện tại trạm MCI-1 (nước tầng đáy đạt: 3,29µg/l) thấp hơn GHCP quy định trong QCVN 10-MT: 2015/BTNMT cột 1 (Vùng nuôi trồng thủy sản, bảo tồn thủy sinh) (50µg/l) khoảng 15 lần, cho thấy chưa có dấu hiệu ô nhiễm Pb [2]. Giá trị hàm lượng Pb trung bình trong nước biển toàn xã Việt Hải (10 trạm) đạt 0,89µg/l.

    So sánh giá trị hàm lượng Cu giữa hai tầng nước, từ hình 7 cho thấy hàm lượng Pb tập trung nhiều hơn ở tầng đáy (9/10 trạm) so với tầng mặt. Riêng tại trạm MCII-1, hàm lượng Pb trong nước biển tầng mặt bằng tầng đáy (là 0,25µg/l).

b. Xã Nhơn Châu

   Kết quả hàm lượng Pb trong nước biển khu vực xã Nhơn Châu không đồng đều giữa các trạm khảo sát, từ không phát hiện đến giá trị lớn nhất đạt 4,89µg/l, trung bình đạt 2,12µg/l - cao nhất trong 3 khu vực nghiên cứu (hình 8). Giá trị hàm lượng Pb cao nhất được phát hiện tại mẫu nước tầng mặt trạm MCI-1 (4,89µg/l) thấp hơn GHCP quy định trong QCVN 10-MT: 2015/BTNMT cột 1 (vùng nuôi trồng thủy sản, bảo tồn thủy sinh) (50µg/l) hơn 10 lần, cho thấy môi trường nước biển tại đây vẫn an toàn đối với Pb [2].

 

Hình 8. Hàm lượng Pb trong nước biển tại các trạm khảo sát xã Nhơn Châu

 

     So sánh giá trị hàm lượng Pb giữa hai tầng nước, từ hình 8 cho thấy hàm lượng Pb tập trung nhiều hơn ở tầng đáy (12/15 trạm) so với tầng mặt. Riêng tại trạm MCV-2, không phát hiện được hàm lượng Pb trong nước biển cả trong tầng mặt và tầng đáy. Thực tế, trạm MCV-2 gần hòn Dầu, có môi trường nước trong sạch, ít tàu thuyền qua lại và ít nguồn phát sinh chất thải chứa kim loại nặng.

b. Xã Nam Du

 

Hình 9. Hàm lượng Pb trong nước biển tại các trạm khảo sát xã Nam Du

 

    Từ hình 9, Pb được phát hiện trong nước biển khu vực xã Nam Du tại 14/15 trạm (ngoại trừ trạm: MCI-2). Giá trị hàm lượng Pb cao nhất được phát hiện tại trạm MCII-2 (nước tầng đáy đạt: 11,91µg/l) thấp hơn GHCP quy định trong QCVN 10-MT: 2015/BTNMT cột 1 (Vùng nuôi trồng thủy sản, bảo tồn thủy sinh) (50µg/l) hơn 4 lần, cho thấy chưa có dấu hiệu ô nhiễm đối với Pb [2]. Giá trị hàm lượng Pb trung bình trong nước biển toàn xã Nam Du đạt 1,76µg/l.

   So sánh giá trị hàm lượng Cu giữa hai tầng nước, từ hình 9 cho thấy hàm lượng Pb tập trung nhiều hơn ở tầng đáy (9/14 trạm) so với tầng mặt.

3.3. Hàm lượng kim loại Zn trong nước biển 3 xã đảo ven bờ

a. Xã Việt Hải

 

Hình 10. Hàm lượng Zn trong nước biển tại các trạm khảo sát xã Việt Hải

 

   Qua hình 10, kết quả hàm lượng Zn trong nước biển khu vực xã Việt Hải không đồng đều giữa các trạm khảo sát. Có 4/15 trạm không phát hiện được Zn trong nước biển (cả tầng mặt và tầng đáy) bao gồm: MCI-2, MCII-3, MCIII-3, MCIV-3. Hàm lượng Zn phát hiện được biến thiên trong khoảng từ 8,04 đến 28,87µg/l, trung bình đạt 9,94µg/l.

    Giá trị hàm lượng Zn cao nhất được tìm thấy trong mẫu nước tầng đáy tại trạm MCI-1 (28,87µg/l) thấp hơn GHCP quy định trong QCVN 10-MT: 2015/BTNMT cột 1 (Vùng nuôi trồng thủy sản, bảo tồn thủy sinh) (500µg/l) hơn 17 lần, do đó chưa có dấu hiệu ô nhiễm đối với kim loại Zn [2].

    Về sự phân bố thẳng đứng của thông số Zn trong cột nước, từ hình 10 cho thấy hàm lượng Zn tập trung nhiều hơn ở tầng đáy (8/12 trạm phát hiện Zn trong cả 2 tầng nước).

b. Xã Nhơn Châu

    Kết quả hàm lượng Zn trong nước biển khu vực xã Nhơn Châu không đồng đều giữa các mặt cắt và giữa các trạm khảo sát (hình 11). Giá trị hàm lượng Zn cao nhất được phát hiện tại mẫu nước tầng đáy của trạm MCV-1 (đạt 61,07µg/l). Trong khi đó, giá trị hàm lượng Zn nhỏ nhất được phân tích trong mẫu nước tầng mặt tại vị trí MCII-1 (18,51µg/l). Đối chiếu với QCVN 10-MT: 2015/BTNMT cột 1 (vùng nuôi trồng thủy sản, bảo tồn thủy sinh) (500µg/l) thì hàm lượng Zn trong môi trường nước biển tại tất cả các trạm khảo sát xã Nhơn Châu đều thấp hơn GHCP nhiều lần, nên chưa có dấu hiệu ô nhiễm Zn) [2].

   Về sự phân bố thẳng đứng của thông số Zn trong cột nước tại khu vực xã Nhơn Châu, từ hình 11 cho thấy hàm lượng Zn tập trung nhiều hơn ở tầng đáy (12/15 trạm khảo sát) so với tầng mặt.

 

Hình 11. Hàm lượng Zn trong nước biển tại các trạm khảo sát xã Nhơn Châu

c. Xã Nam Du

 

Hình 12. Hàm lượng Zn trong nước biển tại các trạm khảo sát xã Nam Du

 

    Từ hình 12, hàm lượng Zn trong nước biển tại xã Nam Du có sự khác nhau giữa các trạm trong mỗi mặt cắt và giữa các mặt cắt với nhau. Giá trị hàm lượng Zn biến thiên trong khoảng từ 23,53µg/l (MCII-1 – tầng mặt) đến 63,09 (MCIV-2 – tầng đáy), trung bình đạt 44,97µg/l. Giá trị hàm lượng Zn phát hiện cao nhất vẫn thấp hơn GHCP (500µg/l) gần 8 lần, cho thấy môi trường nước biển tại xã Nam Du vẫn an toàn với thông số Zn [2].

    So sánh giá trị hàm lượng Zn giữa hai tầng nước, từ hình 12 cho thấy, đa số các trạm khảo sát (12/15) có hàm lượng Zn trong nước tầng đáy cao hơn so với tầng mặt.

IV. Kết luận

    Hàm lượng kim loại nặng (Cu, Pb và Zn) trong môi trường nước biển không đều giữa các trạm quan trắc và giữa ba khu vực nghiên cứu: xã Việt Hải, xã Nhơn Châu và xã Nam Du. Hàm lượng trung bình kim loại Cu trong mẫu nước biển tăng dần theo thứ tự không gian: xã Việt Hải (60,80µg/l) < xã Nhơn Châu (64,26µg/l) < xã Nam Du (69,06µg/l). Thứ tự tương tự đối với kim loại Zn: xã Việt Hải (9,94µg/l) < xã Nhơn Châu (40,06µg/l) < xã Nam Du (44,97µg/l). Đối với nguyên tố Pb, hàm lượng trung bình trong nước biển tăng dần theo thứ tự sau: xã Việt Hải (0,89µg/l) < xã Nam Du (1,76µg/l) < xã Nhơn Châu (2,12µg/l).

    Nhìn chung, chất lượng nước biển (xét với ba thông số kim loại nặng Cu, Pb và Zn) xung quanh ba xã đảo tương đối tốt, thuận lợi cho mục đích nuôi trồng thủy sản và bảo tồn đời sống thủy sinh vật.

    Các hoạt động KT-XH hiện nay tại ba xã đảo chưa ảnh hưởng nhiều đến chất lượng nước khu vực khảo sát. Tuy nhiên, để duy trì và phát triển bền vững môi trường ba xã đảo, nhằm hoàn thành mục tiêu xây dựng mô hình KTX tại đây, cần có thêm những đánh giá toàn diện hơn nữa về các tác nhân gây ô nhiễm nước biển khác nhau như: dầu mỡ, xyanua, hóa chất bảo vệ thực vật… Đối với các tác nhân kim loại nặng, cần theo dõi và đánh giá thường xuyên tại vùng biển ba xã đảo, tập trung các khu vực đông dân cư sinh sống, khai thác, nuôi trồng hải sản và các điểm du lịch. Ngoài ra, công tác quản lý môi trường cần được quan tâm nhiều hơn nữa nhằm giảm thiểu các tác nhân gây ÔNMT ra vùng biển của ba xã đảo.

Lời cảm ơn

   Nhóm tác giả xin bày tỏ lời cảm ơn tới đề tài: “Nghiên cứu xây dựng mô hình KTX cho một số xã đảo tiêu biểu ven bờ Việt Nam”, mã số KC.08.09/16-20 đã hỗ trợ thực hiện nghiên cứu này.

 

Lê Xuân Sinh1, Nguyễn Văn Bách1
1Viện Tài nguyên và Môi trường biển

(Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Môi trường, số Chuyên đề Tiếng Việt III năm 2018)

 

Tài liệu tham khảo

  1. Lê Huy Bá, 2008. Độc học môi trường cơ bản, NXB ĐHQG TP HCM, tr. 165-187.
  2. Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2015. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước biển - QCVN 10-MT:2015/BTNMT, Hà Nội.
  3. Trương Quang Học, Hoàng Văn Thắng, 2013. KTX, con đường phát triển bền vững trong bối cảnh biển đổi khí hậu. Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, Đại học Quốc gia Hà Nội.
  4. TCVN 5998-1995 (ISO 5667-9: L992) – Chất lượng nước. Lấy mẫu, hướng dẫn lấy mẫu nước biển.
  5. TCVN 6193: 1996 (ISO 8288: 1986 (E) – Chất lượng nước – Xác định Coban, Niken, Đồng, Kẽm, Cadimi và Chì – Phương pháp trắc phổ hấp thụ nguyên tử ngọn lửa.
  6. Thông tư số 10/2007/TT-BTNMT – Hướng dẫn bảo đảm chất lượng và kiểm soát chất lượng trong quan trắc môi trường.
  7. Thủ tướng Chính phủ, 2012. Quyết định số 432/QĐ-TTg ngày 12/4/2012 về phê duyệt Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020.
  8. UNEP, 2011. Towards a Green Economy: Pathways to Sustainable Development and Poverty Eradication – A Synthesis for Policy Market.

 

Assessment of heavy metal concentration (copper, lead and zinc) in the seawater environment in typical coastal island communes

Lê Xuân Sinh, Nguyễn Văn Bách1

1Institute of Marine Environment and Resources (IMER)

Abtract:

   Three coastal island communes of Viet Hai, Nhon Chau and Nam Du have distinct characteristics of geographic location, natural conditions and socio-economic characteristics representing three regions of Vietnam. The common characteristics of three coastal island communes are that they have an important defense and security location, relatively untouched natural conditions, undeveloped economies and are affected by environmental pollution, including heavy metal pollution. In general, the quality of seawater environment in three island communes is quite good. The concentration of heavy metals (Cu, Pb, and Zn) in seawater samples are within the limits of the Vietnamese Standards. Mean values ​​of Cu and Zn content in seawater of Nam Du commune were highest in three study areas. Meanwhile, mean value of Pb content in seawater was highest in Nhon Chau commune. In all three studied areas, the heavy metal content (Cu, Pb and Zn) in the bottom water sample was higher than the surface water. Materials in this article originate from the results of the project KC.08.09/16-20: "Research on building green economy model for some typical island communes in the coast of Vietnam" by PhD Sinh Le Xuan (Institute of Marine Environment and Resources).

Keywords: Heavy metals, copper, lead, zinc, coastal island communes, Vietnam.

 

Thống kê

Lượt truy cập: 1232041